Hiển thị các bài đăng có nhãn phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2019

VỀ SÁNG TÁC TẢN VĂN - Phùng Ký Tài


(Trả lời phỏng vấn của tạp chí “Trung Hoa Tản Văn”)

HỎI: Từ sau năm 1990, trên văn đàn xuất hiện hàng loạt những làn sóng về tản văn với đủ hình thức muôn màu muôn vẻ mà trước đây chưa từng có, như “tản văn nữ”, “tản văn đại văn hóa”, “tản văn tiên phong”, “hậu tản văn”, tản văn trên các báo chí cũng như tản văn trên mạng…Trước cơn sốt về tản văn như vậy, ông thấy như thế nào?
Phùng Ký Tài (PKT): Do sự thị trường hóa của văn hóa, trước “cơn sốt tản văn” mà đợt sóng này chưa lắng xuống, đợt sóng khác đã dâng lên, phải thật sự thận trọng. Nó có thể là việc “xây dựng thương hiệu” của một nhà buôn đạo diễn. Tất nhiên, cũng có thể đó là một kiểu “xây dựng văn hóa”, đó là một căn bệnh cũ trên văn đàn. Thích tiếng tăm, thích phong trào, thích tạo nên những làn sóng, thích có một lý do và một vị thế. Tựa hồ như vậy thì có thế thừa thắng xông lên, người đông thế mạnh, thành tâm điểm một thời. Thường thì sau khi cơn “sốt” đã hạ nhiệt, khói lặng mây tan rồi, cái còn lưu lại chỉ là một khoảng trống hoang vu. Thực ra tản văn rất cần một tâm thái bình thản. Một bộ tiểu thuyết có thể gây ra một trận “kinh thiên động địa”, nhưng một thiên tản văn thì không thế được, tản văn không có một trọng lượng cũng như năng lượng lớn như thế.
HỎI: Những sáng tác tản văn gần đây, ông nhận thấy còn tồn tại những vấn đề gì đáng phải chú ý?
PKT: Lặp lại lẫn nhau, tạo tác mà không tự nhiên, đáng sợ nhất là tình cảm giả tạo.
HỎI: Một con cá nhỏ, sau khi đã lớn lên, thì không thể sống được trong cái bể nhỏ nữa. Nó được thả về biển. Thế nhưng sau đó, con cá ấy rất khổ sở, bởi vì nó không bao giờ có thể chạm vào cái thành bể cá nữa. Cái thành bể cá ấy, chính là định nghĩa mà người ta đặt ra cho tản văn trước kia. Lấy thực tiễn sáng tác của ông làm tiêu chuẩn, xin ông hãy đưa ra một định nghĩa mới “thế nào là tản văn”, nói một chút những nhận thức cơ bản của ông đối với tản văn.
PKT: Khi con cá nhỏ chạm vào được tâm linh của chính nó, chạm vào được linh tính của ngôn ngữ và vẻ đẹp cá tính của chính mình, thì nó đã chạm vào được thành bể của tản văn. Tiểu thuyết là thuộc về xã hội, tản văn là thuộc về chính mình. Nhưng những tiểu thuyết hiện nay đang cố gắng cá nhân hóa, còn tản văn thì dồn sức vào vô vàn hiện tượng mà gánh nặng không thể cáng đáng nổi. Về định nghĩa tản văn, có thể mỗi một người đều có một cách nói. Tôi nghĩ, dù nói thế nào đi nữa, nó cũng không ngoài một câu: tản văn là những câu chữ lột tả tâm hồn. Nếu nói đơn giản một chút, thì là: Tản văn là văn tự của tâm linh. Từ đó chúng ta phân biệt giữa tản văn với tùy bút, tức là: tản văn thì thuộc về tâm linh, tùy bút thì thuộc về trí óc. Tản văn bắt nguồn từ tâm linh, tùy bút thì đến từ sự suy nghĩ. Tản văn mang nhiều sắc thái tình cảm hơn, còn tùy bút thì chiếm phần lớn là suy xét biện luận.
HỎI: “Cơn sốt tản văn” đã thúc đẩy sự phát triển đa nguyên hóa cho tản văn. Đồng thời, sự đa nguyên hóa của tản văn, cũng khiến rất nhiều người viết, người đọc bị rối loạn trước câu hỏi “thế nào là tản văn hay?”. Xin ông cho biết, tiêu chuẩn để xác định một thiên tản văn hay là gì?
PKT: Thứ nhất, đó là tính phát hiện của đề tài; Thứ hai, đó là những chi tiết chưa có ai từng sử dụng; Thứ ba, ngôn ngữ sâu sắc, có những câu văn hay. Điều thứ nhất nói ở trên, thể hiện con mắt nhìn độc đáo của tác giả đối với cuộc sống. Điều thứ hai thể hiện sự mẫn cảm cũng như độ sâu sắc của tác giả trong việc quan sát cuộc sống. Còn điều thứ ba, thể hiện tài năng về văn học (ngôn ngữ) của tác giả.
HỎI: Trong những sáng tác gần đây, đặc tính thẩm mỹ của tản văn được thể hiện ở điểm nào? Nó thông qua con đường đặc biệt nào, để nắm bắt và thể hiện trải nghiệm phức tạp trong thời đại hiện nay của chúng ta? Làm thế nào để nó có thể trở thành một hình thức ngôn ngữ thực sự đối mặt với sự trải nghiệm của tự thân chúng ta, đối mặt với linh hồn của chính bản thân chúng ta? Loại hình thức ngôn ngữ ấy có gì khác biệt với tiểu thuyết, thơ ca?
PKT: Tiểu thuyết thì cần có những đoạn tản văn, nhưng tản văn thì không thể có những đoạn của tiểu thuyết. Thơ ca không thể dùng ngôn ngữ của tản văn, nhưng tản văn cần phải đột xuất có những câu chữ của thơ ca.
Người dẫn thuật trong tiểu thuyết thường thường là hư cấu, không phải là của bản thân tác giả, cho nên ngôn ngữ văn bản của tiểu thuyết thường là ngôn ngữ cá tính của người dẫn thuật hư cấu, không phải là ngôn ngữ của chính bản thân tác giả. Nhưng ngôn ngữ trong tản văn chỉ có thể là của chính tác giả của nó. Còn nữa, ngoài ngôn ngữ ra, xây dựng lên tiểu thuyết là tình tiết, còn xây dựng lên tản văn là những chi tiết. Cần phải nói rõ rằng, tản văn hoàn toàn không phải là xóa bỏ hư cấu. Nó không thể hư cấu nên sự kiện và nhân vật như là tiểu thuyết, nhưng nó có thể hư cấu bối cảnh và không khí. Hư cấu không phải là một sự giả tạo, mà là một sự sáng tạo. Hư cấu phục vụ cho sự cần thiết trong nội tâm của tác giả, đồng thời phục vụ cho sự cần thiết của thẩm mỹ.
HỎI: Tác giả tản văn nào có ảnh hưởng lớn nhất với ông? (không phân biệt trong và ngoài nước, và số lượng từ một đến ba người). Tác phẩm nào của họ mà ông thích nhất? Và vì sao ông thích nó?
PKT: Tác giả đầu tiên là Turghenev, với tác phẩm “Bút Ký Người Đi Săn” (bản dịch của Phong Tử Khải). Lý do là: cuộc sống mà chúng ta ghi nhớ, đều mang tính phiến đoạn, một tản văn hay thể hiện ở một số phiến đoạn hay. Tác phẩm “Bút Ký Người Đi Săn” có nhiều vô số những đoạn hay, những phiến đoạn về cuộc sống và phong cảnh đẹp đến mê hồn.
Tác giả thứ hai là Tô Thức, với tác phẩm “Tiền Xích Bích Phú”. Lý do là: Tràn đầy tính thơ và ý thơ. Trên thực tế, rất nhiều tác phẩm tản văn kiệt xuất Trung Quốc xưa đều mang đậm tính thơ và ý thơ. Xuất phát từ tính thơ và ý thơ đó, họ cảm thụ, thăng hoa, và biểu hiện cuộc sống. Tô Thức đã cho chúng ta biết, đem cuộc sống biến thành nghệ thuật không phải ở trong việc viết lách, mà nó bắt đầu ngay từ việc cảm thụ cuộc sống.
Tác giả thứ ba là Lỗ Tấn, với tác phẩm “Hoa Sớm Tàn Chiều”. Lý do là: ý cảnh nhân sinh thẩm mỹ hóa là một đặc tính văn học rất cao quý.
HỎI: Trong lịch sử phát triển văn học, có một hiện tượng rất lý thú, có một số tác giả, mang nhiều gương mặt khác nhau, vừa là nhà thơ, lại là nhà văn viết tiểu thuyết, lại kiêm sáng tác tản văn. Ông nhìn nhận hiện tượng sáng tác trên nhiều thể loại như thế này ra sao?
PKT: Một thể tài hay một hình thức chỉ thích hợp cho biểu hiện một cái gì đó. Khi biểu đạt một cái khác, thì phải sử dụng một hình thức và thể tài văn học khác. Thể loại văn chương không phải là một chướng ngại đối với một tác giả, nó chỉ giúp đỡ và hoàn thiện thêm cho tác giả biểu đạt chính mình được tốt hơn.
HỎI: Sáng tác tản văn hiện nay, đã đột phá tính đơn nhất của chủ đề, hướng tới sự phát triển đa chủ đề, thành một bản hòa tấu nhiều biến tấu. Ông có cho rằng, đó là phương hướng phát triển của sáng tác tản văn thế kỷ 21 không? Viễn cảnh của nó như thế nào?
PKT: Đúng vậy. Tản văn hiện nay đang đi đến tự do, nó có rất nhiều khả năng. Nhưng chúng ta không thể làm thế nào mà đặt ra một quy định cho tản văn, và dự đoán “xu hướng phát triển” của nó. Cái thực sự ảnh hưởng đến sự thay đổi dòng chảy của tản văn là sự cải biến của cuộc sống và sự biến thiên của lịch sử thời đại, và còn nữa, đó là sự chuyển biến về thẩm mỹ của độc giả. Nói đến viễn cảnh phát triển thịnh vượng của tản văn mà chúng ta mong đợi, tôi nghĩ, dựng lên một mảnh trời tạnh ráo đó là cái ô, dựng lên một quang cảnh lớn mạnh cho tản văn thì cần phải có sự xuất hiện của một số nhà tản văn lớn.
(Dịch giả và Nhà văn Phùng Ký Tài tại Viện VHNT Phùng Ký Tài 5/2019)

HỎI: Đây là một câu hỏi liên quan đến việc đọc sách. Có một hòn đảo lẻ loi giữa biển khơi, phong cảnh rất đẹp, mời ông đến đó nghỉ dưỡng nửa năm. Trên hòn đảo cách biệt đó, ông không phải lo đến chuyện ăn mặc, cuộc sống là đầy đủ. Nhưng rất đáng tiếc là, ở đó không có một ai khác qua lại giao lưu với ông. Để đảm bảo được hưởng cuộc sống tinh thần tự do, ông có thể đem theo một cuốn tản văn mà mình thích (chỉ một cuốn thôi). Ông sẽ mang theo cuốn sách gì?
PKT: Cuốn sách đó là: “Phù Sinh Lục Ký”
HỎI: Vì sao ông lại mang cuốn sách đó?
PKT: Vì cuốn đó có thể đọc đi đọc lại. Giống như thơ vậy, đọc lên thấy thích thú, nó gợi lên cho mình nhiều suy nghĩ khác nhau. Một câu một chữ đều có thể sửa chữa chau chuốt và gặm nhấm. Lịch sử văn học Trung Quốc, phải thành thục về thơ trước tiên, sau đó mới là tản văn. Tản văn chịu ảnh hưởng của thơ, rất sành sỏi về chuyện “chuốt chữ”, và cũng rất rành việc vận dụng một từ đơn. Sự tinh thâm của tản văn chữ Hán cũng là ở đó. Không giống như sáng tác tản văn hiện nay, cứ viết là viết miên man, đọc xong rồi chẳng lưu lại được gì cả.
HỎI: Trong các thiên tản văn mà ông đã hoàn thành, ông thích nhất là những tác phẩm nào (chỉ từ một đến ba thiên thôi.)? Vì sao?
PKT: Tác phẩm thứ nhất là: “Trân Châu Điểu” (Chim Ngọc Trai). Lý do là: Từ trong đó có thể nhìn ra được sự tìm kiếm của mình, tức là cảnh giới được coi là trên hết, bất kể là cảnh giới nhân sinh hay cảnh giới thẩm mỹ.
Tác phẩm thứ hai là: “Thư Trác” (Bàn Sách). Lý do là: rất nhiều phiến đoạn trong đó đều là của chính tôi. Trên phương diện có thể dùng văn tự thể hiện ra được nội tâm của mình hay không, đó là một tiêu chuẩn để tôi đoán định sự thành bại trong tản văn của mình.
Tác phẩm thứ ba là: “Trí Đại Hải” (Gửi biển lớn). Lý do là: Tôi rất ít đọc tản văn của mình, nhưng thiên tản văn này không biết tôi đã đọc nó bao nhiêu lần. Cảm giác của tôi mỗi lần đọc nó đều giống như được đến trước mặt Băng Tâm bằng xương bằng thịt vậy.
Tác phẩm thứ tư là: “Quý Mùi Thủ Ký” (Ghi chép năm Quý Mùi). Lý do là: Để viết ra những cảm nhận, thể nghiệm và suy nghĩ phức tạp của tôi trong công tác điền dã và điều tra về văn hóa, tôi từng thử đem tản văn, tùy bút, và những văn bản nghiên cứu mang tính học thuật dung hòa với nhau làm một. Tôi cảm thấy thể văn đó vừa giúp được cho sử dụng của mình, mà viết ra cũng đắc tâm ứng thủ. Tất nhiên, cái đó chỉ thích hợp khi tôi viết những nội dung như vậy thôi./.
(Châu Hải Đường dịch –
Theo tập “Tán Hoa” của Phùng Ký Tài,
Hoa Sơn Văn Nghệ xuất bản tháng 5/2009)

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019

NHÀ VĂN DIÊM LIÊN KHOA – NHÀ THƯ PHÁP CỦA ‘LỐI CHỮ ĐƯỜNG PHỐ’ VÀ NHỮNG CHIA SẺ VỀ NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP

Diêm Liên Khoa – nhà văn có lập trường nhất, và gây tranh cãi nhất của Trung Quốc – sinh năm 1958 tại huyện Tung, Hà Nam, năm 1980 bắt đầu xuất bản tác phẩm đầu tay. Các tác phẩm chủ yếu của ông có: “Thụ hoạt”, “Nhật quang lưu niên”, “Vì nhân dân phục vụ”, “Đinh trang mộng”, “Phong nhã tụng”, “Tứ thư” … Ông từng giành giải thưởng Bách Hoa của Tiểu thuyết nguyệt báo, giải thưởng văn học Lỗ Tấn, đề cử giải thưởng văn học Devin của Anh quốc. Tháng 5/2014 ông đã giành được giải thưởng văn học Kafka, gây tiếng vang trên văn đàn thế giới. Là một nhà văn Trung Quốc nổi tiếng trên phạm vi toàn thế giới, nhưng Diêm Liên Khoa cũng là một người rất có thành tựu trong lĩnh vực thư pháp.
Phóng viên tạp chí “Bắc Kinh Lữ Du” đã có một cuộc  trò chuyện với nhà văn Diêm Liên Khoa về vấn đề thư pháp. Trong cuộc trò chuyện, qua những câu trả lời của mình, ông đã thể hiện là một con người vô cùng khiêm tốn trong nghệ thuật. Vì biết rõ, hiểu rõ,  nên ông đã từ chối danh xưng “thư pháp gia”, và tự trào gọi lối chữ thư pháp của mình là “lối chữ đường phố”, và bày tỏ lo lắng cho hiện trạng thư pháp Trung Quốc, tất cả những điều ấy đều khiến người ta phải kính phục.
Người viết  cho rằng, những câu trả lời của Diêm Liên Khoa về lĩnh vực thư pháp, là rất riêng, không cần có bất cứ một chỉnh lý gì. Vì thế, xin ghi chép lại đúng như những gì ông nói, để độc giả được hiểu thêm một cách chân thực nhất về nhà thư pháp khiêm tốn và hóm hỉnh ấy. Có lẽ, như thế, cũng là sự tôn trọng lớn nhất đối với con người ấy, thư pháp ấy, tinh thần ấy, cũng như những độc giả mến mộ ông.
(Nhà văn Diêm Liên Khoa)

Phóng viên (PV)
: Trong con mắt mọi người, ông là một nhà văn nổi tiếng, nhưng với vai trò là một nhà thư pháp thì lại rất ít người biết, xin hỏi ông đã tiếp xúc và nghiên cứu thư pháp từ khi nào?
Diêm Liên Khoa (DLK): Tôi rất lấy làm thẹn khi gọi những chữ mà tôi dùng bút lông viết ra là “Thư Pháp”. “Thư” và “Pháp” đó là sự kết hợp giữa học thức và phương pháp. Nhưng trong những cái gọi là thư pháp của tôi, đã chẳng có học thức, mà cũng không có phương pháp, chỉ là một dạng dùng bút lông bôi vẽ những chữ khối vuông. Mà nói theo một cách dễ nghe nhất, nên nói rằng lối bôi vẽ ấy là một kiểu viết lách nhàn tản vô vi mà tôi đã đổi dùng một loại giấy bút khác. Nói đến thời gian bắt đầu của kiểu viết lách ấy, thì là vào mấy năm trước, là thời gian mà tôi còn ở “Nhà số 711”. Một người bạn thân khi đến thăm tôi, thấy quang cảnh nhàn tản ấy của tôi, lại thấy tôi vẫn còn rất nhiều thời gian rảnh rỗi, mới nói: anh ở đây luyện tập thư pháp đi. Rồi, trong lần thứ hai anh ấy tới, quả nhiên bèn mang bút lông, mực, và giấy xuyến tới cho tôi thật. Tôi cũng nhân đó bắt đầu với kiểu viết lách nhàn tản bằng bút lông ấy.

PV: Sáng tác thư pháp cần có thời gian dài luyện tập, ông lại còn phải hao tổn rất nhiều tâm huyết cho sáng tác các tác phẩm văn học. Vậy thì bình thường ông sắp xếp thời gian cho việc sáng tác thư pháp của mình thế nào?
DLK: Tôi trước nay chưa từng sắp xếp thời gian luyện tập của mình một cách có kế hoạch và phương pháp bao giờ. Gọi là luyện tập, chỉ là khi nhàn rỗi đến buồn tẻ, tâm ý nảy ra, thì liền cầm lấy bút viết ra mấy chữ, mười mấy chữ bằng bút lông. Nhưng cùng với thời gian lâu dài, tôi phát hiện ra việc viết chữ bằng bút lông và viết chữ bằng bút máy của mình có một sự truyền thừa liền mạch, nối tiếp với nhau . Ví dụ như, nếu hôm nay tôi bắt đầu viết tiểu thuyết hay tản văn ở nhà, sau khi viết lách, hứng thú vẫn còn, thì tôi bèn bỏ bút máy xuống, cầm bút lông lên viết một lúc; còn nếu như hôm nay không viết lách gì, không có việc tay cầm bút máy viết ra hai ngàn chữ bản thảo ấy, thì tôi cũng rất ít khi chủ động cầm bút lông lên mà viết một lúc như vậy.
Thiên thượng, địa hạ, nhân tại trung
(Trời trên, đất dưới, người ở giữa)
- Thư pháp Diêm Liên Khoa

PV: Khi mới bước chân vào lĩnh vực thư pháp, ông có sùng bái một vị danh gia tiền bối nào không?
DLK: Trong lĩnh vực thư pháp với lịch sử lâu dài và vĩ nhân như biển, tôi không có thần tượng, không sùng bái một ai. Vì sao lại như thế? Là bởi vì tôi không biết rõ về họ, cũng giống như một sinh viên công nghệ không hiểu biết một cách thực sự, ngọn ngành về Tào Tuyết Cần và Lỗ Tấn vậy. Nói một cách khác, một minh tinh màn bạc vĩ đại, cũng không hề có ý nghĩa gì với một người nông dân cả đời chỉ cày cấy trên đồng ruộng. Mà tôi, lại chính là một người nông dân trước nay chưa từng xem phim bao giờ.

PV: Tự thể chữ Hán rất đa dạng, như: Khải thư, Thảo thư, Lệ thư, Hành thư …. Ông thích thể chữ nào nhất? Thể chữ mà ông thích, có điểm gì hấp dẫn ông?
DLK: Mấy câu hỏi này, càng hỏi càng đi sâu, giống như cạm bẫy càng ngày càng nhiều. Nếu nhất định bắt tôi phải nói ra một thư thể mà tôi thích nhất, thì tôi xin nói là: tôi thích lối chữ “đường phố”. Tôi thích nhất là đi trên phố nhìn hết bên nọ lại bên kia, hôm nay trông thấy trên tấm biển hiệu bên trái đường có một nét “hoành” không tệ, có phong cách riêng mà chỉ nhà ấy có, tôi liền ghi nhớ lấy nét hoành ấy; Ngày mai lại trông thấy trên câu đối ở cửa nhà bên phải đường có một nét “sổ” rất đẹp, độc nhất vô nhị, ít gặp ít thấy, thế là tôi liền ghi nhớ lấy nét sổ ấy, khi về đến nhà tôi bèn nghĩ đem nét sổ ấy với nét hoành kia kết hợp lai với nhau, xem xem nó có hiệu quả và thể hiện như thế nào, hoặc cũng có khi có thêm một chút cải tạo và sửa chữa riêng mình. Cho nên nói, không có ai hấp dẫn tôi, chỉ có “lối chữ đường phố” khiến tôi cảm thấy hứng thú.
Thần Thực Chủ Nghĩa
(Chủ nghĩa hiện thực hoang đường- quan điểm nghệ thuật 
của Diêm Liên Khoa)

PV: Ngoài nghề xem biểu hiện, trong nghề xem kỹ năng. Kiến thức về viết chữ bố cục hàng lối bao la vạn tượng, chỉ có những nhà thư pháp có bồi dưỡng văn hóa phong phú, mới có thể viết soạn ra những bức thư pháp khiến người ta phải kinh ngạc. Ông cho là thế nào?
DLK: Tôi là một người tương đối cá nhân, khép kín, tôi không hề quan tâm một chút nào tới thư pháp của người khác, cũng như những nhà thư pháp khác. Tôi chỉ quan tâm đến việc sáng tác và sáng tạo chữ nghĩa của mình. Trong những lúc rảnh rỗi ngoài việc sáng tác và sáng tạo ấy, tôi hy vọng mình có thể viết ra mấy chữ bút lông rất cá nhân, không giống ai của mình. Chí thể thôi. Cũng giống hệt như cách nhìn nhận về văn học của mình, tôi chỉ quan tâm bản thân mình viết ra được những tiểu thuyết riêng có như thế nào, còn  những cái khác tôi đều không quá quan tâm. Quay trở lại với thư pháp, tôi cũng dường như không hề quan tâm bất cứ cái gì, chỉ cần cảm thấy trong thời khắc mình cầm cây bút lông lên, bản thân thấy vui thích là được, còn những cái khác với tôi đều không quan trọng.

PV: Trong chuyện của Thiền tông, ngắm núi có ba đại cảnh giới, tức là; “ngắm núi là núi, ngắm núi không phải là núi, ngắm núi lại là núi”. Thư pháp phải chăng cũng có cảnh giới tương tự như vậy? Xin ông chia sẻ một chút tâm đắc trong sáng tác thư pháp của mình.
DLK: Lý luận về “ngắm núi” của Thiền tông, là phương pháp luận nhận thức thế giới rất tuyệt vời, một câu “ngắm núi là núi, ngắm núi không phải là núi, ngắm núi lại là núi”, đã bao gồm hết vào trong nó cảnh giới và quá trình của tất cả các loại hình nghệ thuật trên thế giới. Văn học, điện ảnh, hội họa, rồi ngay cả cắt giấy, cắm hoa, có loại hình nghệ thuật nào muốn bước lên cảnh giới tối cao mà chẳng phải đi qua con đường duy nhất “là – không là – lại là”? Thư pháp là một loại hình nghệ thật cổ xưa nhất của Trung Quốc, thì làm sao có thể xa rời quỹ đạo cảnh giới ấy được? Chỉ có điều, đối với một kẻ ngu như tôi, phần lớn đều chỉ dừng lại ở chỗ bắt đầu “ngắm núi là núi”, chứ ngay đến việc hướng tới giữa con đường “ngắm núi không phải là núi” cũng đã khó tiếp cận và phát hiện, chứ nói gì đến cảnh giới cuối cùng “ngắm núi lại là núi”. Hơn nữa, tôi cũng luôn luôn nghĩ, tất cả các loại hình nghệ thuật đạt đến “ngắm núi lại là núi” thì là đã đến cảnh giới tối cao ư? Lẽ nào một loại hình nghệ thuật nào đó sau khi đến được cảnh giới “ngắm núi lại là núi”, thì sẽ không trở về lại vòng tuần hoàn “là – không là – lại là” thứ hai, thứ ba ư? Picasso trong quá trình sáng tác cả đời mình, lẽ nào không có sự truy cầu vòng tuần hoàn thứ hai ấy của mình ư?
Nhất mặc giang hà lưu;
Văn chương thiên hạ tú

PV: Chúng ta đều biết rằng, khác với những người khác ông có một thời gian dài sống trong quân ngũ. Đoạn đời ấy, có ảnh hưởng thế nào với thư pháp của ông?
DLK: Tôi cho rằng, không có ảnh hưởng gì cả. Những cái gọi là thư pháp của tôi, chỉ là trong ngẫu nhiên mà bắt đầu, và rất có thể lại trong ngẫu nhiên đứt đoạn.  Tất cả đều là hứng thú gầy nên. Nếu như có một ngày tôi mất đi hứng thú với nó, thì có lẽ những “văn tự bút lông” này, cũng sẽ tự nhiên dừng lại.

PV: Hiện nay, chúng ta thấy ở rất nhiều khu thắng cảnh của Trung Quốc, phần lớn đều còn lưu lại di tích thư pháp của tiền nhân, như Đỗ Phủ ở Thái Sơn, Lý Bạch ở Hoàng Hạc Lâu… Những thư pháp của cổ nhân này đã giúp tăng thêm nhiều màu sắc cho thắng cảnh, điều đó phải chăng là giữa thư pháp và du lịch có mối quan hệ với nhau. Ông có nhìn nhận thế nào về vấn đề này?
DLK: Tôi không cho rằng thư pháp và du lịch có mối quan hệ gì. Bởi vì, khi thư pháp là một sự tồn tại của thẩm mỹ, thì nó đã có tính đại chúng rồi. Và một khi thẩm mỹ đã có tính đại chúng, thì tất nhiên được xuất hiện và mở ra ở những nơi có nhiều người. Những tác phẩm thư pháp ở những thắng cảnh du lịch xưa nay, chỉ là một trong những phương pháp để mọi người xem đọc. Bất luận là thư pháp giúp tô điểm thêm cho du lịch, hay thắng cảnh giúp tăng thêm màu sắc cho hình thức xem đọc ấy, thì nó đều là một phương pháp để thẩm mỹ hướng đến đại chúng. Bản thân thư pháp hoàn toàn không phải vì du lịch mà tồn tại, và chính du lịch đã tăng thêm việc “xem đọc thư pháp” mà thôi. Như thế mà nói, tác phẩm của một nhà thư pháp xuất hiện quá nhiều ở một thắng cảnh thì không thể không nói rằng đó là một nỗi đau buồn và tổn thương, giống như tiểu thuyết của Murakami Haruki, đã gây ra quá nhiều nỗi đau buồn của độc giả.
Tả hữu thập lý mai;
Hà nhân đê đầu hành?
(Đôi bên mười dặm bụi;
Ai kẻ cúi đầu đi?)

PV: Xem khắp các tác phẩm thư pháp của hậu thế, thì phần lớn là bắt chước những danh gia đời trước. Xin hỏi ông, kiểu bắt chước ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với sự truyền thừa của thư pháp?
DLK: Sáng tạo đều bắt đầu từ bắt chước. Trong bất kỳ một môn nghệ thuật nào hiện nay, nếu không có bắt chước thì không có sáng tạo. Cũng như trẻ nhỏ mới học nói, nếu không bắt chước nói theo cha mẹ, thì có thể sẽ trở thành một người câm. Nhưng sau khi đứa bé ấy lớn lên rồi, làm thế nào để thoát khỏi  phương thức ngôn ngữ của cha mẹ, người khác, và xã hội, để hình thành nên tư duy và biểu đạt của mình, thì đó mới là quan trọng. Tất cả những bậc trí giả thành tài, chẳng ai không có một tư duy và biểu đạt riêng của mình. Cho nên, chúng ta không sợ bắt chước, mà cái đáng sợ là không có khả năng thoát ra và hình thành một sự tái sinh mới.

PV: Trong con mắt và suy nghĩ của người nước ngoài, thư pháp là dấu hiệu số một của văn hóa Trung Quốc, vượt qua cả Trường Thành và Kinh kịch. Ông nhìn nhận hiện tượng này như thế nào? Ngoài ra, càng ngày càng nhiều người nước ngoài bắt đầu học thư pháp Trung Quốc, chúng ta nên làm thế nào để họ hiểu biết, và học tập thư pháp? Chúng ta cần phải có sự gia công như thế nào đối với thư pháp? Xin nói một chút ý kiến của ông.
DLK: Tôi không quan tâm đến việc người nước ngoài coi thư pháp Trung Quốc thế nào, mà quan tâm hơn đến việc người Trung Quốc coi thư pháp thế nào. Ví dụ những em thế hệ 8X, 9X hiện nay, vừa lớn lên thì đều đã sử dụng máy tính và bút máy, rất ít khi cầm đến cây bút lông, như vậy thì chúng có còn cảm giác với thư pháp không? Nếu như một thế hệ, vài thế hệ đều không có cảm giác với thư pháp nữa, thì thư pháp còn có thể tồn tại và còn có lý do tất yếu để tồn tại không? Cũng như hiện nay mọi người đang kêu gọi “cứu lấy Kinh kịch và kịch địa phương”, nếu như đến một ngày thư pháp cũng giống như Côn khúc trở thành “Di sản văn hóa phi vật thể” của UNESCO, thì đó mới là bi kịch thực sự của thư pháp. Trung Quốc có một tỉ mấy trăm triệu người mà không có mấy người học tốt được thư pháp của chính mình, thì anh dựa vào đâu để hy vọng những người bất đồng về ngôn ngữ, bất đồng về bối cảnh văn hóa có thể học tốt được thư pháp của anh đây! Thư pháp ở Trung Quốc hiện nay, không cần bất cứ một thứ bao bì và công nghệ nào, mà là cần có nhiều người yêu thích hơn nữa. Có tình yêu, thì sẽ có tất cả./.

Châu Hải Đường dịch