Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

NHÀ VĂN DIÊM LIÊN KHOA – NHÀ THƯ PHÁP CỦA ‘LỐI CHỮ ĐƯỜNG PHỐ’ VÀ NHỮNG CHIA SẺ VỀ NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP

Diêm Liên Khoa – nhà văn có lập trường nhất, và gây tranh cãi nhất của Trung Quốc – sinh năm 1958 tại huyện Tung, Hà Nam, năm 1980 bắt đầu xuất bản tác phẩm đầu tay. Các tác phẩm chủ yếu của ông có: “Thụ hoạt”, “Nhật quang lưu niên”, “Vì nhân dân phục vụ”, “Đinh trang mộng”, “Phong nhã tụng”, “Tứ thư” … Ông từng giành giải thưởng Bách Hoa của Tiểu thuyết nguyệt báo, giải thưởng văn học Lỗ Tấn, đề cử giải thưởng văn học Devin của Anh quốc. Tháng 5/2014 ông đã giành được giải thưởng văn học Kafka, gây tiếng vang trên văn đàn thế giới. Là một nhà văn Trung Quốc nổi tiếng trên phạm vi toàn thế giới, nhưng Diêm Liên Khoa cũng là một người rất có thành tựu trong lĩnh vực thư pháp.
Phóng viên tạp chí “Bắc Kinh Lữ Du” đã có một cuộc  trò chuyện với nhà văn Diêm Liên Khoa về vấn đề thư pháp. Trong cuộc trò chuyện, qua những câu trả lời của mình, ông đã thể hiện là một con người vô cùng khiêm tốn trong nghệ thuật. Vì biết rõ, hiểu rõ,  nên ông đã từ chối danh xưng “thư pháp gia”, và tự trào gọi lối chữ thư pháp của mình là “lối chữ đường phố”, và bày tỏ lo lắng cho hiện trạng thư pháp Trung Quốc, tất cả những điều ấy đều khiến người ta phải kính phục.
Người viết  cho rằng, những câu trả lời của Diêm Liên Khoa về lĩnh vực thư pháp, là rất riêng, không cần có bất cứ một chỉnh lý gì. Vì thế, xin ghi chép lại đúng như những gì ông nói, để độc giả được hiểu thêm một cách chân thực nhất về nhà thư pháp khiêm tốn và hóm hỉnh ấy. Có lẽ, như thế, cũng là sự tôn trọng lớn nhất đối với con người ấy, thư pháp ấy, tinh thần ấy, cũng như những độc giả mến mộ ông.
(Nhà văn Diêm Liên Khoa)

Phóng viên (PV)
: Trong con mắt mọi người, ông là một nhà văn nổi tiếng, nhưng với vai trò là một nhà thư pháp thì lại rất ít người biết, xin hỏi ông đã tiếp xúc và nghiên cứu thư pháp từ khi nào?
Diêm Liên Khoa (DLK): Tôi rất lấy làm thẹn khi gọi những chữ mà tôi dùng bút lông viết ra là “Thư Pháp”. “Thư” và “Pháp” đó là sự kết hợp giữa học thức và phương pháp. Nhưng trong những cái gọi là thư pháp của tôi, đã chẳng có học thức, mà cũng không có phương pháp, chỉ là một dạng dùng bút lông bôi vẽ những chữ khối vuông. Mà nói theo một cách dễ nghe nhất, nên nói rằng lối bôi vẽ ấy là một kiểu viết lách nhàn tản vô vi mà tôi đã đổi dùng một loại giấy bút khác. Nói đến thời gian bắt đầu của kiểu viết lách ấy, thì là vào mấy năm trước, là thời gian mà tôi còn ở “Nhà số 711”. Một người bạn thân khi đến thăm tôi, thấy quang cảnh nhàn tản ấy của tôi, lại thấy tôi vẫn còn rất nhiều thời gian rảnh rỗi, mới nói: anh ở đây luyện tập thư pháp đi. Rồi, trong lần thứ hai anh ấy tới, quả nhiên bèn mang bút lông, mực, và giấy xuyến tới cho tôi thật. Tôi cũng nhân đó bắt đầu với kiểu viết lách nhàn tản bằng bút lông ấy.

PV: Sáng tác thư pháp cần có thời gian dài luyện tập, ông lại còn phải hao tổn rất nhiều tâm huyết cho sáng tác các tác phẩm văn học. Vậy thì bình thường ông sắp xếp thời gian cho việc sáng tác thư pháp của mình thế nào?
DLK: Tôi trước nay chưa từng sắp xếp thời gian luyện tập của mình một cách có kế hoạch và phương pháp bao giờ. Gọi là luyện tập, chỉ là khi nhàn rỗi đến buồn tẻ, tâm ý nảy ra, thì liền cầm lấy bút viết ra mấy chữ, mười mấy chữ bằng bút lông. Nhưng cùng với thời gian lâu dài, tôi phát hiện ra việc viết chữ bằng bút lông và viết chữ bằng bút máy của mình có một sự truyền thừa liền mạch, nối tiếp với nhau . Ví dụ như, nếu hôm nay tôi bắt đầu viết tiểu thuyết hay tản văn ở nhà, sau khi viết lách, hứng thú vẫn còn, thì tôi bèn bỏ bút máy xuống, cầm bút lông lên viết một lúc; còn nếu như hôm nay không viết lách gì, không có việc tay cầm bút máy viết ra hai ngàn chữ bản thảo ấy, thì tôi cũng rất ít khi chủ động cầm bút lông lên mà viết một lúc như vậy.
Thiên thượng, địa hạ, nhân tại trung
(Trời trên, đất dưới, người ở giữa)
- Thư pháp Diêm Liên Khoa

PV: Khi mới bước chân vào lĩnh vực thư pháp, ông có sùng bái một vị danh gia tiền bối nào không?
DLK: Trong lĩnh vực thư pháp với lịch sử lâu dài và vĩ nhân như biển, tôi không có thần tượng, không sùng bái một ai. Vì sao lại như thế? Là bởi vì tôi không biết rõ về họ, cũng giống như một sinh viên công nghệ không hiểu biết một cách thực sự, ngọn ngành về Tào Tuyết Cần và Lỗ Tấn vậy. Nói một cách khác, một minh tinh màn bạc vĩ đại, cũng không hề có ý nghĩa gì với một người nông dân cả đời chỉ cày cấy trên đồng ruộng. Mà tôi, lại chính là một người nông dân trước nay chưa từng xem phim bao giờ.

PV: Tự thể chữ Hán rất đa dạng, như: Khải thư, Thảo thư, Lệ thư, Hành thư …. Ông thích thể chữ nào nhất? Thể chữ mà ông thích, có điểm gì hấp dẫn ông?
DLK: Mấy câu hỏi này, càng hỏi càng đi sâu, giống như cạm bẫy càng ngày càng nhiều. Nếu nhất định bắt tôi phải nói ra một thư thể mà tôi thích nhất, thì tôi xin nói là: tôi thích lối chữ “đường phố”. Tôi thích nhất là đi trên phố nhìn hết bên nọ lại bên kia, hôm nay trông thấy trên tấm biển hiệu bên trái đường có một nét “hoành” không tệ, có phong cách riêng mà chỉ nhà ấy có, tôi liền ghi nhớ lấy nét hoành ấy; Ngày mai lại trông thấy trên câu đối ở cửa nhà bên phải đường có một nét “sổ” rất đẹp, độc nhất vô nhị, ít gặp ít thấy, thế là tôi liền ghi nhớ lấy nét sổ ấy, khi về đến nhà tôi bèn nghĩ đem nét sổ ấy với nét hoành kia kết hợp lai với nhau, xem xem nó có hiệu quả và thể hiện như thế nào, hoặc cũng có khi có thêm một chút cải tạo và sửa chữa riêng mình. Cho nên nói, không có ai hấp dẫn tôi, chỉ có “lối chữ đường phố” khiến tôi cảm thấy hứng thú.
Thần Thực Chủ Nghĩa
(Chủ nghĩa hiện thực hoang đường- quan điểm nghệ thuật 
của Diêm Liên Khoa)

PV: Ngoài nghề xem biểu hiện, trong nghề xem kỹ năng. Kiến thức về viết chữ bố cục hàng lối bao la vạn tượng, chỉ có những nhà thư pháp có bồi dưỡng văn hóa phong phú, mới có thể viết soạn ra những bức thư pháp khiến người ta phải kinh ngạc. Ông cho là thế nào?
DLK: Tôi là một người tương đối cá nhân, khép kín, tôi không hề quan tâm một chút nào tới thư pháp của người khác, cũng như những nhà thư pháp khác. Tôi chỉ quan tâm đến việc sáng tác và sáng tạo chữ nghĩa của mình. Trong những lúc rảnh rỗi ngoài việc sáng tác và sáng tạo ấy, tôi hy vọng mình có thể viết ra mấy chữ bút lông rất cá nhân, không giống ai của mình. Chí thể thôi. Cũng giống hệt như cách nhìn nhận về văn học của mình, tôi chỉ quan tâm bản thân mình viết ra được những tiểu thuyết riêng có như thế nào, còn  những cái khác tôi đều không quá quan tâm. Quay trở lại với thư pháp, tôi cũng dường như không hề quan tâm bất cứ cái gì, chỉ cần cảm thấy trong thời khắc mình cầm cây bút lông lên, bản thân thấy vui thích là được, còn những cái khác với tôi đều không quan trọng.

PV: Trong chuyện của Thiền tông, ngắm núi có ba đại cảnh giới, tức là; “ngắm núi là núi, ngắm núi không phải là núi, ngắm núi lại là núi”. Thư pháp phải chăng cũng có cảnh giới tương tự như vậy? Xin ông chia sẻ một chút tâm đắc trong sáng tác thư pháp của mình.
DLK: Lý luận về “ngắm núi” của Thiền tông, là phương pháp luận nhận thức thế giới rất tuyệt vời, một câu “ngắm núi là núi, ngắm núi không phải là núi, ngắm núi lại là núi”, đã bao gồm hết vào trong nó cảnh giới và quá trình của tất cả các loại hình nghệ thuật trên thế giới. Văn học, điện ảnh, hội họa, rồi ngay cả cắt giấy, cắm hoa, có loại hình nghệ thuật nào muốn bước lên cảnh giới tối cao mà chẳng phải đi qua con đường duy nhất “là – không là – lại là”? Thư pháp là một loại hình nghệ thật cổ xưa nhất của Trung Quốc, thì làm sao có thể xa rời quỹ đạo cảnh giới ấy được? Chỉ có điều, đối với một kẻ ngu như tôi, phần lớn đều chỉ dừng lại ở chỗ bắt đầu “ngắm núi là núi”, chứ ngay đến việc hướng tới giữa con đường “ngắm núi không phải là núi” cũng đã khó tiếp cận và phát hiện, chứ nói gì đến cảnh giới cuối cùng “ngắm núi lại là núi”. Hơn nữa, tôi cũng luôn luôn nghĩ, tất cả các loại hình nghệ thuật đạt đến “ngắm núi lại là núi” thì là đã đến cảnh giới tối cao ư? Lẽ nào một loại hình nghệ thuật nào đó sau khi đến được cảnh giới “ngắm núi lại là núi”, thì sẽ không trở về lại vòng tuần hoàn “là – không là – lại là” thứ hai, thứ ba ư? Picasso trong quá trình sáng tác cả đời mình, lẽ nào không có sự truy cầu vòng tuần hoàn thứ hai ấy của mình ư?
Nhất mặc giang hà lưu;
Văn chương thiên hạ tú

PV: Chúng ta đều biết rằng, khác với những người khác ông có một thời gian dài sống trong quân ngũ. Đoạn đời ấy, có ảnh hưởng thế nào với thư pháp của ông?
DLK: Tôi cho rằng, không có ảnh hưởng gì cả. Những cái gọi là thư pháp của tôi, chỉ là trong ngẫu nhiên mà bắt đầu, và rất có thể lại trong ngẫu nhiên đứt đoạn.  Tất cả đều là hứng thú gầy nên. Nếu như có một ngày tôi mất đi hứng thú với nó, thì có lẽ những “văn tự bút lông” này, cũng sẽ tự nhiên dừng lại.

PV: Hiện nay, chúng ta thấy ở rất nhiều khu thắng cảnh của Trung Quốc, phần lớn đều còn lưu lại di tích thư pháp của tiền nhân, như Đỗ Phủ ở Thái Sơn, Lý Bạch ở Hoàng Hạc Lâu… Những thư pháp của cổ nhân này đã giúp tăng thêm nhiều màu sắc cho thắng cảnh, điều đó phải chăng là giữa thư pháp và du lịch có mối quan hệ với nhau. Ông có nhìn nhận thế nào về vấn đề này?
DLK: Tôi không cho rằng thư pháp và du lịch có mối quan hệ gì. Bởi vì, khi thư pháp là một sự tồn tại của thẩm mỹ, thì nó đã có tính đại chúng rồi. Và một khi thẩm mỹ đã có tính đại chúng, thì tất nhiên được xuất hiện và mở ra ở những nơi có nhiều người. Những tác phẩm thư pháp ở những thắng cảnh du lịch xưa nay, chỉ là một trong những phương pháp để mọi người xem đọc. Bất luận là thư pháp giúp tô điểm thêm cho du lịch, hay thắng cảnh giúp tăng thêm màu sắc cho hình thức xem đọc ấy, thì nó đều là một phương pháp để thẩm mỹ hướng đến đại chúng. Bản thân thư pháp hoàn toàn không phải vì du lịch mà tồn tại, và chính du lịch đã tăng thêm việc “xem đọc thư pháp” mà thôi. Như thế mà nói, tác phẩm của một nhà thư pháp xuất hiện quá nhiều ở một thắng cảnh thì không thể không nói rằng đó là một nỗi đau buồn và tổn thương, giống như tiểu thuyết của Murakami Haruki, đã gây ra quá nhiều nỗi đau buồn của độc giả.
Tả hữu thập lý mai;
Hà nhân đê đầu hành?
(Đôi bên mười dặm bụi;
Ai kẻ cúi đầu đi?)

PV: Xem khắp các tác phẩm thư pháp của hậu thế, thì phần lớn là bắt chước những danh gia đời trước. Xin hỏi ông, kiểu bắt chước ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với sự truyền thừa của thư pháp?
DLK: Sáng tạo đều bắt đầu từ bắt chước. Trong bất kỳ một môn nghệ thuật nào hiện nay, nếu không có bắt chước thì không có sáng tạo. Cũng như trẻ nhỏ mới học nói, nếu không bắt chước nói theo cha mẹ, thì có thể sẽ trở thành một người câm. Nhưng sau khi đứa bé ấy lớn lên rồi, làm thế nào để thoát khỏi  phương thức ngôn ngữ của cha mẹ, người khác, và xã hội, để hình thành nên tư duy và biểu đạt của mình, thì đó mới là quan trọng. Tất cả những bậc trí giả thành tài, chẳng ai không có một tư duy và biểu đạt riêng của mình. Cho nên, chúng ta không sợ bắt chước, mà cái đáng sợ là không có khả năng thoát ra và hình thành một sự tái sinh mới.

PV: Trong con mắt và suy nghĩ của người nước ngoài, thư pháp là dấu hiệu số một của văn hóa Trung Quốc, vượt qua cả Trường Thành và Kinh kịch. Ông nhìn nhận hiện tượng này như thế nào? Ngoài ra, càng ngày càng nhiều người nước ngoài bắt đầu học thư pháp Trung Quốc, chúng ta nên làm thế nào để họ hiểu biết, và học tập thư pháp? Chúng ta cần phải có sự gia công như thế nào đối với thư pháp? Xin nói một chút ý kiến của ông.
DLK: Tôi không quan tâm đến việc người nước ngoài coi thư pháp Trung Quốc thế nào, mà quan tâm hơn đến việc người Trung Quốc coi thư pháp thế nào. Ví dụ những em thế hệ 8X, 9X hiện nay, vừa lớn lên thì đều đã sử dụng máy tính và bút máy, rất ít khi cầm đến cây bút lông, như vậy thì chúng có còn cảm giác với thư pháp không? Nếu như một thế hệ, vài thế hệ đều không có cảm giác với thư pháp nữa, thì thư pháp còn có thể tồn tại và còn có lý do tất yếu để tồn tại không? Cũng như hiện nay mọi người đang kêu gọi “cứu lấy Kinh kịch và kịch địa phương”, nếu như đến một ngày thư pháp cũng giống như Côn khúc trở thành “Di sản văn hóa phi vật thể” của UNESCO, thì đó mới là bi kịch thực sự của thư pháp. Trung Quốc có một tỉ mấy trăm triệu người mà không có mấy người học tốt được thư pháp của chính mình, thì anh dựa vào đâu để hy vọng những người bất đồng về ngôn ngữ, bất đồng về bối cảnh văn hóa có thể học tốt được thư pháp của anh đây! Thư pháp ở Trung Quốc hiện nay, không cần bất cứ một thứ bao bì và công nghệ nào, mà là cần có nhiều người yêu thích hơn nữa. Có tình yêu, thì sẽ có tất cả./.

Châu Hải Đường dịch

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2019

Tranh Chuột của Tề Bạch Thạch


Tề Bạch Thạch tên thật Tề Hoàng, là một họa sĩ vẽ tranh thủy mặc nổi tiếng Trung Quốc. Riêng về vẽ động vật,Tề Bạch Thạch thường được biết đến với biệt tài vẽ tôm, hay côn trùng. Tuy nhiên, vẽ chuột cũng là một mảng trong đề tài vẽ tranh của ông, trong đó chủ yếu nhất là những tranh ông vẽ chuột ăn vụng dầu (thực vật) dùng đốt đèn, chuột gặm sáp nến, và chuột gặm sách.
Trong tranh thủy mặc, một trong những phần khiến tôi chú ý đến, đó là những lời đề từ trên tranh. Đọc những lời đề từ ấy thường giúp ta hiểu thêm về ý tứ của tác giả, bối cảnh sáng tác, cũng như nhiều câu chuyện liên quan đến bức tranh. Đề từ trên tranh chuột của Tề Bạch Thạch cũng vậy. Dưới đây xin giới thiệu tới các bạn một số bức tranh vẽ chuột cùng lời đề từ trên tranh của ông. 


1. Dư nhất nhật họa “Thử tử náo sơn quán đồ”, vị hương nhân thiết chi tụ khứ. Sở thất Sở đắc, hà túc tại hoài? Toại thủ chỉ khoái thành thử bức. Bạch Thạch tịnh ký.
(Một hôm tôi vẽ bức tranh “Đàn chuột náo loạn sơn quán”, bị hương nhân lấy trộm giấu vào tay áo đem đi mất. ‘Người Sở mất cung, người Sở lại được cung’, có gì đáng phải để tâm? Bèn lấy giấy vẽ nhanh được bức tranh này. Bạch Thạch viết.)


2. Nhất nhật họa thử tử khiết thư đồ, vi đồng hương nhân bội dư tụ khứ. Dư tự phả hỉ chi. Toại thủ chỉ truy mô nhị bức, thử đệ nhị dã. Thời cư cố đô tây thành, Thái Bình kiều ngoại. Bạch Thạch sơn ông Tề Hoàng tịnh ký.
(Một lần tôi vẽ bức tranh chuột gặm sách, bị người cùng quê bội phản mình dấu vào tay áo mang đi mất. Nhưng tôi lại tự lấy làm vui, bèn lấy giấy nhớ lại mô phỏng vẽ hai bức, đây là bức thứ hai vậy. Khi ấy, tôi ở ngoài cầu Thái Bình, phía tây cố đô. Bạch Thạch sơn ông Tề Hoàng đề.)


3. Tạc dạ sàng tiền điểm đăng tảo; Đãi ngã giải y vị thụy đảo. Hàn môn chỉ đả nhất tiền du; Na năng cung đắc thử tử bão? Trị đắc miêu nhi tiễu tiễu lai; Dĩ kinh du tận đăng khô liễu. Bạch Thạch lão nhân bát thập ngũ tuế thời họa vu Kinh hoa thành tây, Thái Bình kiều ngoại.
(Tối qua trước giường thắp đèn sớm; Đợi ta cởi áo mắt chưa chợp. Nhà nghèo chỉ mua một tiền dầu; Lấy đâu cho chuột ăn no được? Tới lúc mèo kia lặng tới nơi; Thì dầu đã cạn đèn đã khô rồi.  Bạch Thạch Lão Nhân vẽ ở ngoài cầu Thái Bình, phía tây kinh thành lúc 85 tuổi)


4. Tạc dạ sàng tiền điểm đăng tảo; Đãi ngã giải y vị thụy đảo. Hàn môn chỉ đả nhất tiền du; Na năng cung đắc thử tử bão? Hà thời khất đắc miêu nhi lai; Du tận đăng khô thiên bất hiểu. Tá Sơn ngâm quán chủ giả Tề Hoàng họa, đề cựu cú.)
(Tối qua trước giường thắp đèn sớm; Đợi ta cởi áo mắt chưa chợp. Nhà nghèo chỉ mua một tiền dầu; Lấy đâu cho chuột ăn no được? Khi nào xin được chú mèo về; Dầu cạn đèn khô trời chửa sáng.  Chủ nhân Tá Sơn Ngâm quán Tề Hoàng vẽ, đề câu thơ cũ.) 
Có thể thấy, bài thơ này so với bài thơ ở bức trên đã sai khác vài chữ. 


5. Lạp chúc quang minh như bạch trú; Bất sầu nhân kiến khải vi thâu? Bát thập cửu Bạch Thạch
(Nến thắp sáng rờ rỡ như ban ngày; Chẳng sợ người thấy há lại là ăn trộm? Bạch Thạch 89 tuổi).


6. Thử “Thử tử khiết thư đồ” vị gia nhân y dạng các họa nhất bức. Tự yếm lôi đồng, cố ký cập chi. Ất hợi, Bạch Thạch sơn ông.
(Bức tranh Chuột gặm sách này, (tôi) vẽ cho người nhà mỗi người một bức, tự lấy làm ớn vì giống nhau, cho nên ghi vào đây. Năm Ất Hợi, Bạch Thạch Sơn ông.) 


7. Tam bách thạch ấn phú ông - Tề Bạch Thạch khách Kinh hoa đệ trấp hựu bát niên.
(Phú Ông 300 Ấn Đá – Tề Bạch Thạch khách cư ở kinh đô năm thứ hai mươi tám.)


8. Tá Sơn Ngâm Quán chủ giả Bạch Thạch
(Chủ nhân Tá Sơn Ngâm Quán – Bạch Thạch)

07.5.2019
Châu Hải Đường 

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2019

Tráng Tử (Chàng ngốc)


Tạ Mai Trang tự Tế Thế, khi làm chức Hàn lâm, mướn ba người ở: một người giảo hoạt, một người thật thà, một người ngốc nghếch. Gặp dịp các vị cùng làm trong quán đến Tạ gia mở hội Thù du nhân tiết Trùng cửu, thưởng cúc, ăn cua, chủ khách cùng vui thỏa chí. Rượu uống đã ngà say, một vị khách nói: “Chúng ta hết hứng rồi. Gọi đâu được mấy đứa ca kỹ đến đây trợ tửu nhỉ?” Tên giảo hoạt nói: “Có!” Lại sợ tên ngốc kia làm rối loạn hỏng việc, bèn xin chủ nhân kiếm việc gì cho hắn đi chỗ khác, đồng thời bảo tên thật thà ra canh cửa, còn mình thì đích thân đi tìm ca kỹ. Tên giảo hoạt còn chưa về tới nơi, tên ngốc đã quay về rồi. Trông thấy hai nàng ca kỹ ôm đàn tì bà, dẫn theo bốn năm đứa nhỏ đang đứng trước cổng, liền lấy làm lạ, hỏi: “Chúng mày đến đây làm gì?” Tên giảo hoạt nói: “Phụng mệnh chủ nhân mời họ đến.” Tên ngốc trừng mắt lớn tiếng quát bảo: “Ta ở dưới cửa ngài mười mấy năm nay, chưa từng thấy hạng người này ra vào bao giờ, chủ nhân nhất định là uống say rồi nên mới bảo thế.” Bèn vung nắm đấm, đuổi đám ca kỹ đi hết. Khách khứa kéo nhau tan về, Tạ Tế Thế vô cùng bực mình với tên đày tớ ngốc ấy.
Một tối, Tạ Tế Thế đốt nến, uống rượu soạn sách. Khí trời rất lạnh, bình rượu đã dốc cạn, mà mặt mũi chưa thấy ấm hồng lên. Tên đày tớ giảo hoạt đưa mắt ra hiệu cho tên thật thà lại đi mua thêm rượu. Lúc mua rượu về, nửa đường thì gặp tên đày tớ ngốc. Tên ngốc đoạt lấy bình rượu, về đến nhà khuyên ngăn Tạ Tế Thế rằng: “Hôm nay hai bình, ngày mai ba bình, chỉ có tăng chứ không có giảm. Mua nhiều thì tốn tiền, uống nhiều thì tổn sức, chỉ có hại chứ không ích gì.” Tạ Tế Thế đành miễn cưỡng nghe theo lời hắn mà thôi không uống nữa.

Sau Tạ Tế Thế đổi nhậm chức ngự sử, một buổi vào chầu sớm, bảo thư đồng cầm đèn, dầu trong đèn đổ ra làm bẩn cả triều phục của Tạ. Tên đày tớ giảo hoạt dậm chân bảo: “Đúng là không tốt lành!” Tạ Tế Thế nhân thế nổi giận, sai tên đày tớ thật thà đánh đòn thư đồng, tên ngốc liền tiến lên ngăn lại, lại khuyên bảo: “Tôi từng nghe chủ nhân nói, cổ xưa từng có người bị đày tớ làm đổ canh vào áo, để nến cháy râu, nhưng không hề cáu giận, lẽ nào chủ nhân lại chỉ có thể nói mà không thể làm như vậy ư?” Tạ Tế Thế chuyển cơn giận sang tên ngốc, bảo: “Ngươi muốn được tiếng là chính trực hả, hay là muốn ra ân với người để hòng được báo đáp?” Tên ngốc đáp bảo: “Những cái ấy tôi đều không dám. Ân huệ là ân huệ của chủ nhân, chứ đày tớ thì có ân huệ gì? Tôi chỉ học theo cách ngu trung, nhưng chủ nhân lại nói tôi muốn được tiếng chính trực. Hiện nay chủ nhân làm chức gián quan, ngày sau quỳ trước sập rồng nói điều phải trái với hoàng đế, ở chốn triều ban tranh việc được hay không được với đại thần, coi việc mất ấn thụ chả khác gì mất đôi giày rách, cam chịu việc biếm trích như được về nhà, lẽ nào chủ nhân cũng là vì muốn lấy tiếng ngay thẳng mà làm ư? Người khác cũng cho rằng chủ nhân là vì muốn được tiếng trung trực mà làm ư?” Tạ Tế Thế không đáp lại được, ngoài mặt thì cảm tạ, mà trong tâm thì càng thêm tức giận hắn. Từ đó, tên đày tớ giảo hoạt liền thừa cơ, ngày đêm tìm kiếm lỗi của tên đày tớ ngốc, xúi bẩy tên thật thà cùng bẩm chuyện thị phi với Tạ Tế Thế, khuyên chủ nhân đuổi tên ngốc đi.
Về sau, gặp lúc Tạ Tế Thế nhân bị tội phải hạ ngục, nhưng tội còn chưa định, không lâu sau lại phụng mệnh đi lính ra biên ải. Lúc ra khỏi ngục sửa soạn hành trang để đi, thì tên đày tớ giảo hoạt trốn đi mất, tên đày tớ thật thà cũng ra sức xin được cho đi nơi khác, chỉ có tên đày tớ ngốc phủi tay áo, tiến lên bẩm: “Bây giờ là lúc chủ của ta báo quốc, cũng là lúc chúng ta báo ơn chủ! Nô tài xin đi cùng!” Bèn mua ngựa đóng xe, may màn đệm, chuẩn bị lương thảo, cùng đi với Tạ. Tạ Tế Thế thấy vậy thì chợt thở dài bảo: “Ta xưa nay luôn cho rằng đứa giảo hoạt có ích, đứa thật thà có thể dùng. Bây giờ mới biết rằng, đứa giảo hoạt có ích nhưng không thể dùng, mà đứa ngốc thì có thể dùng; Đứa thật thà có thể dùng nhưng kỳ thực thì vô dụng, mà đứa ngốc thì lại hữu dụng!” Bèn nhận tên ngốc làm nghĩa tử, đặt tên là Tráng Tử.
Đến nơi quân doanh, chưa được bao lâu, tiền bạc đã tiêu hết, chỉ còn cách bán cả áo da, ngựa tốt đi. Thời gian lâu dài, dần dà không nghĩ ra được cách gì nữa. Tráng Tử hàng ngày phải vác súng, đi xa hơn mười dặm, săn bắn hươu nai, lợn thỏ, để lo bữa cho Tạ Tế Thế. Một hôm, Tráng Tử vì đuổi theo một con hươu chui vào trong bụi cỏ rậm, một lát bị vướng ngã, thấy chân lún sâu xuống đất đến hơn một thước. Rút được chân lên nhìn xuống, thấy dưới hố đất cát có ánh kim loại trắng lấp loáng. Đếm thử xem, thấy có đến hai chục khối lớn, phải đến một ngàn lạng, bèn lấy ra mang về. Tạ Tế Thế đem việc ấy báo lên tướng quân. Tướng quân nghe xong rất kinh ngạc, hỏi rõ duyên do, mới biết là do Tráng Tử phát hiện ra, liền vỗ đùi nói: “Giữa chốn sa mạc, làm gì có vàng bạc giấu? Đó là ông trời ban cho để khen thưởng cho đứa nghĩa bộc của ông đấy!” Bèn đem vàng ấy trả lại cho Tạ Tế Thế. Tạ gọi Tráng Tử lại, thưởng cho nó áo cừu, dê ngựa, và mười lạng vàng. Từ đó, những vương hầu ngoài ải đều đặc biệt tôn kính Tạ Tế Thế.
Đến khi Tạ được xá tội cho về, đến vùng Hồ Tương làm quan, Tráng Tử lại khuyên ông mạnh dạn lui bước. Tạ Tế Thế bèn từ quan, ẩn cư trong chốn lâm tuyền, di dưỡng tuổi trời. Tráng Tử sống đến chín mươi tuổi, không bệnh mà mất. Mọi người đều cho rằng đó là vì trung nghĩa mà được báo đáp.
(Trích trong "Dạ Đàm Tùy Lục")

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

Chuyện Ngày Giáp Tết Của Một Hàn Sĩ Dưới Ngòi Bút Châm Biếm Của Hòa Bang Ngạch


“Dạ Đàm Tùy Lục” của Hòa bang Ngạch được khắc in lần đầu vào năm Kỷ Hợi niên hiệu Càn Long (1779), có lẽ vì thế chăng, mà dù đã được dịch và biên tập xong từ lâu, nhưng phải đến Tết năm Kỷ Hợi 2019 được “vấn thế” một cách tòa diện (toàn bản). Một điểm trùng hợp ngẫu nhiên nữa là, truyện đầu tiên của tác phẩm – truyện “Thôi Tú Tài” cũng lại là một truyện mà trường đoạn chủ yếu nhất của nó là viết về tình cảnh của một kẻ hàn nho trong những ngày giáp Tết. Và câu chuyện có thể nói là một trong những minh chứng cho chủ trương của tác phẩm, mà như trong lời giới thiệu đầu cuốn sách đã nói, khi so sánh nó với “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh, rằng:
“Nếu đem so sánh, giữa “Liêu Trai Chí Dị” và “Dạ Đàm Tùy Lục”, thì cả hai tuy cùng là những chuyện truyền kỳ chí quái nói về ma quỷ hồ ly, nhưng xét về mặt phản ánh cuộc sống, phê phán hiện thực thì mỗi tác phẩm lại có một đặc sắc khác nhau. Trong “Dạ Đàm Tùy Lục”, việc vạch trần và phê phán những mặt xấu xa của hiện thực thường cao hơn hẳn việc miêu tả và hướng đến một thế giới lý tưởng đẹp đẽ ảo tưởng. Do vậy, nếu như nói “Liêu Trai Chí Dị” phần nhiều là thể hiện một vẻ đẹp lý tưởng của chủ nghĩa ly kỳ lãng mạn, thì “Dạ Đàm Tùy Lục” lại bộc lộ nhiều hơn một không khí hung bạo của chủ nghĩa hiện thực thô sơ.”
Mời các bạn thưởng thức một đoạn trong truyện “Thôi Tú Tài” – truyện đầu tiên của tác phẩm “Dạ Đàm Tùy Lục”, để có thể thấy phần nào ngòi bút châm biếm hiện thực sâu cay của Hòa Bang Ngạch.


"Bậc tiên hiền ở phủ Phụng Thiên là Lưu công, từ khi chưa hiển đạt, vốn vẫn là con nhà thế gia. Khi còn tuổi trẻ, tính phóng khoáng hiếu khách, tiêu pha không bao giờ bủn xỉn, xe ngựa dập dìu, trước nhà lúc nào cũng đông như chợ, người qua lại ai cũng phải ngưỡng mộ, dù là Mạnh Thường quân nước Tề, Bình Nguyên quân nước Triệu cũng không hơn được.
Một hôm có vị khách là Thôi Nguyên Tố đến đưa danh thiếp, Lưu tiếp kiến, hỏi đến gia thế, bản quán, Thôi đáp: “Tôi là tú tài ở Lâm Cù, Sơn Đông, lên kinh đô đã hai mươi năm rồi. Nghe nói ngài vốn hiếu khách, nên đến làm thực khách vậy.” Lưu mừng lắm, hai bên cùng qua lại với nhau, thỉnh thoảng lại chu cấp cho tiền gạo. Thôi cứ độ mươi ngày lại đến, đến lần nào cũng vay mượn, người nhà đều ghét là kẻ nghèo hèn, riêng Lưu không lấy làm phiền, lần nào cũng cho được như ý, chưa từng trái bao giờ. Cứ như vậy đã hơn hai năm.
Bỗng nhà Lưu gặp liền mấy biến cố lớn, của cải mất gần hết. Lại ba năm nữa, thì nghèo đến không còn gì. Lại đi thi mấy bận không đỗ, thân cố ai nấy đều coi thường, đem chuyện được mất lỗi lầm của Lưu làm kể truyền miệng lẫn nhau, dần dần đến độ không gặp gỡ hỏi thăm nữa. Nô bộc trong nhà Lưu cũng bỏ đi, luôn luôn có kẻ cố ý phạm lỗi để mong bị đuổi, cuối cùng chỉ còn lại một người lão bộc. Trong nhà Lưu cũng chỉ có một vợ, một con trai, một con gái mà thôi.
Gặp dịp tháng Chạp sắp hết, mà nhà Lưu chỉ có áo trâu, vại rỗng, không có gì để đón năm mới.  Người con gái giỏi làm thơ, đùa ngâm rằng:
Chết buồn mưa tuyết mấy hôm liền;
Bông vón xui ai khắp chốn tìm.
Tết đến mà như Hàn Thực tiết;          
Trong bếp vì chưng cũng cấm yên.
Lưu thấy thế cười bảo: “Bây giờ hai vai lạnh sởn da gà, nếu có thể đem nấu mà ăn, thì cũng được bữa no. Giờ nghe thơ con, thật khiến ta thấy hổ thẹn.” Nhân lại họa rằng:
Năm nay năm trước khoảng trời liền;
Trước áo cừu nay bông rách tìm.
Nhắn bảo đông quân đừng báo tết;
Xuân sang sức cạn bếp đành yên!

Vợ giận lừơm bảo: “Bạn bè quý hóa ngày xưa, cần gì là đáp ứng ngay, những kẻ đến ăn không đâu phải chỉ có một người. Nay năm hết tết đến, đến cái ăn cũng không có, còn không nghĩ tính toán cách nào, lại còn dở dói họa thơ với con, chắc là ngồi đợi chết đói, mà làm sẵn bài phúng điếu đấy hẳn?” Lưu nói: “Vậy muốn ta đi ăn trộm hay sao?” Vợ nói: “Ăn trộm cũng được! Chỉ sợ ông cũng chẳng có cái tài ấy đâu! Nhà Chu tri huyện ở ngoài cửa Thuận Thành, khi còn hoạn nạn, ông ta vốn cũng là chỗ tri giao với ông, một ngày không gặp là không chịu nổi. Nghe nói hiện nay ông ấy vì có tang mà đang ở nhà, bổng lộc sung túc, sao ông không viết thư cho ông ấy, nhờ ông ấy giúp cho trong lúc cấp bách này?”  Lưu nói: “Nếu bà không nói, thì tôi cũng quên mất.” Liền viết thư, sai lão bộc đưa đi.
Sẩm tối, ngưỡi lão bộc trở về tay không, vừa vào cửa liền chửi ngay: “Đúng là đồ táng tận lương tâm, không nên quen biết với hắn ta nữa! Mới đầu, người giữ cửa chối rằng hắn đi ra ngoài không ở nhà, tôi đã không tin. Đến khi hắn ra cửa tiễn khách, tôi gặp được rồi. Hắn trâng trâng hai mắt, cầm thư trở vào. Tôi giục giã mấy lần, mới truyền lời ra rằng bận việc, không rảnh rỗi để viết thư phúc đáp được. Chỉ có thể nhờ nói lại giùm với ông rằng ông ta hiện giờ trăm việc cần chi dùng, trong túi không có một đồng, đang còn lo không biết mượn đâu ra, thực sự không giúp được như lời ông … Kẻ táng tâm như vậy, nếu còn quen biết, chẳng phải hỏng hết danh tiết ư!” Lưu đã mong mỏi một ngày trời, tưởng rằng được như ý, nay nghe như thế, không ngăn được buồn rầu.
Vợ đay nghiến bảo: “Bạn tri giao chẳng nhờ cậy được rồi. Còn bạn thân từ thuở ấu thơ, đâu phải là quen biết sơ sài. Ông Dương ở phía bắc thành, chẳng phải là bạn thân từ thơ ấu của ông ư?” Lưu lấy làm phải, lại viết thư gửi tới. Dương từ chối rằng buôn bán thất bát, thua lỗ cả tiền vốn, không có tiền giúp. Lưu vỗ đùi than rằng: “Loại bạn bè đầu môi chót lưỡi ấy, vốn chẳng lạ gì. Muốn có người hiểu mà giúp tiền bạc, chẳng thể không nhờ những bạn đạo nghĩa.” Bèn khêu đèn viết thư, nói hết tâm can, hôm sau giao cho lão bộc đưa đến Cận công tử ở phía nam thành.
Cận công tử là hậu duệ nhà sĩ hoạn quý tộc, ruộng vườn khắp quanh kinh thành. Công tử với Lưu vốn là thế giao, vô cùng thân thiết, mỗi khi hội ngộ cùng nhau, đều tối ngày sáng đêm, bàn toàn những khí tiết trung nghĩa, đạo lớn ở đời, cùng khích lệ chỉ bảo lẫn nhau, tình nghĩa không khác huynh đệ một nhà, có thể nói là đã đứng vững chân, không theo thói tục, một lòng học theo hiền nhân đời xưa. Cận công tử xem thư xong, lập tức phúc đáp, nói: “Thẹn rằng tri kỷ thì đáng phải lập tức tuân mệnh. Nhưng tiếc rằng tâm có thừa mà lực không đủ, đành thúc thủ vô sách. Ngài chỉ cần gắng sức noi theo chí hướng, chớ nên trễ nải bỏ bê, thì có lo gì nghèo khó! Vả chăng trời sinh ra Lưu quân, tất chẳng để cho khó nhọc, ngài hãy cứ đợi chờ, nhất định sẽ có ngày đại phú quý vậy. Chỉ có điều, một kẻ hiếu nghĩa như đệ, gặp khi nguy cấp thế này, mà lại ngồi nhìn bạn tốt gặp khốn, không thể đưa tay ra cứu giúp, thực đáng hổ thẹn, riêng mong người tri kỷ lượng thứ cho vậy!” Lưu phẫn uất, ném thư xuống đất nói: “Hơ hơ! Thường ngày móc gan ruột, nói đạo đức, nào là Dương, Tả, Nhậm, Lê! Mỗi khi ông ta sinh con trai con gái, ta từng đem trăm lạng vàng đến mừng. Nay khi ta cấp bách cần tiền, lại không chịu bỏ ra một đồng, còn đem những lời viển vông ra khuyên bảo. Gọi là bạn đạo nghĩa, là như thế này sao?”
Lão bộc khuyên bảo: “Bạn bè của chủ nhân, đại để chẳng có một ai thực sự là kẻ tri tâm đâu. Trong số họ hàng thân thích của ông cũng chẳng thiếu nhà phú quý. Sao không chịu khó mất mặt một chút, liên hệ với họ xem có cách nào không?” Lưu công buồn bã than bảo: “Bằng hữu là một trong năm đạo luân thường, mà còn gọi ba bận chẳng thưa, họ hàng thân thích sơ sơ, thì có hy vọng gì?”
Trong lúc chuyện trò, chợt nghe có tiếng gõ cửa, báo rằng Thôi tú tài đến. Vợ bảo: “Hừ! Người ta đã khốn khó cùng khổ đến bước này rồi, ông ta còn đến đẽo thịt kẻ trơ xương ư? Bây giờ đến khúc xương khô cũng chả còn nữa, vẫn còn đến vạc, e là chả có chỗ mà hạ dao đâu.” …”

Trong "Dạ Đàm Tùy Lục" có thể nói ngòi bút châm biếm phê phán hiện thực của Hòa Bang Ngạch trải rộng qua rất nhiều tầng lớp, từ quan lại, tăng lữ, cường hào địa chủ cho tới học trò, nho sinh ... Mà ở mỗi một tầng lớp, mỗi một hạng người, cho đến nay dường vẫn thấy thấp thoáng đâu đây trong xã hội của chúng ta. 

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2019

THƠ HỌA VẦN & DỊCH THƠ HỌA VẦN


Khác với văn xuôi hiện đại, văn xuôi cổ trung đại Việt Nam cũng như Trung Quốc (tiểu thuyết chữ Hán) đều có không ít thơ từ, và quả thực ít nhiều là một khó khăn và thách thức cho người dịch. Dẫu rằng, như nhiều bạn chia sẻ, dù sao dịch thơ từ trong tiểu thuyết, văn xuôi có thể liến phiến, dễ dãi hơn dịch thơ ca chính thống. Nhưng có thế nào thì dịch thơ vẫn đòi hỏi phải lựa chữ tìm vần, đảm bảo niêm luật, cho nên, nhiều khi dịch thơ chẳng đáng mấy chữ, nhưng lại mất khá nhiều thời gian công sức. Riêng với tôi, tôi thường tự đặt ra một nguyên tắc với mình là:

1.      Nếu là thơ, thì có thể dịch thành thơ theo nguyên thể, hoặc lục bát hay song thất lục bát (hai loại hình sau thường dùng khi dịch thơ trường thiên). Và nếu dịch thơ tứ tuyệt, hay bát cú Đường Luật thì bắt buộc phải đảm bảo chuẩn niêm luật, đối ngẫu.

2.      Nếu là từ: bắt buộc phải dịch nguyên điệu.

Riêng bấy nhiêu đó, thực ra đã khiến nhiều người ớn ngại khi dịch thơ ca trong các tác phẩm văn học chữ Hán cổ. Chính vì vậy mà nhiều thơ ca thường bị lược bỏ bớt đi, dẫu rằng quả tình nhiều bài cũng hơi “nhiêu khê”, dài dòng. Ấy thế mà, dịch thơ trong văn chương cổ lại còn bị “nâng tầm” thêm một mức độ nữa, là Họa Vần.
Họa vần, tức là các bài thơ khác nhau dùng chung một chữ làm vần. Dịch thơ họa vần, ngay cả khi chỉ là thơ ca chuyên nghiệp, đôi khi bản dịch cũng không thể đảm bảo được cũng là bài thơ họa vần, huống chi lại là thơ từ điểm xuyết trong tiểu thuyết? Thế nhưng nếu bản dịch lại cũng đảm bảo đúng là thơ họa vần thì còn gì hơn nữa!
Tôi đã dịch một số tác phẩm văn chương cổ, mà trong đó số lượng thơ ca không hề nhỏ, đến nỗi dù là người thích thơ, nhưng nhiều khi cũng ngán hãi. Trong cuốn “Dạ Đàm Tùy Lục” mới được Nhã Nam xuất bản, có thể nói là cuốn có ít thơ, từ nhất, nhưng trong số ấy lại có mấy bài thơ, từ là thơ họa vần, và tôi cũng đã gắng dịch nó thành những bài thơ dịch cũng cùng vần với nhau.

Trong chuyện đầu tiên trong tập sách – truyện “Thôi Tú Tài” (truyện này đầu tiên mà chơi luôn ba bài thơ, trong đó hai bài họa vần, một bài trường thiên, nhưng may thay phần lớn các truyện sau không có thơ mấy. Thật hú vía!), có đoạn viết về Lưu công nhân ngày giáp tết nghèo túng không  tiền, họa thơ với con gái như sau: Gặp dịp tháng Chạp sắp hết, mà nhà Lưu không có gì để đón năm mới.  Người con gái giỏi làm thơ, đùa ngâm rằng:

Nguyên văn:

悶殺連朝雨雪天,
教人何處覓黃棉。
歲除不比逢寒食,
底事廚中也禁煙。

Phiên âm:

Muộn sát liên triêu vũ tuyết thiên;
Giao nhân hà xứ mịch hoàng miên.
Tuế trừ bất tỉ phùng Hàn Thực;
Để sự trù trung dã cấm yên.

Bản dịch thơ (trong sách chỉ in bản dịch):

Chết buồn mưa tuyết mấy hôm liền;
Bông vón xui ai khắp chốn tìm.
Tết đến mà như Hàn Thực tiết;                         
Trong bếp vì chưng cũng cấm yên.

Lưu công nhân họa lại rằng:

Nguyên văn:

今年猶戴昔年天,
昔日輕裘今破棉。
寄語東風休報信,
春來無力出廚煙。

Phiên âm:

Kim niên do đới tích niên thiên;
Tích nhật khinh cừu kim phá miên.
Ký ngữ đông phong hưu báo tín;
Xuân lai vô lực xuất trù yên.

Trong bản dịch thơ, tôi cũng cố gắng dịch theo nguyên vận bài dịch trước là:

Năm nay năm trước khoảng trời liền;
Trước áo cừu nay bông rách tìm.
Nhắn bảo đông quân đừng báo tết;
Xuân sang sức cạn bếp đành yên!


Lại trong truyện “Tú Cô” có tới hai đoạn các nhân vật họa thơ với nhau. Đoạn đầu gồm ba bài:
Bài 1 – thơ của Tú Cô

Nguyên văn:

春雲一朵趁風來,
有意無心罨碧苔。
既有閒情能作雨,
如何舒卷上陽台。

Phiên âm:

Xuân vân nhất đóa sấn phong lai;
Hữu ý vô tâm yểm bích đài.
Ký hữu nhàn tình năng tác vũ;
Như hà thư quyển thướng dương đài.

Bản dịch thơ:

Mây xuân một đóa gió đưa về;
Rêu biếc chăng hay có dạ che.
Nếu có nhàn tình mưa móc xuống;
Làm sao cuộn tỏa đến hiên xa?”


Bài họa của Điền Lân:

Nguyên văn:

春雲一朵趁風來,
故意氤氳罨碧苔。
白日有情先作雨,
夜間打點上陽台。

Phiên âm:

Xuân vân nhất đóa sấn phong lai;
Cố ý nhân uân yểm bích đài.
Bạch nhật hữu tình tiên tác vũ;
Dạ gian đả điểm thướng dương đài.

Bản dịch thơ:

Mây xuân một đóa gió đưa về;
Rêu biếc êm hòa ý muốn che.
Ban sáng có tình mưa xuống trước;
Buổi đêm sẽ tính đến hiên xa.”

Bài họa thứ 2 của Tú Cô:
Nguyên văn:  

坐待秋風出岫來,
東牆月已上莓苔。
娘家兄妹休迴避,
例有媼嶠玉鏡台。

Phiên âm:
Tọa đãi thu phong xuất tụ lai;
Đông tường nguyệt dĩ thướng môi đài.
Nương gia huynh muội hưu hồi tị;
Lệ hữu Ôn Kiều ngọc kính đài.

Bản dịch thơ:

Ngồi đợi thu phong vượt núi về;
Tường đông trăng giọi lớp rêu che.
Anh em cô cậu xin đừng tránh;
Ngọc kính Ôn Kiều lệ chẳng xa.”

Cũng trong truyện “Tú Cô” còn có hai bài thơ họa vần của hai nhân vật này trong buổi chia ly, như sau:

Thơ của Tú Cô:

Nguyên văn:  

愁對空庭月影斜,
涔涔別淚恨無涯。
他時相訪應如夢,
認取棠梨一樹花。

Phiên âm:

Sầu đối không đình nguyệt ảnh tà;
Sầm sầm biệt lệ hận vô nha.
Tha thời tương phỏng ưng như mộng;
Nhận thủ đường lê nhất thụ hoa.

Bản dịch thơ:

Buồn trông sân vắng ánh trăng tà;
Oán hận đầm đầm giọt lệ sa;
Ngày khác thăm nhau xem tựa mộng;
Đường lê nhận lấy một cây hoa.”

Bài họa của Điền Lân:

Nguyên văn:  

話別匆匆月已斜,
無端分手向天涯。
癡情不比浮梁客,
珍重東風撼落花。

Phiên âm:

Thoại biệt thông thông nguyệt dĩ tà;
Vô đoan phân thủ hướng thiên nha.
Si tình bất tỷ phù lương khách;
Trân trọng đông phong hám lạc hoa.

Bản dịch thơ:

Lời biệt chưa nguôi trăng đã tà;
Bỗng đâu rẽ lối góc trời xa.
Tình si chưa được ôm cầu chết;
Lưu luyến đông phong nhặt cánh hoa.”

Bài họa này, chữ Hám đành dịch thoát nghĩa một chút, nhưng cũng diễn đạt được ý.

Trong chuyện “Đổng Như Bưu” lại có hai bài từ “Như Mộng Lệnh” làm theo cùng vần như sau:

Bài “Như Mộng Lệnh” của A Duẩn:

Nguyên văn:

擲果潘郎風味,
傅粉何郎風致。
底事不同車,
忍作執鞭之士?
留意,
留意,
留意詢伊名字

Phiên âm:

Trịch quả Phan lang phong vị;
Phó phấn Hà lang phong trí.
Để sự bất đồng xa,
Nhẫn tác chấp tiên chi sĩ?
Lưu ý,
Lưu ý,
Lưu ý tuần y danh tự.

Bản dịch từ:

Ném quả chàng Phan phong vị;
Dồi phấn chàng Hà ra vẻ.
Hà cớ chẳng cùng xe;
Chịu phận đánh roi riêng kẻ.
Để ý,
Để ý,
Để ý người tên chi thế?”

Bài “Như Mộng Lệch” họa nguyên vận của A Nộn:

Nguyên văn:

漸識石榴滋味,
驀見蓮花標致。
有女正懷春,
誰是誘之之士?
留意,
留意,
留意印兒名字。

Phiên âm:

Tiệm thức thạch lưu tư vị;
Mạch kiến liên hoa tiêu trí.
Hữu nữ chính hoài xuân;
Thùy thị dụ chi chi sĩ?
Lưu ý,
Lưu ý,
Lưu ý Ấn Nhi danh tự.

Bản dịch từ:

Thạch lựu dần hay hương vị;
Bỗng thấy hoa sen tươi vẻ.
Thiếu nữ rộn tình xuân;
Mê hoặc hỏi rằng ai kẻ?
Để ý,
Để ý,
Để ý Ấn Nhi tên thế!”           

Trên đây là mấy trường hợp Thơ và Từ họa vần mà tôi đã cố gắng dịch cũng theo đúng thể thức họa vần trong tác phẩm “Dạ Đàm Tùy Lục”. Dẫu rằng bản thân thơ từ này không phải xuất sắc (vì chỉ là thơ từ điểm xuyết trong tiểu thuyết) và cũng có chỗ dịch chưa được như ý, nhưng qua chuyện này hi vọng các bạn có thể thấy được sự dụng công trong công việc của một người dịch thuật văn chương.

Ngày giáp Tết Kỷ Hợi - 2019
C.H.Đ