Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2022

BÁNH BƠ NƯỚNG - Uông Tăng Kỳ (Trung Quốc)

 

Tiêu Thắng đi theo bố đến Khẩu Ngoại.

Tiêu Thắng vừa tròn bảy tuổi, bắt đầu sang tuổi thứ tám. Mấy năm nay nó vẫn ở với bà nội. Công việc của bố nó thường chẳng cố định ở chỗ nào, lúc thì sửa sang hồ chứa nước ư, lúc lại đại luyện gang thép ư. Mẹ nó cũng bị điều đi điều lại. Bà nội sống một mình ở quê, nên quạnh quẽ vô cùng. Năm nó lên ba, thì đã được cho đưa về quê rồi. Nó sống ở quê, ăn toàn củ cải, cải trắng, bánh kê, bánh ngô mà lớn lên.

Bà nội chẳng hơi đâu mà quản nó. Bà còn ối việc. Lúc nào bà cũng tìm kiếm những mảnh vải vụn khâu vá lại để may áo dài, may áo ngắn, may quần, may áo bông, may quần ấm cho nó. Quần áo của nó đều do từng mảnh từng mảnh vải ráp lại với nhau, vệt xanh, vệt chàm, nhưng vô cùng sạch sẽ. Bà nội còn khâu giày cho nó. Tự tay bà làm mũi giày, cắt mẫu, khâu đế, rồi khâu lại. Lúc nào bà cũng bảo nó: “Cái chân cháu nó có răng, có mỏ đấy hẳn?”; “Chân cháu làm bằng sắt hay sao thế!?” Rồi bà lại làm món ăn cho nó. Bánh bột kê, bánh bột ngô, củ cải bắp cải xào với trứng gà, cá vụn rim. Nó thì suốt ngày chạy chơi ở ngoài. Mỗi khi bà nội làm cơm nước xong xuôi, lại chạy ra đầu ngõ gọi: “Thắng ơ… ời…! Ở đâu thì về ăn cơm …!”

Về sau thì có nhà ăn tập thể. Bà nội đem hai cái xoong trong nhà nộp cho chính quyền, và lấy cơm từ nhà ăn mang về ăn. Đúng là tuyệt cú mèo! Bánh bao bột mì, bánh bột chiên, tôm muối chua xào với đậu phụ, cà nhồi thịt, thịt xỏ lợn! Ông đầu bếp ở nhà ăn mặc bộ quần áo trắng, đội chiếc mũ trắng, đi đi lại lại trong làn khói trắng bốc hơi nghi ngút của nồi hấp, cầm cái xẻng gõ vào bên thành nồi, lại còn lớn tiếng quát gọi. Người cũng béo lên, lợn cũng béo lên. Đúng là tuyệt cú mèo!

Sau đó thì không được nữa rồi. Lại vẫn là bánh bột kê và bánh bột ngô.   

Sau đó thì trong bánh bột kê có lẫn cám, trong bánh bột ngô có mạt lõi ngô xay ra, rát họng lắm. Người cũng gầy đi, lợn cũng gầy đi. Năm ngoái, muốn bắt con lợn cũng phải nhọc sức. Năm nay, cứ đưa tay ra là tóm chắc ngay được chân sau con lợn, vừa xô một cái, nó liền đổ ịch ra ngay. Bánh độn ăn chẳng ra gì, nhưng Tiêu Thắng ăn vẫn thấy rất ngon. Nó đói.

Bà ăn không lấy gì làm ngon. Bà lấy cơm từ nhà ăn về, bẻ nửa cái bánh, nhai suốt nửa ngày. Còn lại bao nhiêu, đều để Tiêu Thắng ăn cả.

Bà vốn đã không được khỏe.  Căn bệnh hen suyễn của bà mùa đông năm nào cũng tái phát. Ban ngày còn đỡ, đến đêm thì rất khó mà chịu nổi. Tiêu Thắng nằm trên lò sưởi, nghe thấy tiếng bà lên cơn hen suyễn khừ khừ khừ khừ. Đến lúc ngủ dậy rồi, vẫn nghe thấy tiếng cơn suyễn khừ khừ của bà. Nó nghĩ, bà đã bị hen khừ khừ cả đêm. Thế nhưng bà vẫn còn tiếp tục hen khừ khừ, vừa khừ khừ vừa đi đến nhà ăn lấy bữa sáng cho nó, lấy những cái bánh bột kê, bột ngô đã được độn thêm.

Mùa đông năm ngoái bố về thăm bà nội. Năm nào bố cũng về nhà vào mùa đông. Bố mang về nửa túi gai khoai tây, một dây nấm rơm khô, lại thêm hai lọ bơ. Bố bảo, khoai tây là bố được chia, nấm rơm là bố tự hái, tự phơi lấy, còn bơ thì phải “đi cửa sau” mới kiếm được. Bố nói, bơ được làm từ sữa bò, rất “dinh dưỡng”, bảo bà quết vào bánh mà ăn. Khoai tây thì bà mượn nồi về hấp lên, luộc lên, bỏ vào bếp lò nướng lên, cho Tiêu Thắng ăn. Nấm rơm đến tết mới ăn một bận. Còn bơ thì bà bảo bố mang đi: “Con đem đi mà ăn. Đồ quý như thế này!” Bố nhất định bắt bà để lại. Bà đành để số bơ lại, nhưng chưa từng ăn bao giờ. Bà đem hai lọ bơ cất vào trong tủ, thỉnh thoảng lại lấy giẻ lau lau. Bơ là cái gì không biết? Được làm từ sữa bò cơ? Qua lớp vỏ thủy tinh, có thể trông thấy nó có màu vàng nhạt. Năm ngoái nhà thằng Tiểu Tam sinh thêm em Tiểu Tứ, Tiêu Thắng trông thấy mẹ Tiểu Tam lấy bột hoa thông bôi rôm cho Tiểu Tứ. Màu của bơ trông tựa như màu phấn hoa thông. Sắc bơ bóng láng, trông thật đẹp. Bà bảo, cái này có thể ăn được đấy. Tiêu Thắng không muốn ăn. Nó đã bao giờ ăn đâu, nên chẳng thấy thèm.

Sức khỏe bà ngày một kém. Lúc trước, bà đi lấy bánh ở nhà ăn, có thể đi một mạch về đến nhà. Bây giờ thì bà không thể như thế nữa rồi. Đi đến bên gốc cây liễu ngoẹo cổ là bà phải dừng lại nghỉ một lúc. Bà nói với các ông bà cụ cao tuổi rằng: “Chỉ e là tôi qua được mùa đông, cũng chẳng qua nổi mùa xuân đâu!” Tiêu Thắng biết đó không phải là một câu nói hay ho gì. Đó là một câu mà người ta hay mắng vật nuôi trong nhà: “Này! Trông bộ dạng kém cỏi của mày! Qua được mùa đông, cũng chẳng qua nổi mùa xuân!” Quả nhiên, mùa xuân không dễ gì qua được. Ông già bà cả trong thôn liên tiếp nối nhau qua đời. Trên thị trấn có một hợp tác xã nghề mộc, vốn chuyên đóng đồ gia dụng, sửa chữa cày bừa, nhưng đều phải gác lại cả mọi việc, đổi sang đóng quan tài. Bên ngoài thôn mọc thêm nhiều ngôi mộ mới, cắm nhiều cành phan trắng. Bà nội không ổn nữa rồi, toàn thân bà đều phù thũng, lấy ngón tay ấn ấn, liền thành một chỗ trũng lớn, rất lâu mới đầy lại. Bà nhờ người viết thư gọi con trai mình về.

Bố chạy về tới nhà, thì bà nội đã tắt thở rồi.

Bố xin hợp tác xã nghề mộc lấy cái tủ trong buồng bà sửa thành một cỗ quan tài để mai táng cho bà. Buổi tối, bố ngồi trên lò sưởi của bà, nước mắt tuôn rơi suốt một đêm.

Lần đầu tiên trong đời, Tiêu Thắng biết thế nào là “chết”. Nó biết, “chết” chính là “không còn nữa”. Nó không còn bà nữa rồi. Nó nằm trên cái gối, trên gối vẫn còn mùi tóc của bà. Nó khóc.

Bà khâu cho nó hai đôi giày. Làm xong, bà bảo: “Cháu lại đây, thử đi xem.” “Bà đợi cháu một tí!” Rồi vù một cái, nó chạy vụt đi. Tiêu Thắng tỉnh dậy, nó để chân không rồi thử hết cả hai đôi giày. Một đôi vừa vặn với chân, một đôi rộng một chút. Bàn chân trần của nó chạm vào đế giày bằng vải, cảm nhận được cả đường chỉ khâu đế giày của bà, nó cất tiếng gọi “Bà ơi!”, rồi nức nở khóc mãi.

Bố đi thăm hỏi các ông các bác trong thôn, rồi thu dọn đồ đạc trong nhà, lấy những cái nồi bát gáo chậu còn dùng được chất cả vào trong một cái sọt to. Lại đem đôi giày mà bà nội khâu cho Tiêu Thắng bỏ vào sọt. Đem hai lọ bơ còn chưa đụng vào tí nào cũng bỏ cả vào sọt. Khóa cửa lại, rồi dắt Tiêu Thắng lên đường.

Tiêu Thắng không quen ở với bố. Nó ở với bà đã quen rồi. Mới đầu nó không nói năng gì cả. Nó nhớ nhà, nhớ bà, nhớ cây liễu ngoẹo cổ ấy, nhớ đôi ngỗng trắng tinh của nhà Tiểu Tam, nhớ chuồn chuồn, nhớ muồm muỗm, nhớ chú cào cào mỗi khi cất cánh bay lên phát ra tiếng xành xạch, để lộ cả lượt cánh màu hồng đào mềm mại bên dưới cái cánh xanh cứng hơn bên ngoài … Về sau, ở với bố quen rồi. Bố là bố mà! Hai bố con đi ô tô, ngồi tàu hỏa, sau đó lại đi ô tô. Bố tốt lắm. Bố luôn khơi gợi cho nó nói chuyện, kể cho nó rất nhiều chuyện ở Khẩu Ngoại, nó ngày càng nói nhiều hơn, hỏi hết cái này đến cái khác. Nó dần nảy sinh một sự thích thú rất nồng nàn với “Khẩu Ngoại”.

Nó hỏi bố, sao lại gọi là Khẩu Ngoại? Bố bảo, “Khẩu Ngoại” nghĩa là khu vực bên ngoài vùng Trương Gia Khẩu, lại cũng gọi là “Bối Thượng”. “Vì sao gọi là Bối Thượng?” – Nó cứ tưởng chữ “Bối” ở đây là một con đê bối. Bố bảo, cứ đợi lúc nào đến con sẽ biết.

Quả tình thì “Bối” là một quả núi lớn sườn trơn dốc. Đỉnh núi bằng phẳng, rất giống một con đê bối, nhưng mà lớn lắm! Xe ô-tô lấy hết ga chạy lên trên. Xe bò đi rất khó nhọc, tựa hồ đến thở cũng không thở nổi, liên tục gằn từng tiếng khừng khừng. Lên được núi lớn rồi, ối chà, một vùng đất bằng rộng lớn! Đúng là bằng phẳng thật! Vừa phẳng vừa rộng, cứ như được láng đều vậy. Làm sao có thể phẳng được như thế này! Xe ô-tô lên được mặt đê rồi, thì vui vẻ hẳn, không còn kêu khừng khừng nữa, êm ro ro chạy thẳng về phía trước. Lên mặt đê rồi, không khí cũng đột nhiên thay đổi hẳn. Dưới đê là mùa hè, mà lên đến mặt đê rồi thì cứ như mùa thu, bỗng nhiên mát mẻ hẳn. Trên đê, dưới đê, cứ y như được cắt bằng dao, bằng phẳng thật! Xa xa là mấy qủa đồi nhỏ, tròn xoe. Đến một cái cây cũng không có. Ở quê nó có rất nhiều cây. Cây du, cây liễu, cây hòe. Còn đây không biết là chỗ nào, mà chẳng có lấy một cái cây gì cả! Chỉ có một khoảnh đất bằng rộng lớn, xanh biếc, mọc đầy những cỏ. Có đất. Khoảng đất này lớn thật. Từ ngọn đồi này, tựa như có một tấm vải lớn, kéo thẳng tới ngọn đồi kia. Mảnh đất này rốt cuộc rộng bao nhiêu? Bố bảo nó: Có một người nông dân dắt một con trâu mẹ đi cày, cày một lượt, đến lúc trở về thì con trâu mẹ dắt thêm một con nghé non, đã ba tuổi rồi!

Xe ô-tô đã đến thị trấn của huyện có tên là huyện Cô Nguyên. Đó là bến cuối cùng của họ. Một cỗ xe bò đến đón họ. Bộ dạng cỗ xe ấy thật buồn cười, hai bánh xe là hai cái bánh gỗ, lại không được tròn lắm, cứ lộc cà lộc cộc lăn về phía trước. Tiêu Thắng nằm ngửa mặt trên xe bò, trên đầu là bầu trời xanh rất rộng. Xe bò đi chậm lắm, còn không nhanh bằng nó đi bộ. Có lúc, nó nhảy xuống đất hái mấy bông hoa dại, đi một chặp, rồi lại trèo lên xe.


Việc trồng trọt ở nơi này cũng không giống như ở những vùng phía trong. Ở đây không có cao lương, cũng không có ngô, chỉ trồng mạch, trồng vừng. Mạch thì rất sạch sẽ, cứ như được lấy nước tắm rửa, chải gội cho vậy. Vừng thì được che bằng những cái ô nhỏ màu xanh, trông rất nho nhã, chẳng giống rau mầu, mà cứ y như một loại hoa để xem chơi.
 

Ồ, một cánh đồng hoa thạch thảo thật lớn. Thạch thảo thì quê nó cũng có, nhưng không cao to như ở đây, cao đến ngang eo người lớn, nở những bông hoa như cánh bướm to bằng bàn tay. Nhìn không biết đến đâu là cùng. Một cánh đồng thạch thảo thật lớn! Cả đời này Tiêu Thắng cũng không quên được. Nó cứ như đang ở trong một giấc mơ vậy.

Xe bò cứ đi mãi, đi mãi. Bố bảo: Đến rồi! Nó ngồi lên nhìn: cả một cánh đồng khoai tây, đều đang nở hoa, màu phấn hồng, màu xanh tím nhạt, màu trắng … Nhìn ngút tầm mắt, tựa như trời vừa đổ một trận mưa tuyết. Những bông tuyết theo gió bay phất phơ, khiến nó hơi hoa mắt. Không xa có một dãy nhà, tường đất, cửa kính. Đó chính là “Trạm nghiên cứu Khoai tây” mà bố đang công tác.

Từ trong nhà có một người chạy ra. “Mẹ …!” Nó vừa nhìn là nhận ra ngay! Mẹ chạy lại, vươn tay ôm chặt nó vào lòng.

Tiêu Thắng sẽ ở lại nơi này, ở cùng với bố và mẹ nó.

Nếu có cả bà cùng tới đây thì tốt biết bao.

Bố của Tiêu Thắng học ngành nông nghiệp, nhưng mấy năm nay toàn làm những việc đâu đâu. Bà nội hỏi bố: “Làm sao họ cứ điều con đi hết chỗ này đến chỗ khác như thế?” Bố nó đáp: “Vì con dễ bắt nạt.” Chẳng ai muốn tới Trạm nghiên cứu Khoai tây cả, vì ngại xa xôi. Bố nó thì bằng lòng. Mẹ nó học hội họa, mấy năm trước chuyên vẽ mấy bức tranh hai em bé nhổ một cây củ cải lớn mà nhổ không nổi này, rồi một quả đậu mà phía trên nếu dương cánh buồm lên thì có thể làm được cái thuyền này. Mẹ cũng bằng lòng cùng bố đến đây, để vẽ “Khoai tây đồ phả” – tất cả những hình vẽ về cây khoai tây.

Mẹ bưng cơm lên cho mọi người ăn. Là bánh bột ngô thực sự, và hai bát cháo to. Mẹ bảo, cháo này nấu từ hạt lòng vực, hơi giống như hạt kê, nhưng nhỏ hơn kê. Bát cháo xanh ngăn ngắt, rất sánh, rất thơm. Lại còn một đĩa tây cá diếc, rất to. Bố bảo, cá diếc ở nơi khác rất ít có con nào hơn một cân, còn cá diếc trong “đầm” ở đây có con nặng tới một cân hai. Cá diếc ăn hạt lòng vực, béo lắm. Lòng vực chín rồi, gió thổi hạt bay đầy xuống đầm, nên cá có hạt lòng vực ăn. Tiêu Thắng ăn no căng cả bụng.

Bố nói, phải đưa Tiêu Thắng đến cùng vì có ba lý do: một là bà nội đã mất rồi, ở quê chẳng còn ai cả; Hai là Tiêu Thắng đến tuổi đi học rồi, sau kỳ nghỉ hè sẽ đến một trường tiểu học cách đó không xa xin học; Ba là ở đây ăn uống cũng đầy đủ hơn một chút. Khẩu Ngoại đất rộng người ít, làm lụng cũng dễ hơn một chút. Ở đây, ruộng mỗi người tự giữ lại cũng được năm mẫu! Tùy nghi cày cuốc một mảnh cũng có thể trồng trọt được chút gì. Bố và mẹ bèn khai hoang một mảnh đất ở bên trạm nghiên cứu, trồng khoai tây, bí ngô. Khoai tây đã có hoa rồi, bí ngô cũng đã có nụ. Chẳng bao lâu nữa là có cái ăn.

Trạm nghiên cứu khoai tây rất vắng vẻ, tất cả không có bao nhiêu người. Có bố, mẹ, và mấy người công nhân. Công nhân thì đều có nhà riêng. Ở trong trạm chỉ có một nhà Tiêu Thắng. Chỗ này, đúng là yên tĩnh. Cả ngày không nghe thấy một âm thanh gì, ngoài tiếng gió thổi qua những bông lúa mạch, sàn sạt như một cơn mưa nhỏ. Thi thoảng có một con chim én nhỏ cất tiếng kêu chí chách.

Hàng ngày bố đội một chiếc mũ rơm ra đồng cùng làm việc với những công nhân, làm cỏ cho khoai tây. Cũng có lúc bố đọc sách, tra cứu tài liệu. Mẹ thì cứ sáng dậy lại đi khắp nơi hái một nắm tướng hoa khoai tây, một nắm tướng lá khoai tây mang về cắm vào lọ, dồn hết tinh thần nhìn vào nó, rồi vẽ từng nét từng nét một. Những bông hoa mẹ vẽ giống hệt những bông hoa thật! Tiêu Thắng ngày nào cũng theo mẹ ra đồng, lúc quay về giày và gấu quần đều ướt đẫm vì sương. Hai đôi giày mới bà làm cho nó vẫn chưa đi. Giày và hai lọ bơ đều được mẹ cất vào tủ khóa lại.

Ban ngày không có việc gì, nó bèn chạy chơi khắp nơi, đi lang thang. Ở đây rộng lắm, không có gì ngăn cản hết, chạy rất xa, ngoảnh đầu lại vẫn nhìn thấy dãy phòng của trạm nghiên cứu, không thể lạc được. Nó chạy ra đồng cỏ đi xem bò, xem ngựa, xem dê.

Cũng có lúc nó ra chăm chút cho vườn bí ngô, khoai tây của nhà mình. Dẫy cỏ một tí, rồi ra giếng khoan lấy nửa thùng nước đem lại tưới. Việc này chẳng phải là chơi. Tiêu Thắng đợi để được ăn chúng. Nhà Tiêu Thắng cũng không nấu cơm, mà lấy thức ăn từ nhà ăn của đại đội. Đồ ăn của nhà ăn càng ngày càng kém đi. Cháo lòng vực đã không còn nữa rồi. Bánh bột ngô cũng không còn nữa rồi. Bây giờ ăn bánh bo bo đỏ, với canh rau cải ngọt. Tiếp theo đây, có nhẽ sẽ còn kém nữa. Tiêu Thắng đã hơi sợ bị đói rồi.

Nó học được việc hái nấm. Đầu tiên là mẹ dẫn nó đi hái hai lần, sau đó thì tự nó cũng biết đi hái. Sau cơn mưa xuống, mặt trời vừa ló lên, không khí ẩm ướt lép nhép, là nấm sẽ mọc lên. Lũ nấm sinh sôi rất kỳ lạ, đều mọc ở trong cái “vòng nấm”. Tiêu Thắng cúi thấp đầu xuống, nghiêng mắt nhìn xem, xa xa trên đồng cỏ có một vòng tròn cỏ mọc sẫm màu khác thường, xanh đen xanh đen đi, thấp thoảng trong đó có thể nhìn thấy mấy cái chấm trắng, đó chính là một “vòng nấm” tròn xoe. Nấm sẽ mọc trên vòng tròn cỏ sẫm mầu ấy. Phía trong vòng tròn không có, phía ngoài vòng tròn không có. Vòng nấm sẽ cố định ở đó. Năm nay nấm mọc, sang năm lại mọc. Chỗ nào có vòng nấm, những người dân ở đó đều biết cả.  

Có một cái vòng nấm như phát cuồng, nó không ngừng mọc nấm, lớn nhanh như thổi, mọc nấm liền ba ngày ba đêm, cứ như có ma, nhìn đến phát sợ. Bảy tám nhà quanh đó đều tới hái, lấy dây xâu lại, treo dưới mái hiên nhà. Nhà nào cũng treo ba bốn xâu. Mọi người bảo, cái vòng nấm này sang năm sẽ không mọc nấm nữa, nó chết rồi. Tiêu Thắng cũng hái được một ít. Nó thích thú vô cùng, trong lòng như mở cờ. “Mày giỏi lắm! Mày giỏi lắm! Nhiều ghê! Nhiều ghê!” Nó phát tài rồi.

Làm sao nó lại thích thú như thế? Nấm có thể ăn được mà!    

Tiêu Thắng vừa lấy dây xâu những cây nấm, vừa rơi nước mắt. Nó nhớ đến bà. Nó muốn gửi cho bà hai xâu nấm. Bây giờ thì nó đã biết, bà nó chết vì đói. Người ta không phải chết ngay lập tức vì đói, mà sẽ chết một cách từ từ vì đói.

Bánh bo bo đỏ ở nhà ăn càng ngày càng không ngon, vì độn thêm cám. Canh lá cải ngọt cũng càng ngày càng khó nuốt, vì chẳng có tẹo mỡ nào. Nó ghét thứ bánh bo bo đỏ độn cám ấy, ghét thứ canh cải ngọt không có dầu mỡ ấy!

Nó vẫn đi lang thang, chạy chơi khắp nơi.

Bên ngoài nhà ăn đại đội bỗng náo nhiệt hẳn lên. Đầu tiên là người ta cho kéo một xe bò “gạch dê” đến. Tiêu Thắng hỏi bố, đó là cái gì. Bố nó bảo: “Gạch dê” - “Gạch dê là gì?” – “Phân dê đem ép chặt lại, cắt thành từng miếng từng miếng.” – “Dùng làm gì ạ?” – “Đốt!” – “Cái này đốt được ư?” – “Đốt tốt lắm đấy! Lửa rất đượm.” Sau đó người ta chuyển đến một cái bếp to. Rồi giết hơn mười con dê. Tiêu Thắng đứng bên cạnh xem làm thịt dê. Nó chưa từng được xem giết thịt dê bao giờ. Ồ, không rơi một giọt máu ra ngoài, một tấm da dê được lột ra nguyên lành!

Việc này để làm gì vậy?

Bố bảo, sắp hội nghị cán bộ ba cấp!

“Sao lại gọi là Hội nghị cán bộ ba cấp?”

“Đợi con lớn lên rồi sẽ biết!”

Hội nghị cán bộ ba cấp, tức là cán bộ ba cấp ăn cỗ.

Đại đội vốn có hai nhà ăn, nhà ăn phía nam, và nhà ăn phía bắc, ở giữa cách một khoảng sân, trên sân lại che một cái rạp nhỏ, trời mưa cũng có thể đi qua lại giữa hai nhà ăn được. “Xã viên” vốn được chia ra ăn cơm ở hai nhà ăn. Nay có hội nghị cán bộ ba cấp, thì tất cả mọi người đều chen nhau dồn sang ăn ở nhà ăn phía bắc cả. Nhà ăn phía nam để trống, dành cho các cán bộ tham dự hội nghị.

Hội nghị cán bộ ba cấp họp trong ba ngày, ăn cỗ ba ngày. Bữa trưa ngày thứ nhất là thịt dê, nấm rơm tẩm bột. Ngày thứ hai, thịt kho, cơm trắng. Ngày thứ ba, bánh bột mì bơ nướng. Bữa tối thì chỉ qua loa láo nháo thôi.

“Xã viên” và “cán bộ” cùng ăn cơm một giờ. Xã viên ăn ở nhà ăn phía bắc, cán bộ thì ở nhà ăn phía nam. Nhà ăn phía bắc vẫn là bánh bo bo đỏ, canh cải ngọt. Người trong nhà ăn phía bắc ngửi mùi thức ăn từ nhà ăn phía nam bay sang, lại bảo: “Thịt dê, nấm rơm tẩm bột, thơm quá, thơm quá!”, “Thịt kho, cơm trắng thơm quá, thơm quá!” “Bánh bơ nướng, thơm quá, thơm quá!”

Tiêu Thắng mỗi bữa đi lấy cơm cũng ngửi thấy mùi thơm thức ăn từ nhà ăn phía nam. Thịt dê, cơm trắng, nó cũng chẳng lạ gì. Nó đã từng thấy, cũng từng ăn rồi. Nhưng bánh bơ nướng thì nó chưa từng được ngửi mùi lần nào. Thơm thật, ngửi thấy mùi thơm đó, chỉ muốn được ăn một miếng.

Về đến nhà, vừa ăn cái bánh bo bo đỏ, nó vừa hỏi bố: “Vì sao họ lại được ăn bánh bơ nướng?”

“Vì họ tham dự hội nghị.”

“Hội nghị làm sao lại được ăn bánh bơ nướng?”

“Họ là cán bộ.”

“Cán bộ làm sao lại được ăn bánh bơ nướng?”

“Ôi dào! Sao con hỏi lắm thế! Ăn bánh bo bo đỏ của con đi!”

Đang nuốt miếng bánh bo bo đỏ, mẹ Tiêu Thắng bỗng nhiên đứng dậy, dốc chút bột mì trắng tinh trong hũ ra, rồi lại lấy từ trong tủ ra một lọ bơ mà bà nội còn chưa hề đụng tới, mở lắp nọ, xắn ra một miếng to, tìm lấy một nắm đường trắng, đánh đều, rồi cán làm hai cái bánh bột mì trộn bơ, bỏ vào lò nướng chín. Cái bánh bơ tỏa mùi hương thơm ngào ngạt, y như mùi thơm bốc ra từ nhà ăn phía nam. Mẹ để cái bánh bơ trước mặt Tiêu Thắng, nói:

“Ăn đi con, đừng hỏi nữa.”    

Tiêu Thắng ăn hai miếng, đúng là ngon thật. Bỗng nhiên nó nhệch miệng bật khóc thành tiếng, rồi gọi to một tiếng: “Bà ơi!”

Mắt mẹ nó cũng ngân ngấn lệ.

Bố bảo: “Đừng khóc nữa, ăn đi.”

Tiêu Thắng vừa ròng ròng nước mắt, vừa ăn cái bánh bơ. Nước mắt chảy cả vào miệng nó. Bánh bơ nướng thì ngọt, còn nước mắt thì mặn chát.     

Châu Hải Đường dịch

(TC VNQĐ số 986 - 987, tháng 4-2022)

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2022

ANH KHANG TRỞ VỀ - (Vương An Ức)

 Nghe nói anh Khang đã về rồi, đang ở nhà người anh trai, hình như bị ốm nặng lắm. Đã hẹn nhau đi thăm anh ấy, nhưng vì bận quá, mà đường lại xa, hơn nữa lại đông người, nên cuối cùng cũng không thể tụ tập đủ và hẹn ngày cụ thể được, thế là dây dưa mãi đến hôm nay đã gần một tháng rồi, mà vẫn còn chưa đi thăm được. Hơn nữa, cũng không nghe thấy có tin tức gì mới, thành thử dần dà mọi người cũng quên khuấy cả đi.

Xa nhau tròn hai chục năm, gần như là nửa đời người rồi còn gì. Cuộc sống bận rộn mà lại lắm biến cố, thực sự là không có mấy khi rảnh rỗi an nhàn để nhìn lại, đến khi bất chợt ngoảnh đầu, thì chẳng khác gì chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay mà đã đi xa mười vạn tám ngàn dặm vậy. Những chuyện ngày xưa, nghĩ lại tuy còn rõ ràng, mà rốt vẫn mờ mịt như từ kiếp trước, giống như một giấc mơ chẳng phải là thực.

Thuở học cùng với anh Khang, chúng tôi mới độ hơn hai mươi tuổi một chút, ai cũng có hùng tâm tráng chí bể rộng sông dài cả. Chí nguyện của anh Khang là viết một bộ sách về Lịch sử âm nhạc Trung Quốc, đó là một tâm nguyện không nhỏ cũng không lớn, nhưng thực tế lại muôn phần khó khăn. Anh ấy vốn có biệt danh là “kho tư liệu sống”, hồi học năm thứ hai đã tích lũy được số phích thư viện đầy một thùng đựng xà phòng. Anh luôn nói rằng, Trung Quốc là quốc gia viết sử sớm nhất, và lập chí phát huy truyền thống đó. Nhưng chỉ thấy anh ấy khổ công tìm kiếm thu thập tư liệu, mà rất lâu vẫn không đặt bút viết. Đừng nói là sách, đến một bài viết ngăn ngắn để có thể đăng trên tập san của trường cũng không thấy có, khiến ai cũng thất vọng. Trong khi ấy, đã có người hùng tâm hăng hái, viết xong được bản đại hợp xướng “Dòng sông hạnh phúc” hùng vĩ, giành được huy chương hạng nhất về Đại hợp xướng trong của Liên hoan Thanh niên Quốc tế lần thứ 7 rồi. Hỏi anh, thì anh liền nói: “Để thời gian nữa, để thời gian nữa!”. Tận đến khi phải đội lên đầu cái mũ Phái Hữu trong cuộc đấu tranh chống hữu khuynh, bị đày tới Thanh Hải, cũng chưa thấy anh viết ra được nửa câu một chữ nào. Tôi với anh, tuy không có khúc mắc gì, nhưng cũng không phải là thân thiết. Vì là một con mọt sách, nên anh ấy trước giờ rất ít bạn bè thân mật. Tuy là “mọt sách”, nhưng anh cũng rất bình thường, không có nhiều chuyện buồn cười, cũng không gây ra việc ngu ngốc gì mà những kẻ đọc sách đọc đến mụ đầu hay làm. Cho nên, khi nhớ về anh, nó rất mờ nhạt và không có mấy điều xúc động. Chỉ là thấy anh nhanh chóng bị cho là phái hữu mà trong lòng cảm thấy có chút tiếc nuối. Song, tội trạng của anh ấy cũng chỉ là mấy câu bình luận hơi tỏ ra bất mãn với hiện thực mà thôi, nếu so với nhóm của ba người công nhiên đưa ra những ý kiến khác với Tiển Tinh Hải[1], thì còn thiếu sự mạnh mẽ oanh liệt, vì vậy, rốt cuộc cũng không lưu lại ấn tượng sâu sắc gì. Về sau, ngày càng có nhiều người vô tội, mà dường như đều gặp phải những bất hạnh bi thảm hơn, vì vậy chút tiếc nuối ấy cũng mờ nhạt đi.

Nhưng rốt cùng, đã từng là bạn học với nhau, sau hai mươi năm đến bây giờ, thì ý vị của hai từ “bạn học” đã không còn chỉ là “bạn học” nữa, mà tựa hồ còn bao gồm cả những ký ức về những năm tháng đẹp đẽ hai mươi năm trước. Cho nên, cái tâm tình muốn đến thăm anh là hoàn toàn thành thực.

Hôm ấy, có việc ở gần nhà anh trai Khang, nên sau khi xong việc, tôi bèn đến thăm anh.

Quê anh Khang vốn không phải ở Thượng Hải, nhà ở Trấn Giang là anh cả anh ấy đưa anh ấy ra ở để đi học. Vì vậy mỗi cuối tuần, anh ấy lại đến nhà anh trai mình chơi. Khi ấy, anh cả anh ấy đứng đầu nhóm vĩ cầm của dàn nhạc, bây giờ đã nghỉ hưu, lúc thì viết mấy bản nhạc, cũng có lúc viết văn chương. Khi hội họp hay liên hoan cũng có lúc trông thấy, thấy thì đều gật đầu chào, nên cũng không xa lạ gì, tôi cũng biết chỗ nhà ông ấy mới chuyển đến.

Nhà ông ấy trên tầng 12 của một tòa nhà mới được xây dựng, đi thang máy lên. Ra khỏi thang máy rẽ sang tay trái thì là căn hộ đầu tiên chính là nhà ông ấy. Trên cửa có chuông điện, nhấn chuông, không có ai đáp lời. Lại nhấn lần nữa, còn chưa nhấn xong, thì cửa đã lặng lẽ mở ra. Một người đàn bà quê mùa chừng hơn sáu mươi nhìn tôi vẻ dò hỏi, có lẽ là người giúp việc nhà ông ấy. Giọng Thượng Hải của bà ta còn nặng khẩu âm vùng Tô Bắc.

“Nhà bác ấy đi vắng cả rồi.”

“Đi vắng cả rồi ạ?” – Tôi vô cùng thất vọng, bởi quãng đường đi chẳng gần chút nào, mà cơ hội để qua lại thế này cũng không lấy đâu ra nhiều.     

“Chỉ có một người đang ốm.” Bà ấy lại nói.

“Tôi chính đang muốn thăm người bị ốm ấy đây.” – Tôi vội vàng nói, cảm thấy mừng rỡ vô cùng, rốt cuộc đã không uổng công mình đi.

“Thăm người ốm?” – Bà ta nhìn tôi vẻ vô cùng nghi hoặc, sau đó mới né người, để tôi bước vào.

Tôi bước vào trong, đó là một căn hộ chung cư nho nhỏ mới xây dựng, trước khi chuyển vào ở, chủ nhà đã tự sửa chữa lại, dán giấy dán tường, lát sàn, nhà tắm đã ốp lát gạch men và tranh khảm, lắp đèn chùm, treo mấy bức tranh sơn dầu, xem ra cũng khá sang trọng. Tôi nhìn ngó hết bên trái lại bên phải, đi qua lối đi hẹp và ngắn, căn buồng quay hướng nam cửa đã khóa, còn căn buồng quay hướng bắc thì đang mở, bên chiếc bàn vuông có một người đang ngồi, gục xuống mặt bàn ngủ gật. Khả năng chính là anh Khang rồi.

“Anh Khang!” – Tôi gọi.

Không có tiếng trả lời, anh ấy vẫn ngủ gật.

Tôi lại gọi một tiếng nữa.

Vẫn không có động tĩnh gì, hình như có gì đó không ổn, tôi lấy làm nghi hoặc, quay đầu lại nhìn xem, thì bà già giúp việc đã đứng sau lưng, hai tay khoanh tròn lại đè lên cạp váy, đứng nhìn rất ra vẻ.

“Đây là anh em của ông chủ nhà phải không?” – Tôi hỏi bà ta.

“Chú quen biết với chú ấy?” – Bà ta hỏi lại tôi.

Tôi gật đầu.

Bà ta bèn nói: “Chú cứ gọi thử xem thế nào.”, rồi đi khỏi. Từ trong nhà vệ sinh vọng lại tiếng giật nước.

Tôi lại gọi, nhưng anh ấy vẫn không đáp lời. Trong lòng thấy vô cùng kỳ lạ và bất an, tôi chầm chậm đi vòng qua bên cạnh anh ấy, thì phát hiện ra anh ấy không hề ngủ, mà chỉ cúi đầu, một tay đỡ lấy đầu, còn một tay cứng đờ đang vạch gì đó trên mặt bàn. Nhưng đó là một người hoàn toàn lạ mặt, gầy kinh dị, mà trước nay tôi chưa từng trông thấy một dáng vẻ nào gầy gò đến như thế, tựa hồ chưa từng có mặt mũi, mà chỉ là một bộ xương trán, xương gò má, xương hàm, bọc một lớp da gần như thấu sáng. Bất giác tôi thấy hơi run.

“Có phải anh Khang không?” – Tôi hỏi ông ta.

Ông ta không hề nhìn tôi, tựa như không nghe thấy gì cả, ngón tay vẫn vạch vạch cái gì đó trên bàn.

Tôi đi lại gần, đỡ lấy vai ông ta, để mặt ông ta đối thẳng trước mắt mình, khi ấy ông ta mới nhìn vào tôi, nhưng biểu hiện rất mơ hồ.

“Anh có nhận ra tôi không?” – Tôi hỏi ông ta.

Ông ta không có biểu hiện gì, trên khuôn mặt không có chút cơ thịt gì để có thể giúp ông ấy biểu lộ cảm giác được, nhưng ông ta thực sự không có biểu lộ gì.

Tôi buông vai ông ta ra, ông ta lại phục xuống mặt bàn như cũ, tay vạch vạch cái gì đó. Cứ nhìn theo như nét viết, thì giống như ông ta đang viết một chữ “Gạo”.

Tôi hơi run lên, chầm chậm lui khỏi căn buồng. Bà giúp việc đang giặt quần áo trong nhà tắm, thấy tôi đi ra, bèn hỏi:

“Có nhận ra chú không?”

Tôi lắc đầu.

“Từ Thanh Hải về chú ấy đã như thế rồi. Nhưng, ăn cơm, đi ngủ vẫn còn biết, đại tiểu tiện cũng biết. Nhưng cũng không thể nói là biết được, phải có người chỉ dẫn cho chú ấy, thì chú ấy sẽ làm được, không hề rối loạn bao giờ.” Bà ấy có vẻ khá hài lòng.     

“Bà có biết anh ấy bị làm sao không?” – Tôi vừa hỏi, vừa đưa tay sờ lên trên trán, thấy mồ hôi đã rịn ra dâm dấp. 

“Nghe nói là bị vỡ mạch máu não, mà vỡ cũng vỡ đến lạ, không hề bị ngã, cũng không va đập vào cái gì, đang ngủ ngon lành thế là bị vỡ.”

“Thế chắc là bị xuất huyết não rồi.”

“Cũng là cái số, vốn đã sắp được về Thượng Hải rồi, hộ khẩu, công tác, nghe nói đều đã làm xong cả rồi, cuối cùng lại bị vỡ mạch máu não, hóa ra bộ dạng thế này.” Bà ta cần mẫn vò quần áo, bọt xà phòng trắng xóa như tuyết tràn ra khắp xung quanh.

“Bà được thuê để chăm nom cho anh ấy đấy à?”  Tôi hỏi.

“Tôi trông chú ấy cũng đáng thương nên mới đến đây, chứ tôi vốn đang làm bên tòa nhà Long Phi tốt lắm. Một nhà bốn người, hai người lớn, hai đứa trẻ, đứa lớn đang học đại học, thứ bảy mới về, nên tự do nhàn nhã lắm. Thực sự là tôi thấy chú ấy đáng thương nên mới sang đây.” Bà ta vừa nói, hai tay vẫn chăm chỉ vò trong đống bọt xà phòng.

“Ở đây cũng không đến nỗi bận lắm.”

“Sao lại không bận? Chả khác nào trông em bé, đi đâu cũng không dám đi. Ở bên tòa nhà Long Phi, tôi còn làm thêm việc giặt đồ cho hai nhà nữa cơ đấy. Ông chủ nhà đây nói, sẽ bù thêm tiền lương cho tôi. Tôi bảo, tôi làm có phải là vì tiền đâu!”

Tôi nói rằng mình phải đi rồi, thì bà ta mới tỏ ý giữ ở lại, nói là quên mất chưa pha trà mời uống nước, tôi vội bảo không cần thiết, rồi đi khỏi ra ngoài. Sau khi ra khỏi nhà thì phát hiện ra quên mất chìa khóa xe, nhớ lại khi nãy lúc tôi đỡ vai anh ấy đã vứt nó lên mặt bàn, vì vậy tôi lại quay vào để lấy. Anh ấy nhìn mà như không trông thấy, vẫn tựa vào bên cạnh bàn, ngón tay vạch lên mặt bàn hình chữ “Gạo”, không biết là nghĩa thế nào.

Trên đường về nhà, trong đầu tôi cứ nghĩ đến anh Khang mãi, không rõ anh ấy làm sao mà ra nông nỗi như thế. Một thân một mình ở Thanh Hải, suốt hai mươi năm, các bạn cùng học không một ai tin tức thư từ gì. Rốt cuộc anh ấy đã sống qua hai mươi năm đó thế nào, tất cả đã bị chôn giấu trong im lặng. Về tới nhà, ăn cơm, đi ngủ, chơi đùa với các con rồi, mà tôi vẫn không thể gạt bỏ được hình ảnh bộ dạng như một cây củi khô của anh Khang sang một bên, thành thử chẳng làm sao mà an tĩnh lại được. Tôi luôn muốn tìm một ai đó để nói chuyện này, nhưng cứ định cất lời, lại cảm thấy chẳng nói được rõ ràng, nên cuối cùng không nói nữa, mà chỉ tính cách bố trí lại đến thăm anh ấy một bận, hy vọng có thể gặp được người anh cả của anh ấy.

Chọn một ngày nghỉ, mang theo một hộp bánh, tôi lại đến nhà Khang.

Chẳng ngờ, anh cả anh ấy không ở nhà, nghe nói là có cuộc hẹn, chị dâu anh ấy cũng không ở nhà, dẫn con đến lớp học đàn rồi. Anh Khang đang nằm ngủ trưa trên chiếc giường gấp. Bà giúp việc thấy tôi đến, bất chợt khỏi cơn buồn ngủ. Vì đây đã là lần thứ hai gặp lại, nên bà ấy nhiệt tình hơn hẳn, lập tức pha trà, mời tôi ngồi, rồi bảo:

“Buổi trưa, ăn được bát rưỡi cơm, với sườn, cải xanh, đậu, lại húp bát canh. Ăn thì ăn được đấy, chỉ phải đút cho chú ấy ăn. Ăn xong thì đi ngủ, cứ ngủ một giấc là đến ba giờ, rồi là ngồi ở đó.”

“Trông anh ấy như thế, chắc chẳng nhận ra được ai mấy?” – Tôi hỏi. Trong lòng chỉ mong anh ấy có chút chuyển biến tốt.

“Chẳng nhận được ai mấy.”

“Thế, anh cả anh ấy thì sao?”

“Bác cả bảo, thì chú ấy dường như có vẻ nghe được một tí. Bây giờ, tôi bảo chú ấy, thì chú ấy có vẻ cũng nghe được chút rồi.”

“Xem chừng, trong tâm trí anh ấy vẫn còn hiểu được một chút.” Tôi thở phào một hơi.

“Tôi bảo chú ấy ăn cơm, chú ấy cũng biết cầm bát, bảo đi ngủ, chú ấy cũng biết cởi giày, cởi áo ngoài, làm giỏi lắm.”

“Bà phải chăm sóc cho anh ấy tốt vào.”

“Tôi có chăm sóc chú ấy không tốt bao giờ! Ông chủ bảo tôi mua cái gì ngon ngon cho chú ấy ăn, nghe nói ở Thanh Hải chú ấy chả có gì ăn, bây giờ nên là lúc được hưởng phúc rồi. Ngày nào tôi cũng phải động não nghĩ món mới cho chú ấy, hôm qua đã mua gan lợn, còn hôm nay là sườn, làm sườn xào chua ngọt.”

“Anh ấy có thích ăn không?”

“Chú ấy biết thế nào là ngon đấy! Như hôm nay này, sườn xào, chú ấy ăn nhiều lắm, biết cả đấy!”

Tôi thở phù một hơi.

“Chú này!” – Bà giúp việc gọi tôi – “Chú bảo, tôi làm như thế, chẳng phải là được việc quá còn gì? Chỉ còn kịp mỗi thở thôi đấy!”

Tôi không biết đáp lời bà ấy thế nào.

“Nói cũng đúng, người ta cũng chỉ cần còn thở được, còn thở được là còn sống, không còn thở thì chết mất rồi.” Bà ấy chép miệng nói. Ánh nắng buổi chiều qua cửa sổ phía tây rọi vào, soi lên mái đầu dường như rụng gần hết tóc của bà ấy, sáng lấp loáng.

Anh Khang động đậy trở mình trên chiếc giường gấp.

“Dậy rồi.” Bà giúp việc đứng dậy, đi đến đỡ anh ấy lên. Anh Khang nhờ bà ấy đỡ ngồi trở dậy, rồi lại đứng hẳn lên, chầm chậm nhờ bà giúp việc đỡ đến bên chiếc bàn vuông ngồi xuống, đối diện với chỗ tôi ngồi. Ánh mắt lướt qua tôi vô định, rồi đáp xuống mặt bàn. Ngồi như vậy hồi lâu, ngón tay anh bắt đầu cử động trên mặt bàn, vẫn là vạch nên một chữ “Gạo” ấy.

Bà giúp việc vừa thu dọn chiếc giường gấp, vừa nói với tôi: “Đấy, chú ấy lúc nào cũng như thế.” Bỏ chiếc giường vào trong tủ tường xong, bà ấy bèn đi lại, đỡ anh Khang bảo: “Đi vệ sinh nhé!”

Anh Khang ngoan ngoãn đi theo bà ấy, một lát, từ trong nhà vệ sinh có tiếng xối nước vọng lại. Tôi đứng lên, quyết định cáo từ, trong bụng rất không muốn nhìn bà giúp việc biểu diễn công việc sinh hoạt của anh ấy cho tôi xem. Tôi nói mình phải đi, quả nhiên bà ấy tỏ ý thất vọng, bảo còn chưa uống xong trà! Nhưng tôi vẫn rời khỏi đó.     

Tôi không còn muốn lại tới thăm anh ấy nữa, nhưng trong lòng vẫn đầy nghi hoặc, không biết cuộc sống trong hai mươi năm ấy của anh rốt cuộc thế nào? Xem ra còn chưa lấy vợ, mà làm sao anh đột nhiên lại đổ bệnh như vậy? Còn nữa, cái chữ “Gạo” được anh luôn viết đi viết lại mãi ấy, là nghĩa thế nào? Tất cả những điều ấy, chỉ có đi hỏi anh cả anh ấy thôi. Thật khéo, hôm ấy đi xem phim ở Hội trường Văn nghệ, tôi đã gặp được anh cả của anh Khang, sau khi gật đầu chào nhau, tôi bèn lên tiếng:

“Đến nhà anh hai bận mà đều không gặp được anh.”

“Hóa ra là anh! Tôi có nghe bà cô giúp việc nói, mà rốt không nghĩ ra được là ai.” – Ông ấy vô cùng nhiệt tình, mời tôi ra căng-tin ngồi một chút, tôi bèn cùng đi. Vẫn còn hơn mười phút mới đến giờ chiếu phim.

“Anh Khang bị làm sao mà khổ thế không biết!” – Không đợi ngồi yên, tôi bèn hỏi ngay.

Anh ấy lặng lẽ hồi lâu, móc một điếu thuốc, châm.

“Anh Khang vẫn chưa lập gia đình?”

“Chưa.” – Ông ấy lắc đầu.

“Anh Khang ở đó thế nào?”

Người anh cả nhả một hơi khói. Ngón tay trỏ và ngón tay giữa kẹp lấy điếu thuốc, ngón cái và ngón áp út xoay xoay hộp diêm, rồi chậm rãi nói: “Đầu tiên là lao động, sau đó được điều đến phòng văn hóa một huyện.” Ông ấy nói tên của một huyện, mà tôi chưa từng nghe thấy bao giờ.

“Huyện gì?” – Tôi hỏi lại.

Ông ấy nhắc lại một lần nữa, nhưng vẫn là rất xa lạ, nghe rất kỳ dị, cũng không biết mấy chữ ấy viết như thế nào.

“Từng ấy năm, anh ấy có về nhà lần nào không?”

“Về nhà hai lần, cũng không tránh khỏi gầy đi một chút, nhưng tinh thần còn tốt.”

“Anh ấy vẫn gửi thư về luôn chứ?”     

“Trong thư thì lúc nào cũng nói tốt lắm. Tôi có mấy lần gửi bột mạch khô cho nó, nhưng lúc nào nó cũng bảo không cần phải gửi, thế là tôi không gửi nữa. Bây giờ nghĩ lại, vẫn cứ áy náy với nó. Về sau nghe người ta nói, cuộc sống ở Thanh Hải vô cùng khốn khó.”

“Nhưng, rốt cuộc thì anh cũng khó làm được gì cho anh ấy.” Tôi an ủi ông.

“Sau khi “Bè lũ bốn tên” bị đánh đổ, tôi đã chạy vạy cho nó, cuối cùng cũng xong. Được cải chính rồi, có chính sách rồi, sắp được về Thượng Hải rồi, hành lý cũng đều đã chuẩn bị xong xuôi, đã đánh điện đi rồi đấy. Chúng tôi đi đón xe, nhưng không đón được, nghĩ bụng không chừng có việc gì ngăn trở rồi, nào ngờ vừa từ bến xe quay về đến nhà, thì nhận được điện báo khẩn cấp của đơn vị nó, nói là nó bị bệnh rất nguy ngập. Chúng tôi bàn nhau đi Thanh Hải, chẳng ngờ lại có điện báo gửi đến, nói là nó đã qua cơn nguy hiểm, trong ngày đã cho người hộ tống về Thượng Hải, nên chúng tôi lại không đi nữa. Về sau lại lấy làm tiếc, đáng ra nên đi một chuyến, chứ bây giờ rốt cuộc nó đã ở đâu, sống như thế nào, chúng tôi chẳng biết gì hết.”

“Anh không hỏi thăm cái người đã đưa anh ấy về ư?”

“Đưa nó về là một cậu thanh niên còn trẻ, vừa mới được phân về phòng Văn hóa chỗ nó mấy tháng, cũng không quen biết gì em tôi cả, chỉ nói nó là người rất trung hậu. Điều ấy thì chẳng cần cậu ta nói.” – Ông ta bật cười với vẻ khác thường – “Cùng đem về theo người, còn có một cuốn sổ nát, một cái vali da rách, với mấy trăm đồng bạc. Chỉ có thế thôi.”

“Anh ấy về đến nhà đã như thế rồi?”

“Đã thế đấy! Có lẽ ngây ngơ hơn một chút. Bây giờ ở nhà đã khá hơn lên tí xíu rồi.”

“Rốt cuộc là anh ấy bị bệnh gì?”

“Xuất huyết não. Vào tối trước hôm lên xe về, đại khái là vì hưng phấn quá độ mà bị như thế.”

Tôi im lặng.

Ông ấy cũng im lặng.

Im lặng hồi lâu, tôi hỏi: “Anh ấy cứ luôn luôn viết một chữ “Gạo” ấy là nghĩa làm sao?”

“Chúng tôi cũng cảm thấy rất kỳ lạ, thực sự là kỳ lạ. Cái gì nó cũng quên hết, nhưng chỉ nhớ một chữ “Gạo” vô nghĩa ấy. Bà xã tôi bảo, có nhẽ đận đói kém mất mùa khi ấy đã khiến chú ấy vô cùng khốn khó, nên đã nhớ chết vào đầu một chữ “Gạo” ấy. Thằng con tôi thì bảo, chắc đó là cô gái họ Mễ[2] nào, nó lại còn mở cả cuốn “Bách gia tính” ra để chứng minh cho tôi là đích thực có họ Mễ nữa chứ. Tôi nghĩ, cũng có khi chả phải là chữ nào cả, mà đó chỉ là những đường nét đơn giản, mà nó quen tay vẽ ra một cách máy móc vô ý thức thôi. Anh xem, đó chẳng phải là những đường nét đơn ư, chỉ có hai chữ thập cắt nhau.” Ông ấy dùng ngón áp út, chấm vào vết nước trà ở bên cạnh, vẽ ra cho tôi xem.

Tôi thấy buồn bực trong lòng, xin một điếu thuốc, chụm vào đầu điếu thuốc của ông ấy châm, rồi bật ho thành tiếng.

“Cũng có thể, đó đúng là chữ, thì ấy hẳn phải là một điều khắc cốt ghi tâm lắm. Rốt cuộc nó có nghĩa là gì, thì lại thấy không đành lòng mà truy xét tiếp nữa.” – Ông ấy cười vẻ buồn rầu.

Tôi ho hắng.

“Muốn hiểu được tất cả mọi điều, tốt nhất là tới nơi ấy một chuyến. Nhưng, xa xôi quá, huyện mà nó ở lại càng hẻo lánh, cơ hội để đi tới đó e là chẳng có nhiều.”

“Những năm tháng ấy, các bạn học cũ chúng tôi đã thiếu quan tâm đến anh ấy quá.” Tôi hối hận nói.

“Nếu nói như vậy, thì phải là tôi mới đúng. Thời gian đó, mọi người đều khó mà bảo vệ nổi chính mình. Nói ra thì, tôi với nó cũng chỉ là anh em cùng mẹ khác cha. Tôi đưa nó đến Thượng Hải, có thể lại là làm hại nó.”

Tôi dừng lại giây lát, cuối cùng cũng hỏi một câu mà tôi muốn hỏi từ lâu nhưng không dám nói ra: “Bác sĩ, có nói là, anh ấy có thể duy trì được bao lâu không?”

“Bác sĩ nói rồi. Nói là, có thể rất lâu.” Ông ấy nói xong bèn trở nên lặng lẽ, rồi dụi tắt điếu thuốc.

Tiếng chuông trong hội trường đã vang lên, không một ai trong chúng tôi cử động.          

Những cảnh ngộ mà anh ấy đã gặp phải suốt hai mươi năm qua rốt cuộc không thể biết được một tí gì, càng không biết cái chữ “Gạo” bất tử ấy là biểu thị điều gì? Chỉ biết rằng tất cả những gì bên trong anh ấy, thì chỉ có một chữ “Gạo” này là còn sống. May mà chữ “Gạo” này còn sống, nên anh ấy mới không bị chết hẳn, vẫn còn một chút hơi thở ra hít vào. Tôi bất giác nhớ đến câu nói về sự sống của bà giúp việc ấy, và cảm thấy thật thấu đáo, rốt cuộc vẫn là người già từng trải.   

Tiếng chuông lại vang lên lần thứ hai. Chúng tôi đều nghe thấy, và dường như cùng đứng lên một lúc.

“Vào xem phim đi!” – Ông ấy nói.

“Vào xem phim!” – Tôi nói.

Rồi chúng tôi cùng đi. Ánh mặt trời tựa như những giọt thủy ngân lăn tròn trên mặt lá./.


Châu Hải Đường dịch

(Đăng trên TC VNQĐ số 983, tháng 2/2022)

                                                                                                                                

 


Giới thiệu tác giả:

Vương An Ức, sinh năm 1954 tại Nam Kinh, Giang Tô, hiện sống tại Thượng Hải, nữ nhà văn đương đại Trung Quốc, hiện là Phó chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc, chủ tịch Hội nhà văn Thượng Hải, Giáo sư đại học Phúc Đán. Năm 1976 bà xuất bản tập tản văn đầu tay “Tiến lên”, năm 1987 được điều vào Ban sáng tác Hội nhà văn Thượng Hải, và theo đuổi sáng tác chuyên nghiệp. Năm 1996, Vương An Ức xuất bản tiểu thuyết “Trường Hận ca” và giành được Giải thưởng văn học Mao Thuẫn lần thứ 5. Từ năm 2005 đến nay, Vương An Ức nhiều lần giành được giải thưởng văn học như: giải thưởng văn học Lỗ Tấn lần 3 cho truyện ngắn “Phát lang tình thoại”, giải thưởng “Hồng Lâu Mộng” hạng nhất về Tiểu thuyết tiếng Hoa thế giới lần thứ 4 cho tiểu thuyết “Thiên hương”, Huân chương Hiệp sĩ về Văn học nghệ thuật của Pháp … Các tiểu thuyết của bà như “Thời đại Khải mông”, “Trường Hận ca”, “Thắm sắc hoa đào” đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam.



[1] Tiển Tinh Hải (1905 – 1945): đảng viên Đảng Cộng sản, nhà soạn nhạc nổi tiếng thời kỳ cận hiện đại Trung Quốc.

[2] Chữ “Gạo”, nguyên văn chữ Hán là “Mễ” (米). Họ Mễ là một trong những họ của người Trung Quốc.

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

TUỔI 18 RỜI NHÀ ĐI XA (Dư Hoa)

 Con đường trải nhựa liên tục trồi lên thụt xuống không ngớt, tựa như được trải trên đầu những ngọn sóng biển. Tôi đi bộ trên con đường quốc lộ chạy qua khu đồi núi ấy, thấy mình giống như một con thuyền. Năm ấy tôi mười tám tuổi, mấy sợi râu vàng vàng dưới cằm tôi đón gió phất phơ, đó là chòm râu đầu tiên đến đó "định cư", cho nên tôi đặc biệt trân trọng chúng. Tôi đi trên con đường ấy trọn vẹn một ngày, đã nhìn thấy rất nhiều núi và rất nhiều mây. Tất cả núi, tất cả mây đều khiến tôi liên tưởng đến những người quen thuộc. Tôi đã hướng về phía chúng mà gọi to lên biệt hiệu của họ. Cho nên, mặc dù đã đi cả một ngày nhưng tôi chẳng hề thấy mệt chút nào. Tôi đã đi hết cả một buổi sáng như vậy, và bây giờ đang bước vào thời gian cuối buổi chiều, chính xác hơn là đã nhìn thấy mái tóc của hoàng hôn. Nhưng tôi vẫn chưa bước chân vào một quán trọ nào.

Đi trên đường, tôi gặp không ít người, nhưng họ đều không biết phía trước mặt là nơi nào, phía trước có quán trọ hay không. Họ đều nói với tôi thế này: “Anh đi lên đấy xem xem!” Tôi thấy họ nói rất phải, thực sự là tôi đang đi tới đó xem đây. Nhưng tôi vẫn chưa bước chân vào một quán trọ nào cả. Tôi cảm thấy nên tự mình để tâm đến chuyện quán trọ này.

Tôi lấy làm lạ là mình đã đi cả một ngày mà chỉ một lần gặp ô-tô. Lúc ấy là buổi trưa, khi đó tôi vừa nghĩ đến việc bắt xe, nhưng chỉ mới có ý muốn bắt xe thôi, chứ chưa để tâm đến chuyện quán trọ. Khi ấy tôi chỉ cảm thấy bắt xe một bận thì thật vô cùng tuyệt vời. Tôi đứng bên đường hướng về phía chiếc ô-tô ấy vẫy tay, tôi cố gắng vẫy tay một cách sành điệu, nhưng người tài xế không thèm để mắt đến tôi. Chiếc ô-tô giống như người tài xế, cũng không thèm nhìn tôi, chỉ phóng vụt qua trước mắt tôi rồi mất hút con mẹ hàng lươn. Tôi lấy hết sức chạy đuổi theo sau xe một hồi. Tôi làm như vậy chỉ là cao hứng, bởi vì lúc đó tôi còn chưa lo lắng về chuyện quán trọ. Tôi đuổi theo cho tận tới khi chiếc ô-tô khuất bóng hẳn mới thôi, rồi tự cười ha hả thật to với chính mình. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện, cười to quá sẽ ảnh hưởng đến việc hô hấp, vì thế tôi lập tức ngưng lại không cười nữa. Tôi lại tiếp tục vui vẻ hăng hái lên đường, nhưng trong bụng thì bắt đầu cảm thấy hối hận, hối hận vì khi nãy không cầm theo một cục đá to trong bàn tay đưa ra vẫy xe thật sành đời ấy.

Bây giờ tôi thực sự muốn bắt xe, vì hoàng hôn đã sắp tới rồi, mà quán trọ thì vẫn còn ở trong bụng mẹ nó chưa đẻ ra. Nhưng cả một buổi chiều tôi không hề bắt gặp một cái ô-tô nào cả. Nếu bây giờ có xe mà chặn lại, thì tôi nghĩ tôi nhất định có thể chặn được. Tôi sẽ nằm ngang ra giữa đường, và dám chắc rằng tất cả những xe ô-tô sẽ đều phải phanh gấp lại bên cạnh tôi. Nhưng bây giờ ngay cả tiếng động cơ của xe ô-tô cũng không nghe thấy. Bây giờ tôi chỉ có thể đi tiếp xem thế nào thôi. Đúng vậy, đi tiếp xem thế nào.

Đường quốc lộ gập ghềnh lên xuống, những đỉnh dốc cao luôn dụ dỗ tôi, dụ dỗ tôi hộc tốc chạy lên để xem phía sau đó có quán trọ không. Nhưng lần nào cũng chỉ nhìn thấy lại một cái dốc cao khác, và ở giữa đó là một đoạn võng khiến người ta phải thất vọng. Mặc dù như vậy, nhưng tôi vẫn hết lần này đến lần khác chạy lên đỉnh dốc, lần nào cũng chạy thục mạng. Bây giờ tôi lại tiếp tục chạy lên một đỉnh dốc nữa. Lần này thì tôi đã nhìn thấy. Nhưng cái tôi nhìn thấy không phải là quán trọ, mà là một cái ô-tô. Cái xe đang đỗ lại ở hướng ngược chiều với tôi, nó đậu ở chỗ đoạn đường võng thấp xuống. Tôi trông thấy người tài xế đang chổng mông rõ cao, trên mông anh ta là ráng chiều. Tôi không nhìn thấy cái đầu của anh tài xế, đầu anh ta đang chúi vào trong đầu xe. Cái nắp capo xe, đang được dựng cao nghiêng nghiêng, trông giống như một cái miệng đang há hoác ra. Trên thùng xe chất một đống những sọt tre cao ngất. Tôi nghĩ, trong những sọt ấy nhất định là chứa đầy hoa quả. Tất nhiên, tốt nhất đó là chuối tiêu. Tôi nghĩ, trên cabin của anh ấy hẳn là cũng có, như vậy thì nếu tôi ngồi được vào đó là có thể lấy ăn được rồi. Có điều, chiếc xe đang chạy ngược tới chỗ tôi vừa đi khỏi, nhưng tôi đã không để ý đến phương hướng nữa rồi. Bây giờ tôi cần quán trọ, không có quán trọ thì cần xe ô-tô, mà ô-tô thì đang ở trước mặt.

Tôi hào hứng chạy tới, hướng về phía người tài xế cất tiếng chào: “Xin chào, anh hai!”

Người tài xế dường như không nghe thấy, vẫn lúi húi làm việc gì đó.

“Anh hai, hút thuốc!”

Khi ấy anh ta mới lấy hết sức, chui đầu ra khỏi capo xe, rồi vươn bàn tay đen xì xì lại, kẹp lấy điếu thuốc mà tôi đưa mời. Tôi vội vàng châm lửa cho anh ta, anh ta ngậm điếu thuốc trên môi, hít mấy hơi, rồi lại chui đầu vào trong sửa tiếp.

Thế là tôi có lí để yên lòng rồi. Chỉ cần anh ta nhận điếu thuốc của tôi, thì anh ta phải cho tôi lên xe. Tôi bèn đi lòng vòng quanh chiếc xe xem, đi lòng vòng là để trinh sát xem bên trong sọt đựng cái gì. Nhưng mắt tôi không nhìn ra được, bèn lại dùng mũi hít ngửi, mà nhận ra là mùi hương táo. Táo cũng không tệ, tôi nghĩ như thế.

 Không bao lâu thì anhta đã sửa xong xe, bèn đậy lắp capo nhảy xuống. Tôi vội vàng chạy lại nói: “Anh hai, em muốn xin nhờ xe.” Không ngờ, anh ta đưa bàn tay đen nhem nhẻm đẩy mạnh tôi một cái, thô bạo nói: “Cút đi!”

Tôi tức đến không nói được câu gì, còn anh ta thì thong thả mở cửa xe chui vào, rồi khởi động cho xe nổ máy. Tôi biết, nếu để lỡ cơ hội lần này thì sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tôi biết, bây giờ phải chơi tất tay rồi. Vì vậy bèn chạy ngay sang mé xe bên kia, cũng kéo mở cửa xe nhảy lên. Tôi đã sẵn sàng đánh nhau một trận với anhta trong buồng lái. Lúc chui vào xe, trước hết tôi quát vào mặt anh ta một câu: “Trên miệng anh vẫn còn ngậm điếu thuốc của tôi đấy!” Khi ấy, xe đã bắt đầu chuyển động.

Nhưng anh ta lại cười hì hì, quay sang nhìn tôi đầy vẻ hữu hảo, khiến tôi nghi hoặc không hiểu ra làm sao. Anh ta hỏi: “Cậu đi đâu?”

Tôi nói: “Đi đâu cũng được.”

Anh ta lại thân thiết hỏi, trong khi vẫn đang nhìn tôi: “Có muốn ăn táo không?” 

“Lại còn phải hỏi.”

“Ra đằng sau lấy đi.”

Anh ta lái xe nhanh như thế, tôi dám bò ra khỏi buồng lái ra thùng sau ư? Vì vậy tôi đành bảo: “Thôi vậy.”

Anh ta nói: “Đi lấy đi.” Mắt anh ta vẫn nhìn vào tôi.

Tôi nói: “Đừng nhìn nữa. Quốc lộ không ở trên mặt tôi đâu.”

Khi ấy anh ta mới quay đầu lại nhìn đường đi.

Ô-tô chạy về hướng mà tôi đã từ đó đi tới đây. Tôi thư thái ngồi trên ghế xe nhìn ra ngoài cửa sổ, cùng nói chuyện phiếm với anh tài xế. Bây giờ tôi với anh ta đã thành bạn bè rồi. Tôi đã biết anh ta làm vận tải cá thể. Chiếc xe ô-tô này là của chính anh ta, táo cũng là của anh ta. Tôi còn nghe thấy tiếng tiền kêu rổn rảng trong túi áo anh ta. Tôi hỏi: “Anh đang đi đâu?”

Anh ta đáp: “Cứ lái đi rồi xem thế nào.”

Câu nói ấy gần như giống y anh em của tôi nói, câu ấy mới thân mật làm sao. Tôi cảm thấy mình với anh ta càng gần gũi thêm một chút. Tất cả mọi thứ bên ngoài cửa xe có lẽ tôi đều quen thuộc cả, những ngọn núi kia, những đám mây kia đều khiến tôi liên tưởng tới một loạt những người quen thuộc khác, vậy là tôi lại gọi một loạt những biệt hiệu khác lên.

Bây giờ tôi căn bản không để ý gì đến quán trọ nào nữa, chiếc ô-tô này, anh tài xế này, cái ghế ngồi này khiến tôi thấy an tâm thuận lẽ. Tôi không biết cái xe phải đi đến chỗ nào, anh ta cũng không biết. Hơn nữa, trước mặt là nơi nào đối với chúng tôi mà nói cũng không có quan trọng cấp thiết gì. Chúng tôi chỉ cần cái xe còn lái được, thì sẽ lái về phía trước xem sao.

Nhưng ô-tô lại có sự cố. Lúc đó chúng tôi đã là bạn bè tốt đến không thể tốt hơn rồi. Tôi khoác tay lên vai anh ta, anh ta khoác tay lên vai tôi. Anh ta đang kể chuyện đương của mình cho tôi nghe, đúng lúc đang chuẩn bị nói đến cảm giác lần đầu ôm bạn gái thì cái xe sinh chuyện. Cái xe xảy ra sự cố khi đang lên dốc. Khi ấy nó đột nhiên chết máy, giống như con lợn chết vậy, bỗng dung không động đậy gì nữa. Anh tài xế lại bò lên đầu xe, lại lật cái “môi trên” ấy dựng hoác lên, lại chui đầu vào chữa. Tôi ngồi trên buồng lái. Tôi biết anh ta bây giờ lại đang chổng ngược mông lên trời, nhưng cái “môi trên” của cỗ xe đã chắn mất tầm nhìn của tôi, tôi không nhìn thấy cái mông anh ta. Nhưng tôi vẫn nghe được tiếng sửa xe của anh ấy.

Một lúc sau thì anh ta đã cất đầu lên, đậy lắp capo xuống. Lúc ấy, tay anh ta càng đen thêm. Bàn tay bẩn thỉu lau đi lau lại vào áo, rồi nhảy xuống đất đi lại.

“Sửa xong rồi?” – Tôi hỏi

“Toi rồi, không sửa được.” – Anh ta nói.

Tôi nghĩ, thôi xong. “Vậy làm thế nào?” – Tôi hỏi.

“Đợi xem sao thôi.” – Anh ta nói hững hờ.

Tôi vẫn ngồi trên xe, không biết nên làm thế nào. Bây giờ, tôi lại nghĩ đến chuyện quán trọ gì đó. Lúc này, mặt trời đã xuống núi rồi, ráng chiều bốc lên như những đám hơi nước. Quán trọ lại hiện lên trong đầu óc tôi như thế, hơn nữa mỗi lúc nó lại càng dần lớn hơn lên, chẳng bao lâu đã lèn chặt cả đầu óc tôi. Lúc này, trong đầu tôi không còn óc nữa, trong hộp sọ chứa khối óc đã mọc lên một cái quán trọ.

Người tài xế lúc này đang đứng giữa đường tập bài thể dục theo đài, anh ta làm từ động tác đầu tiên cho đến động tác cuối cùng vô cùng nghiêm túc. Tập thể dục xong, lại chạy bộ bước nhỏ quanh cái xe. Có lẽ anh ta cũng đã ngồi lỳ trong buồng lái lâu quá rồi, bây giờ anh ta cần rèn luyện thân thể một chút. Nhìn anh ta đang hoạt động ở bên ngoài, tôi cũng không thể ngồi yên trong xe được, bèn mở cửa xe nhảy xuống. Nhưng tôi không tập thể dục theo đài, cũng không chạy bộ. Tôi đang nghĩ về quán trọ và chỉ quán trọ.

Khi ấy tôi trông thấy từ trên dốc có năm người cưỡi xe đạp đi xuống. Trên gác-ba-ga phía sau mỗi chiếc xe đạp đều chở theo hai cái sọt rất to xỏ trên đòn tre. Tôi nghĩ, có lẽ họ là nông dân ở gần quanh đây, đi bán rau về. Trông thấy có người đi tới, trong lòng tôi vô cùng mừng rỡ, bèn bước lên trước đón gọi: “Chào các bác ạ!”

Năm người ấy, đạp xe đến trước mặt tôi bèn nhảy xuống. Tôi vui mừng bước lại, hỏi: “Gần đây có quán trọ nào không ạ?”

Họ không đáp lời, mà hỏi lại tôi: “Trên xe chở cái gì?”

Tôi nói: “Táo đấy!”

Năm người ấy đẩy xe đạp đi đến bên cạnh ô-tô, hai người trong bọn họ trèo lên trên xe, rồi vần ngay xuống mười sọt táo. Ba người ở dưới mở lắp sọt ra, rồi đổ táo vào sọt của họ. Tôi nhất thời không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa, cảnh tượng ấy khiến tôi há miệng tròn mắt. Đến khi hiểu ra, tôi bèn xông tới, mắng hỏi: “Các ông định làm gì vậy?”

Chẳng ai trong số họ thèm quan tâm đến tôi, cứ tiếp tục đổ táo. Tôi xông tới túm chặt lấy tay một người trong bọn họ, kêu to: “Có kẻ cướp táo này!” Khi ấy, một quả đấm đã táng ngay một cú trời giáng vào giữa mũi tôi, khiến tôi bắn ra xa mấy mét. Bò dậy rồi, vừa đưa tay sờ lên, thì cái mũi đã nhũn bét không phải là gắn vào mà chỉ là treo vào trên mặt tôi, máu tươi chảy tuôn tràn như những giọt nước mắt đau buồn. Nhưng khi tôi nhìn được rõ ràng gã đô con to khỏe vừa đánh mình ấy thì năm người bọn chúng đã nhảy lên xe đạp phóng đi rồi.


Anh tài xế lúc ấy vẫn đang chậm rãi tản bộ, miệng há ra hít thở những hơi dài, có lẽ vừa xong anh ta chạy đã mệt rồi. Dường như anh ta không hề biết một chút gì về việc vừa xảy ra. Tôi hướng về phía anh ta kêu lên: “Táo của anh bị cướp đi rồi!” Nhưng đại khái anh ta cũng không chú ý xem tôi đang kêu cái gì, vẫn chậm rãi tản bộ. Tôi rất muốn xông tới đấm cho anh ta một quả, để mũi anh ta cũng treo trên mặt như tôi. Tôi chạy lại quát to vào tai anh ta: “Táo của anh bị cướp đi rồi!” Khi ấy anh ta mới quay mình sang nhìn tôi. Tôi phát hiện ra anh ta càng lúc càng tỏ ra thích thú, tôi phát hiện ra anh ta đang nhìn vào mũi tôi.

Ngay khi ấy, trên dốc lại có rất nhiều người cưỡi xe đạp đi xuống, phía sau mỗi cái xe đều có hai cái sọt to, trong đám người đạp xe ấy có cả một số trẻ em. Họ hò nhau kéo tới như ong, lập tức vây lấy cái xe ô-tô. Một số người nhảy lên trên xe, những sọt táo được rầm rập hạ xuống, táo trong mấy cái sọt bị đánh rách chảy òa òa ra như máu trong mũi tôi vậy. Họ đều điên cuồng chất táo vào sọt của mình. Chỉ một loáng, tất cả số táo trên xe đã bị hạ xuống đất hết. Khi ấy, từ trên dốc lại có mấy cái xe công nông xoành xoành chạy xuống. Những cái công nông cũng dừng lại bên cạnh ô-tô. Một đám đàn ông nhảy xuống và bắt đầu chất táo lên công nông. Những cái sọt không lần lượt bị ném ra từng cái một. Bấy giờ, những quả táo đã lăn lóc khắp mặt đất, tất cả bọn họ đều như những con cóc ngồi xổm xuống nhặt táo.

Vào lúc đó, tôi dường như quên mất bản thân mình, hăng tiết nhảy xổ lại, lớn tiếng quát mắng: “Đồ kẻ cướp!”. Vậy là lại hàng loạt những cú đấm đá xông tới đón chào tôi. Tất cả mọi chỗ trên khắp toàn thân tôi,  tựa hồ cùng bị đánh một lúc. Lúc tôi gượng hết sức bò được dậy khỏi mặt đất, mấy đứa trẻ con lại cầm táo ném vào tôi. Những quả táo ném vào đầu tôi vỡ ra, nhưng đầu tôi thì không. Tôi đang định xông tới đánh lũ trẻ ấy thì một cái chân đã đá mạnh vào ngang hông tôi. Tôi chực kêu lên một tiếng, nhưng trong miệng không thốt ra được một âm thanh gì. Tôi ngã bệt xuống đất, không bò dậy nổi nữa, chỉ có thể nhìn bọn họ rối loạn tranh nhau cướp táo. Tôi bắt đầu đưa mắt tìm kiếm người tài xế ô-tô. Lúc này gã ta đang đứng mãi đằng xa nhìn về phía tôi ha hả cười lớn. Tôi liền biết ngay, bộ dạng mình lúc này chắc chắn còn hay ho hơn cái mũi khi nãy rồi.

Lúc ấy đến phẫn nộ tôi cũng không còn đủ sức nữa rồi. Tôi chỉ có thể đưa mắt nhìn xem tất cả những việc đã khiến mình tức giận đến cực độ như thế. Kẻ khiến tôi tức giận nhất chính là gã tài xế kia.

Từ trên dốc lại có một số xe công nông và xe đạp chạy xuống. Chúng cũng nhảy vào tham gia cuộc cướp bóc này. Tôi trông thấy táo trên mặt đất càng ngày càng ít, nhìn xem một số kẻ rời đi và một số kẻ kéo tới. Những kẻ đến muộn bắt đầu ra tay với cái xe ô-tô. Tôi nhìn thấy họ tháo cửa kính xe xuống, gỡ lốp xe ra, rồi lại dỡ hết cả những ván gỗ thùng xe. Sau khi lốp bánh xe bị tháo đi, cái xe ô-tô tỏ rõ dáng vẻ cúi đầu đau đớn đến thảm hại. Nó nằm xệp xuống mặt đất. Mấy đứa trẻ con thì đi nhặt những cái sọt không vừa bị vứt ra. Tôi thấy mặt đất càng ngày càng sạch sẽ, người cũng càng ngày càng ít đi. Nhưng khi ấy tôi chỉ có thể nhìn xem, bởi vì, ngay đến sức lực để mà phẫn nộ tôi cũng không còn nữa rồi. Tôi ngồi bệt trên mặt đất, không thể dậy nổi, tôi chỉ có thể dùng ánh mắt của mình quét qua quét lại.

Bây giờ thì bốn xung quanh đã trống không vắng ngắt, chỉ có một cái xe công nông còn dừng lại bên cạnh chiếc ô-tô đang nằm xệp trên mặt đất. Có một người đang đứng bên cạnh cái ô-tô nhìn nghiêng nhìn ngó, ý chừng muốn xem xem còn gì có thể lấy đi được không. Xem xét một hồi, bọn chúng mới lần lượt từng người một trèo lên xe công nông, nổ máy chạy đi.

Khi ấy, tôi đã trông thấy gã tài xế kia cũng nhảy lên trên công nông rời đi. Sau khi gã ngồi lên chỗ ghế ở đầu xe rồi, còn quay lại phía tôi cười vang ha hả. Tôi trông thấy trong tay gã ôm cái ba-lô màu đỏ của tôi. Gã đã cướp mất ba-lô của tôi đi rồi! Trong ba-lô có quần áo và tiền của tôi, lại còn đồ ăn và sách nữa. Nhưng gã đã cướp mất ba-lô của tôi đi rồi!

Tôi nhìn theo chiếc xe công nông đang leo lên dốc, rồi mất dạng, nhưng vẫn còn nghe thấy tiếng của nó, song chẳng bao lâu đến những âm thanh ấy cũng không còn nữa. Bốn xung quanh thoắt bỗng trở nên tĩnh lặng. Trời cũng bắt đầu ập tối xuống rồi. Tôi vẫn ngồi trên mặt đất. Khi ấy, vừa đói, vừa rét nhưng tôi chẳng còn gì cả.

Tôi ngồi ở đó rất lâu, rồi mới chậm chạp bò dậy được. Lúc bò trở dậy tôi đã rất khó khăn, bởi vì mỗi khi hơi động đậy một chút là toàn thân lại vô cùng đau đớn. Nhưng tôi vẫn đã bò dậy. Tôi tập tễnh dò từng bước lại bên cái xe. Bộ dạng cái ô-tô ấy thật vô cùng thảm hại, nó toàn thân thương tích nằm bẹp ở đó. Tôi biết, mình cũng khắp người thương tích như thế.

Màn đêm đã hoàn toàn tối đen, bốn xung quanh không có một cái gì. Chỉ có cỗ xe thương tích đầy mình, và tôi khắp người thương tích. Tôi vô cùng đau buồn nhìn chiếc ô-tô, cái xe cũng vô cùng đau buồn nhìn tôi. Tôi vươn cánh tay ra vỗ về nó. Toàn thân nó lạnh ngắt. Trời khi ấy bắt đầu nổi gió. Gió rất to. Tiếng cây lá trên núi lay động nghe tựa tiếng sóng biển. Âm thanh ấy khiến tôi sợ hãi, khiến tôi cũng giống như cỗ xe: toàn thân lạnh ngắt.

Tôi mở cửa xe, chui vào bên trong. Ghế xe không bị bọn chúng lấy đi, điều ấy khiến tôi cảm thấy được an ủi trong lòng một chút. Tôi nằm xuống trong buồng lái. Tôi ngửi thấy mùi dầu chảy thoảng tới. Cái mùi ấy giống như mùi máu từ trong người tôi chảy ra. Bên ngoài, gió càng ngày càng to, nhưng nằm trên ghế xe tôi bắt đầu cảm thấy đã hơi ấm áp. Tôi biết, sâu trong đáy lòng mình cũng rất ấm áp. Tôi cứ luôn luôn tìm kiếm quán trọ, không ngờ rằng quán trọ mi rốt cuộc lại ở đây.

Tôi nằm trong trái tim của chiếc ô-tô, nhớ đến một buổi trưa trời trong nắng ấm vô cùng, ánh mặt trời khi đó thật đẹp. Tôi còn nhớ mình đã thích thú chơi nghịch ở bên ngoài suốt nửa ngày, sau đó mới về nhà. Từ ngoài cửa sổ tôi trông thấy bố đang sửa soạn một cái ba-lô màu đỏ trong phòng. Tôi bám lên cửa sổ hỏi: “Bố, bố định đi đâu à?”

Bố tôi quay người lại, ôn tồn bảo: “Không, đây là để cho con đi ra ngoài.”

“Cho con đi ra ngoài?”

“Phải, con đã mười tám tuổi rồi, con nên đi để hiểu biết một chút về thế giới bên ngoài rồi.”

Sau đó tôi bèn khoác ba-lô màu đỏ đẹp đẽ ấy lên vai. Bố vỗ vỗ nhẹ vào sau gáy tôi, tựa như vỗ vỗ vào mông ngựa. Thế là tôi thích thú chạy vụt ra khỏi cửa, giống như một con ngựa tràn đầy hưng phấn phóng đi một cách sung sướng.

Bắc Kinh, 16-11-1986

                                                                                            (Châu Hải Đường dịch)

  (Đăng trên TC Văn nghệ Quân đội số 977, Tháng 11/2021)




Dư Hoa, sinh ngày 03 tháng Tư năm 1960, tại Hàng Châu, Triết Giang. Sau truyện ngắn đầu tay “Ký túc xá đầu tiên” được in năm 1983, năm 1987 Dư Hoa tiếp tục phát biểu các truyện ngắn khác của mình như: “Tuổi 18 rời nhà đi xa”, “Sự kiện mồng 3 tháng Tư”, “Năm 1986” và đã xác lập địa vị là một nhà văn Tiên phong của mình. Cùng năm, ông đến tu học tại Viện văn học Lỗ Tấn – Bắc Kinh. Năm 1990, Dư Hoa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên “Gào thét trong mưa bụi”. Năm 1992, xuất bản tiểu thuyết “Phải sống”, năm 1995 sáng tác tiểu thuyết “Hứa Tam Quan bán máu” và đăng trên tạp chí “Thu hoạch”. Năm 1998, với tiểu thuyết “Phải sống” Dư Hoa đã giành giải thưởng cao nhất về văn học của Italia: Giải Grinzane Cavour.

Năm 2003, bản dịch Anh văn tiểu thuyết “Hứa Tam Quan bán máu” đã giành giải phát hiện mới của Barnes & Noble ở Mỹ. Năm 2004 Dư Hoa được trao Huân chương Hiệp sĩ về Văn học và Nghệ thuật của Pháp. Năm 2005, 2006 ông lần lượt xuất bản hai phần của tiểu thuyết “Huynh đệ”, cuốn sách từng gây tranh cãi ở Trung Quốc vì viết theo chủ nghĩa hiện thực cực đoan. Tám năm sau khi xuất bản tiểu thuyết “Ngày thứ bảy” (năm 2013), năm 2021 này ông mới tiếp tục xuất bản tiểu thuyết mới nhất “Văn thành”, sau một số tập tạp văn in rải rác trong thời gian 2015 – 2018.

Các tác phẩm của Dư Hoa như “Phải sống”, “Hứa Tam Quan bán máu”, hay “Huynh đệ” … đều đã được xuất bản ở Việt Nam. Truyện ngắn “Tuổi 18 rời nhà đi xa” là một trong những truyện ngắn được sáng tác từ sớm của Dư Hoa, và đã góp phần xác định vị trí của ông trong dòng văn học Tiên phong của Trung Quốc.