Hiển thị các bài đăng có nhãn Hòa Bang Ngạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hòa Bang Ngạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

MUA VỢ (Nguyên tác: Mễ Hương Lão)

Khoảng niên hiệu Khang Hy, tổng binh Vương Phụ Thần làm phản. Phàm những nơi đi qua đều thả sức cướp bóc. Bắt được đàn bà con gái, không cần biết tuổi tác già trẻ thế nào, dung mạo xấu đẹp ra sao, đều bỏ vào trong túi vải, sau đó ra giá bốn lạng bạc một túi, cho người ta tùy ý chọn mua. Mễ Hương Lão ở huyện Tam Nguyên (nay thuộc Thiểm Tây), tuổi đã hai mươi, vẫn chưa lấy vợ. Bèn một mình mang theo năm lạng bạc đến quân doanh, đem một lạng ra biếu cho người quản sự, hy vọng có thể mua được một mỹ nhân. Người quản sự dẫn chàng vào trong doanh, bảo chàng tự mình chọn lấy. Mễ Hương Lão sờ nắn từng cái túi một, chọn trúng một cái túi sờ thấy eo thon chân nhỏ, bèn vác luôn về. Đến một chỗ quán trọ, mở túi ra xem, thì hóa ra là một bà già, mặt đầy nếp nhăn, tuổi đã gần bảy chục rồi. Mễ Hương Lão hối hận vô cùng, lặng lẽ ngồi trên giường, mặt xám như tro lạnh. Lúc lâu, có một ông già đầu râu tóc bạc, cưỡi trên lưng một con lừa đen, chở theo một người con gái xinh đẹp cũng vào trọ. Ông lão đỡ cô gái xuống, buộc lừa vào tàu, rồi vào trọ trong gian nhà ở mé tây căn buồng của Mễ. Mễ và ông già cùng chắp tay chào nhau, ai nấy hỏi thăm danh tính làng xóm. Ông lão tự nói mình họ Lưu, người ở Hà Mô Oa, tuổi đã sáu mươi bảy. Hôm qua đem bốn lạng bạc mua được một túi người, không ngờ là tuổi tác trẻ quá, lại may là dung mạo cũng xinh đẹp, về nhà có nàng dẫu ở trong căn nhà rách, cũng đủ để vui tuổi già. Mễ Hương Lão nghe xong, lòng như lửa đốt, tiếc nuối muôn phần. Ông già Lưu thì vô cùng đắc ý, kéo Mễ ra phố uống rượu. Mễ nghĩ mượn chén rượu của người để vơi bớt phiền lão của mình, cũng là rất phải, bèn theo ông lão đi ra.

Bà già đợi bọn họ đi xa rồi, chậm rãi bước sang phòng bên tây, vén rèm đi vào. Thấy cô gái đang lấy tay áo che mặt mà khóc. Trông thấy bà già, nàng mới đứng dậy chỉnh đốn y phục chào hỏi, đôi mắt đẹp ngân ngấn lệ, trông dung nhan như hoa đào dầm mưa. Bà già hỏi cô vì sao mà khóc, cô gái đáp: “Tiểu nữ là người huyện Bình Lương, Cam Túc, họ Cát, tuổi mới mười bảy. Cha mẹ anh em đều bị bọn phản tặc sát hại, chỉ có tiểu nữ bị chúng cướp đi, định cưỡng bức dâm ô, tiểu nữ khóc lóc chửi rủa, đám giặc tức giận, cho nên mới đem tiểu nữ bán cho ông già kia. Nghĩ lại chẳng bằng chết đi cho rồi, cho nên mới buồn mà khóc.” Bà già than thở nói: “Đúng là trẻ tạo hóa làm chúng sinh rối loạn, khiến người ta thực không thể nghĩ bàn. Lão đây già rồi mà chẳng chết đi, để gặp phải cảnh loạn ly thế này, lại còn không đâu bị một tên tiểu tử mua phải, trong lòng còn gì đáng buồn hơn thế? Vừa nãy trông thấy ông lão già nhà cô, già nua lọm khọm, tuổi tác cũng ngang tầm như lão đây. Huống chi, hai người chồng già vợ trẻ, chưa hẳn đã xứng đôi. Bọn họ một người vui mừng, một người sầu muộn, chưa uống say thì chưa về đâu. Hai người chúng ta, làm sao không lấy mận thay đào, đổi chỗ mà ngủ. Đợi đến canh năm ngày mai, cô và chàng thiếu niên nhà tôi dậy sớm đi nhanh. Cứ mặc tôi với lão già kia cùng sống chết với nhau. Cô không cần phải đau buồn nữa!” Cô gái còn do dự không chịu bằng lòng ngay. Bà già lại nghiêm giọng nói: “Đó chính như người ta nói, đôi bên mua bán đều vừa ý rồi, thì ai đi đường nấy, ấy là cách nhất cử lưỡng tiện vậy. Cô mau rời khỏi đây đi, để đến tối thì chuyện này không xong được nữa rồi!” hai người bèn cởi y phục đổi cho nhau. Cô gái bái tạ bà già, bà già dẫn cô vào phòng của Mễ Hương Lão, lấy chăn đắp lên người cẩn thận, rồi dặn dò cô không được nói năng gì. Còn mình thì sau đó lại về đến buồng phía tây, trùm chăn kín mà ngủ.



Quá canh hai, ông lão và Mễ đều say túy lúy trở về, vì đi đường vất vả, nên cũng ai về buồng nấy mà ngủ. Sau canh ba, Mễ đang mơ màng, chợt nghe thấy có tiếng gõ cửa, dậy khoác áo ra xem, thì hóa ra là bà già. Mễ Hương Lão kinh ngạc hỏi: “Bà đi đâu thế?” Bà già cắt ngang lời Mễ, bảo chàng chớ nói gì nữa, rồi vội vàng vào buồng, đóng chặt cửa lại, đem tình thực nói cho chàng biết. Mễ vừa mừng vừa sợ, nói: “Tuy rằng được bà bỏ công sắp đặt, nhưng hại người lợi mình làm sao mà được?” Bà già cười nhạo bảo: “Vậy là cậu không nghe lời lão đây, muốn vứt bỏ một tiểu nương tử, mà lại làm hại một kẻ già cả! Với người có chỗ nào tốt, mà với mình thì không hại gì ư?” Mễ cho rằng bà già nói cũng phải. Bà già bèn vén chăn, giục cô gái dậy, lại dặn đi dặn lại bọn họ. Mễ Hương Lão và cô gái khóc mà bái tạ bà già. Bà ngăn lại, nhủ bảo: “Đi sớm đi, e là ông lão kia sẽ dậy sớm đấy, lão tôi xin được bái biệt từ đây.” Rồi lập tức ra khỏi cửa đi. Mễ vội vàng thu thập hành lý, cô gái lấy tấm khăn lụa xanh che mặt, Mễ dìu nàng ra khỏi quán trọ. Chủ quán trông thấy nói: “Hai người sao đi sớm thế?” Mễ tiện miệng đáp: “Đi sớm một chút, cho khỏi nắng.” Rồi hai người cùng trốn chạy đi.

Hôm sau, ông lão trông thấy bà già thì vô cùng kinh ngạc. Hỏi rõ duyên do rồi, ông ta vô cùng tức giận, vung nắm đấm đánh bà già. Không ngờ bà già tuổi cao mà còn mạnh khỏe, cũng vung tay đánh lại, không chịu nhún chút nào. Tất cả mọi người trong quán trọ đều vây lấy xem, đứng chật như tường. Ông lão phẫn uất kể lại nỗi oan uổng của mình, muốn cưỡi lừa chạy đuổi theo họ. Ai nghe thấy cũng buồn cười. Chủ quán khuyên bảo: “Hắn đã dắt được thiếu nữ mà trốn đi, làm sao lại còn đi đường lớn cho ông truy đuổi nữa? Huống chi từ canh tư họ đã đi, đến giờ cũng phải đi được mấy chục dặm đường rồi. Người ta sợ nhất là không sáng suốt tự biết mình, nếu như có thể biết an phận giữ mình, thì hãy dẫn theo bà già kia về nhà. Vợ chồng già cùng sống với nhau, chớ có nghĩ rằng thế là không xứng.” Ông lão đứng lặng hồi lâu, dần nguôi cơn giận, ngẫm nghĩ lại câu nói của chủ quán, cảm thấy rất có lý, bèn dẫn theo bà già lên đường. Đến giờ, người khắp một vùng Thiểm Tây, Cam Túc vẫn còn nhớ rõ chuyện này.

(Trích "Dạ Đàm Tùy Lục" - Hòa Bang Ngạch)

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

Hiếu Nữ (Người con gái hiếu thảo)

 Khu phố Hoa Viện ở ngoài cửa Sùng Văn kinh thành, có mấy ngàn nhà dân, đều sống bằng nghề trồng hoa cảnh. Có một thiếu nữ, phụng dưỡng cha già sống ở khu phố ấy, cũng sinh nhai bằng nghề đó.  Cha cô mắc bệnh hen suyễn, hàng năm đến kỳ lại mắc bệnh. Năm ấy, bệnh tình của ông phát nặng hơn, chỉ nằm trên giường, kêu rên không dậy được, thầy thuốc đến xem bệnh cũng không chữa trị được. Người con gái mất ăn mất ngủ, ngoài mặt thì an ủi cha già, nhưng trong bụng thì riêng vô cùng buồn khổ.

Gặp dịp có một bà lão hàng xóm tụ tập một đoàn đàn bà con gái, định đến núi Nha Kế hành hương. Cô gái bèn hỏi lỏm rằng: “Vì sao phải vào núi hành hương?” Bà lão nói: “Có người là vì thường bị đau ốm, có người là vì không có con, ai nấy đều cầu mong được như tâm nguyện của mình. Thánh mẫu trên núi rất linh thiêng, chẳng gì cầu không được.” Cô gái hỏi: “Từ đây đến núi Nha Kế bao nhiêu dặm?” Bà lão nói: “Hơn một trăm dặm.” Cô gái nói: “Một dặm là bao nhiêu dài?” Bà lão nói: “Ba trăm sáu chục bước.” Cô gái ghi nhớ lấy trong lòng. Đến tối đợi người cha ngủ yên, cô gái bèn lẻn ra ngoài sân, tay cầm một nén hương, thầm ghi nhớ lấy số dặm đường, rồi đi vòng quanh sân, vừa đi vừa bái lạy, trong bụng thần khấn: Con là một đứa con gái thân thể yếu đuối, cha già bệnh nặng, trong nhà lại không có một ai, nên không thể lên núi hành hương được. Bây giờ con xin ở nơi đây, tính toán số dặm đường, số bước chân, kính cẩn mỗi bước bái lạy một vái, cũng coi như mình đến trước núi báu, đích thân bái vọng  thánh tượng, phù hộ cho cha con được lành bệnh nặng, trường thọ khỏe mạnh. Con xin nguyện rằng từ nay sẽ thêu hình Phật, ăn chay trường, trọn đời đỉnh lễ bái Phật.” Cứ như vậy, cứ có thời gian rảnh rỗi là cô gái lại ra sân đi quanh, nhất bộ nhất bái, ngày đêm không nghỉ, đến hơn nửa tháng.

(Tranh vẽ Bích Hà Nguyên Quân)

Truyền rằng trên núi Nha Kế có thờ vị thần Sơn Đỉnh Bích Hà Nguyên Quân, nổi tiếng linh ứng khắp một dải kinh kỳ. Trên từ hậu phi trong cung cấm, đại thần trong triều cùng các vương công quý tộc, dưới đến bách gia trăm họ, vào tháng tư hàng năm, ai cũng lên núi hành hương lễ bái, xe ngựa đến dự hội đông như nước chảy. Từ lúc gà gáy canh năm thì người ta bắt đầu vào điện thắp hương, gọi là “dâng nén hương đầu”. Nén hương đầu nhất định phải do sứ giả trong cung vua và đại thái giám đốt, còn những người khác, không một ai dám tranh đốt trước. Khi ấy có một đại thái giám họ Triệu, phụng ý chỉ của Hoàng thái hậu, đến đốt hương đầu. Vừa mới mở cửa đại điện, đã trông thấy có hương cắm trên bát nhang, hương hỏa đã được thắp đầy đủ. Ngụy thái giám đại nộ, trách mắng người thủ nhang, nói: “Hương của lão Phật gia vẫn còn chưa thắp, sao lại cho người khác thắp hương đầu trước?” Thủ nhang vô cùng kinh hãi nói: “Một khi Ngụy gia ngài còn chưa đến, thì đại điện này đâu có dám mở. Tiểu nhân thực sự không hiểu hương hỏa này là từ đâu ra.” Ngụy công thầm nghĩ: “Lúc mình đến, thì đại điện mới được mở khóa, trông trong lư hương thì tro hương vẫn còn chưa đầy một thốn. Chuyện này thực là kỳ quái đáng sợ. Ngày mai ta sẽ đến sớm hơn một chút nữa vậy, xem xem thế nào.” Bèn vội dặn dò với thủ nhang rằng: “Chuyện đã rồi, ta cũng chẳng truy cứu nữa, ngươi phải đặc biệt cẩn thận, sớm ngày mai, ta sẽ lại đến để dâng hương đầu.” Nói xong liền đi.

Thủ nhang sợ phạm tội, bèn cùng những người trong miếu cả đêm trực ban tuần phòng. Mới canh tư, Ngụy thái giám đã đến. Vừa bước vào cửa điện, lại đã thấy trên bát hương hương hỏa đã thắp đầy đủ cả, có một người con gái đang quỳ lạy dưới đất. Tất cả mọi người đều kinh hãi vô cùng. Người con gái kia nghe thấy tiếng người, thì giật mình đứng dậy, bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Mọi người ai cũng cho đó là ma. Ngụy công nói: “Lẽ nào trước mặt thần phật mà ma quỷ dám công nhiên xuất hiện chứ? Nhất định là có nguyên do gì khác, ta sẽ có cách đối phó chuyện này.” Bèn dâng hương thứ hai. Rồi thái giám xuống dưới cửa đền, kê ghế ngồi, cho tụ tập hết khách hành hương lại, kể lại rõ thực tình, đồng thời mô tả kỹ lưỡng cô gái, từ tuổi tác đến dung mạo, áo quần. Khách hành hương đều lấy làm ngạc nhiên. Cuối cùng, có một bà lão, sau khi nghe Ngụy thái giám mô tả, cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói: “Cứ như những gì Ngụy gia ngài vừa nói, thì lẽ nào đó là đứa con gái hàng xóm nhà con? Làm sao nhất nhất từng lời ngài mô tả lại đều giống hệt với nó như thế?” Ngụy công hỏi: “Đó là đứa con gái hàng xóm thế nào, mà lại có thể biến hóa như thế?” Bà lão nói: “Con bé ở khu phố Hoa Viện, vốn là một đứa con gái rất hiếu thảo.” Ngụy thái giám vỗ đùi nói: “Thế thì chẳng có gì kỳ quái cả!”

Ngụy thái giám vội vàng phi ngựa về cung, phục mệnh hoàng thái hậu. Rồi ông bí mật tìm đến nhà người con gái, vào thăm, thấy quả nhiên chính là cô gái ở trên đại điện đền thờ bữa trước. Ông thử hỏi han, cô gái cứ tình thực mà đáp lời rằng: “Con tuy không ra khỏi cửa, nhưng cứ thấy tựa hồ như thân trải qua nơi ấy. Bệnh tật của cha già nay được khỏi hẳn, cũng là nhờ bồ tát linh ứng phù trì.” Ngụy thái giám cảm thán nói: “Lòng chí thành có thể cảm động thần linh, đúng là lòng hiếu thảo tột bực.” Ông bèn nhận cô gái làm nghĩa nữ, coi như con đẻ của mình. Cha già của cô lại được an hưởng thêm ba chục năm no ấm, sống đến trăm tuổi mới qua đời. Cô gái sau lấy chồng họ Trương ở Đại Hưng, của hồi môn rất nhiều, trị giá đến mấy ngàn lạng bạc, đều là một mình Ngụy thái giám lo lắng cho. Nhà người con rể vì vậy cũng đời đời là nhà phú thương.

(Trích "Dạ Đàm Tùy Lục")

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2020

Đàm Cửu (Dạ Đàm Tùy Lục)


Có người tên là Đàm Cửu mở một cửa hàng hoa ở kinh thành. Một bận, Đàm vâng lệnh cha mẹ đến Yên Giao thăm họ hàng, lúc cưỡi lừa ra cửa thì trời đã về chiều. Trên đường đi, Đàm thấy một bà già, áo quần lam lũ, nhưng lại cưỡi một con ngựa trán trắng, yên cương rất hoa lệ, đi sát theo sau chàng, hỏi: “Chàng trai trẻ định đi đâu?” Đàm Cửu nói cho bà ta biết chỗ mình muốn tới, bà già nói: “Từ đây đến Yên Giao còn mấy chục dặm nữa, trên đường đi lại có rất nhiều hồ đầm, chẳng dễ dàng gì. Cậu không nghe thấy ư, gió đã đưa tiếng chuông từ trong thành vẳng lại, tối muộn lắm rồi. Đồng không mông quạnh thế này, dám bảo không gặp phải kẻ xấu ư? Lều cỏ nhà ta ở ngay gần đây, sao không đến đấy ở tạm một đêm, rồi ngày mai đi sớm cũng chẳng lo gì.” Đàm vốn trong bụng đã hơi sợ, nghe được lời bà già, thì vô cùng cảm kích. Bà già ấy bèn cưỡi ngựa đi trước dẫn đường về nhà mình.

Men theo con đường nhỏ hoang vu, đi độ hơn hai dặm đường, thì thấp thoáng trông thấy trong lùm cây có ánh đèn. Bà già cầm roi ngựa, trỏ bảo: “Đến kia rồi!” Hai người cùng ra roi chạy tới, thì thấy có hai gian nhà thấp, tường đất cao đến vai. Bà già xuống ngựa mở cửa, mời khách vào nhà. Chỉ thấy trong nhà trống không, chẳng có đồ vật gì, chỉ có một ngọn đèn treo trên vách, một thiếu phụ trẻ đang nằm trên lò sưởi cho con bú. Bà già gọi bảo: “Có khách đến đấy, con mau dậy đi!” Thiếu phụ chậm rãi ngồi dậy, sửa lại mái tóc, khiến đứa trẻ cất tiếng khóc oa oa. Bà già bèn lấy từ trong tay áo ra một cái bánh nướng đưa cho đứa bé, nó mới nín không khóc nữa. Đàm Cửu nhìn nàng thiếu phụ ước độ hai mươi tuổi, ngấn lệ còn đầy trên mặt, thần sắc vô cùng thê thảm. Bà già nói: “Con dậy đun trà, ta đưa con ngựa đi một lát sẽ về ngay.” Nói xong, liền ra dắt ngựa đi. Thiếu phụ bẻ cành củi đến bên đèn châm lửa, rồi đi đun trà. Chỉ thấy cô ta mặc chiếc áo ngắn vải điều, váy vải xanh, và đôi tất chân vải chàm, chân đi đôi hài đỏ gót cao đã rách đế, trông rất tàn tệ, để lộ cả một cánh tay, một bên bắp chân và hai gót. Đàm Cửu còn ít tuổi, ăn nói ngập ngọng, không dám hỏi han, chỉ thấy thương cảm trong lòng. Một lát, bà già trở về, nói: “Tôi đi trả ngựa, khiến cho cậu phải ngồi một mình. Bên kia người ta nghe thấy nói có khách đến, cũng muốn chiêu đãi. Tôi từ chối rằng, đêm đã muộn quá rồi, người ta nhờ tôi ngỏ ý tới cậu.” Đàm Cửu liên mồm cảm tạ. Bà lão nói: “Đi lại đã nửa ngày, chắc hẳn cậu khách cũng đói lắm rồi. Con chuẩn bị cơm nước đi, ta ra cho con lừa ăn một chút.” Đàm nói: “Làm phiền các vị thế này, vãn bối làm sao đành dạ? Đồ ăn cho lừa thế nào, đến khi đi nhất định xin được gửi trả chút đỉnh.” Bà già xua tay bảo: “Không cần nói năng khách sáo thế, đồ ăn cho lừa thì đáng bao nhiêu?”

Cho lừa ăn xong, thì thiếu phụ bưng cơm nước lên. Bát sành niêu đất vô cùng thô lậu, lại bẻ cành rào để làm đũa, lấy chậu thau thay bình rượu. Món nhắm đều là cá thịt, nhưng nguội, mùi vị không ngon. Bà già đưa đèn lại gần, mời Đàm uống rượu, Đàm chối rằng không biết uống, bèn ăn cơm luôn. Cơm cũng nguội lạnh, Đàm chỉ gắng gượng ăn lấy một bát, rồi thiếu phụ bưng mâm bát đi. Mọi người cùng ngồi trò chuyện, thiếu phụ ngồi sát bên đèn bắt chấy cho con. Đàm Cửu nói: “Nghe giọng lão bà nói, dường như không phải người kinh thành. Nương tử thì lại ăn mặc theo lối người Mãn, dám hỏi các vị là người ở đâu?” Bà già nói: “Đúng như lời cậu nói, nhà tôi vốn là họ Hầu ở Phượng Dương. Vì gặp năm đói kém mất mùa, nên mới lưu lạc đến kinh thành, may thuê vá mướn, cố gắng kiếm ăn qua ngày. Sau mới lấy Hác Tứ, là người thôn này, đã gần ba mươi năm rồi, ông ấy cũng đã già lão rồi. Tôi sinh hạ được một trai một gái. Con gái đã gả cho người ta, còn con trai thì làm thợ gạch, ở trong thành. Ông lão vì tuổi cao sức yếu, làm công cho một quán rượu ngoài làng, bưng rượu rửa bát cho người ta. Ngày mai cậu đi qua chỗ ấy, nếu trông thấy một ông già râu bạc, mặt đầy nếp nhăn nheo, sau tai có một cái bướu to bằng quả trứng gà, thì chính là ông lão nhà tôi đấy. Đứa con dâu họ Dư, vốn là tỳ nữ nhà người ta. Chủ cũ của nó là Ba tham lĩnh, đã về hưu từ lâu, đứa con trai nhỏ đã tập ấm chức ấy. Chính là nhà mà tôi mượn ngựa khi nãy đấy.” Đàm nói: “Xem ra nhà bà lão cũng thanh bần, làm sao phải đem cơm rượu thịnh soạn như thế mà đãi khách chứ?’ Bà già cười nói: “Cậu bỗng nhiên đến lều cỏ làm khách, chúng tôi trong khi vội vàng đâu có thể phút chốc chuẩn bị được tiệc rượu chu đáo như thế? Cũng may là vừa vặn gặp tiết Trung nguyên, chúng tôi theo lệ được chia một phần rượu thịt đồ tế lễ còn dư của nhà Ba tham lĩnh. Chúng tôi đang lấy làm hổ thẹn vì lỗi mình, đâu dám nói là tiếp đãi thịnh soạn chứ?”

Đàm Cửu ngồi lâu, cảm thấy mệt mỏi, lại không tiện đòi hỏi chỗ ngủ, bèn lấy ống điếu ra, lại gần bên đèn châm hút. Thiếu phụ ấy cứ đưa mắt ngó cậu mãi, lộ vẻ muốn được hút thuốc. Bà già nhận ra ý của cô ta, bèn đập đập tay nói: “Con dâu tôi nó thèm thuốc, cũng muốn xin hút, không biết cậu có cho nó được thỏa cơn thèm một bận không?” Đàm đưa túi thuốc cho cô ta. Bà già nói: “Gần đây túng quẫn, đã nửa năm không được trông thấy thứ này rồi, lấy đâu ra điếu đóm chứ?” Đàm cửu bèn đưa tẩu cùng đồ hút, tất tật cho cô ta. Người con dâu hút thuốc vẻ rất ngon lành, đôi mày đang chau dúm lại nhất thời thư giãn đê mê. Bà già trông thấy, gật đầu nói: “Lão tôi sống trên đời đã hơn sáu chục năm, không biết mùi vị hút thuốc nó ra sao, thực sự không hiểu nổi người nghiện thuốc làm sao lại thèm thuốc đến thế.” Đàm Cửu nói: “Tôi cũng không hiểu thế nào, nhưng đã không biết hút thì thôi, chứ biết hút rồi thì một khắc cũng không rời được. Thà rằng không có cơm ăn, chứ không thể không có thuốc hút.” Bà già bật cười khanh khách. Đàm nói: “Cô đã nghiện thuốc thế này, thì sau tôi nhất định sẽ mua một bộ tẩu hút cùng thuốc lá đến biếu cô.” Bà già gật gật đầu mà cảm tạ.

Đàm Cửu ra ngoài đi tiểu, thì trông thấy dải ngân hà đã ngả về phía trời tây, vầng trăng lặn thấp qua vòm lá, ước độ canh tư. Bà già trong nhà nói to bảo: “Cậu khách thỉnh thoảng lại ngáp, nên để cậu ấy đi ngủ thôi.” Đàm ứng thanh đáp: “Vẫn còn ngồi chơi được lúc nữa.” Bà già nói: “Chớ nên miễn cưỡng ngồi cố, ngày mai còn phải đi đường. Tôi còn có một việc xin giúp, mong cậu lưu tâm cho.” Đàm hỏi: “Có việc gì vậy?” Bà già buồn bã nói: “Ngày mai cậu đi qua quán rượu, nếu như trông thấy ông lão nhà tôi, thì phiền cậu nói giúp một câu, giục ông ấy mau mau chuyển cho mấy quan tiền. Cậu chỉ việc nói, trong nhà đồ ăn thức dùng đã cạn cả rồi.” Đàm Cửu nói: “Nhất định tôi sẽ hết sức bảo giúp.” Bà già lại đỏ mặt, ngượng bảo: “Trong nhà nghèo túng, không có một cái giường chăn chiếu tử tế, tối nay, phiền cậu phải vất vả rồi!” Đàm Cửu nói: “Chỉ dám nhờ một khoảnh đất, ngủ nhờ qua một đêm yên ổn, đã là đội ơn bà lão hậu tặng lắm rồi, đâu dám mong muốn gì thêm nữa?” Nói rồi bèn ai nấy đi nằm.

Đàm mệt mỏi vô cùng, vừa ngả lưng liền ngủ say như chết. Sau nằm mơ chợt tỉnh, thấy tiếng côn trùng kêu rả rích bên tai, ánh đom đóm lập lòe trước mắt. Đàm lập tức giật mình ngồi bật dậy, hóa ra là mình đang nằm ngủ dưới gốc thông, sương thu đã thấm ướt cả áo sống, lạnh thấu tận xương, con lừa đang được buộc dưới gốc cây, thỏa thuê ăn cỏ. Không thấy có nhà cỏ đâu, bà già cùng người con dâu cũng đều không thấy bóng dáng đâu nữa. Chỉ thấy có ngôi mộ cũ sạt lở, sụt xuống trong đám cỏ gai. Đàm Cửu không ngăn được tóc gáy dựng ngược, vội vàng kéo con lừa nhảy lên lưng, tắc tắc chạy miết.

Chạy được độ dăm ba dặm đường, chân trời dần hé ánh mai, Đàm mới hơi bình tâm trở lại. Đến Yên Giao, làm xong việc rồi, lại men theo lối cũ mà về, đến một quán rượu nhỏ thì tạm dừng lại nghỉ chân. Bỗng nhiên Đàm trông thấy một ông lão đang rửa bát, rất giống như người mà bà già họ Hầu đã mô tả, bèn tiến lại hỏi thăm, quả nhiên chính là Hác Tứ, thì trong lòng vô cùng kinh ngạc. Đàm bèn kéo Hác Tứ vào một chỗ vắng, kể lại chuyện mình gặp được đêm qua cho nghe. Hác Tứ rỏ nước mắt nói: “Đúng như cậu nói, đó chính là người vợ đã mất, đứa con dâu và cháu nội của tôi. Bà lão qua đời đã hai năm, đứa con dâu thì mất vì đẻ khó, cùng cháu nội đều chết cả một đêm. Ai ngờ ở dưới cửu tuyền lại cùng cư trú một chỗ chứ?” Đàm Cửu cũng rất thương cảm, lại hỏi: “Ba tham lĩnh là người thế nào?” Hác Tứ nói: “Đó là phụ thân của viên tá lĩnh ở kỳ nọ, đã mất hơn chục năm rồi. Chỗ trồng nhiều cây lớn ở phía bắc, chính là phần mộ của ông ấy. Đứa con dâu đã mất của tôi chính là nữ tỳ nhà ông ấy. Vợ chồng chúng tôi vốn là người trông nom phần mộ cho Ba tham lĩnh. Năm ngoái mưa tuyết lớn, chỗ ở bị đổ sập cả, quan tá lĩnh chưa có tiền sửa sang lại, từ đó tôi không có chỗ dung thân, cho nên mới đến đây làm công, láo nháo sống qua ngày. Hôm qua là tết Trung nguyên, rằm tháng bảy, tá lĩnh đến thăm mộ, lại đốt thuyền giấy, ngựa giấy. Chỉ không biết bà nhà tôi mượn con ngựa để đi đâu, làm gì.” Đàm Cửu cảm khái than thở hồi lâu, bèn mở túi lấy ra năm trăm đồng tặng cho Hác Tứ, bảo ông ấy mua lấy một ít tiền giấy, áo mã, chớ để cho âm hồn dưới địa phủ phải chịu đói chịu rét. Hác Tứ khóc mà bái tạ. Đàm Cửu về nhà rồi, không muốn thất tín với ma, liền sắm ngay hai bộ đồ hút thuốc bằng giấy, một gói thuốc, rồi quay trở lại chỗ ngôi mộ cũ, khấn khứa một hồi, mà phần hóa. Lại tìm đến chỗ mộ của Ba tham lĩnh, quả nhiên là ở cách mấy chục bước về phía bắc, tùng bách rậm rạp um tùm, lại có cả một tấm bia mới, chữ khắc trên bia vẫn còn nhận rõ được cả./.

                                            (Trích "Dạ Đàm Tùy Lục" của Hòa Bang Ngạch)

Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

“DẠ ĐÀM TÙY LỤC” CỦA HÒA BANG NGẠCH VỚI VIỆC PHÊ PHÁN GIỚI TĂNG LỮ



“Dạ Đàm Tùy Lục” là bộ tiểu thuyết chí quái viết theo lối văn ngôn của Hòa Bang Ngạch đời Thanh. Trên nối tiếp Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh, dưới khơi mở cho Duyệt Vi Thảo Đường Bút Ký của Kỷ Hiểu Lam, có thể nói Dạ Đàm Tùy Lục đã tạo ra được một chỗ đứng riêng trong số các tiểu thuyết cùng thể loại, với một đặc điểm nổi bật nhất, đó là: lấy chuyện ma để nói chuyện người, vạch trần phê phán những mặt xấu xa của hiện thực. Qua những câu chuyện trong “Dạ Đàm Tùy Lục” Hòa Bang Ngạch đã phê phán mạnh mẽ nhiều thành phần trong đời sống xã hội bấy giờ, đặc biệt là các thành phần được coi là “lớp trên” của xã hội, như: quan lại, thầy giáo, học trò, … đặc biệt là tầng lớp tăng lữ của nhiều loại hình tôn giáo.
Mạch chủ yếu của Tiểu thuyết chí quái thường là những chuyện về ma, quỷ, hồ ly, thần phật, tiên thánh, thông qua đó tác giả thường thể hiện một tâm lý sùng chuộng tín ngưỡng tâm linh, thậm chí mang tính thuyết giáo mạnh mẽ. Hòa Bang Ngạch chẳng những tuyên truyền cho tư tưởng xuất thế của Phật, Lão, quan niệm về nhân quả, định mệnh, cùng cả luân thường đạo lý của Nho gia. Trong Dạ Đàm Tùy Lục có rất nhiều chuyện liên quan đến các loại hình tôn giáo hay tín ngưỡng dân gian, rất nhiều nhân vật đại diện cho các tín ngưỡng ấy được Hòa Bang Ngạch khen ngợi qua những câu chuyện về họ, có thể kể đến như Ông già bán bánh, Y Ngũ, Đồng Kỳ Giác trong các truyện cùng tên, hay vị đạo sĩ trong truyện “Tống Tú Tài” …
Thế nhưng bên cạnh những vị chân nhân thực sự ấy, cũng có không ít những thầy bà bịp bợm, nói khoác gặp thời, đến khi chẳng những không trừ nổi hồ li ma quỷ, trái lại còn bị chúng trêu chọc sỉ nhục lại mới lộ rõ chân tướng. Truyện “Tung Sa Cao” kể về một người cậy có cái mũ chóp vàng vua ban, đến nhà một người bị hồ ly tác quái, bỏ mũ lớn tiếng thách thức hồ có giỏi thì tới nhà mình, thấy hồ li im bặt, ngỡ là mình giỏi giang có uy lực, cuối cùng mới biết hóa ra hồ đã đến tận nhà mình làm loạn rồi. Lúc sau người nhà chạy đến gọi, ông ta mới biết, sợ hãi chạy về để quên cả mũ. Người nhà kia chạy theo để đưa mũ, vẫn còn nói: “Không cần phải trả lại, cứ tạm để lại nhà anh để trấn yêu quái đi!”. Câu chuyện rõ ràng có ý vị như một chuyện hài hước, hơn là chuyện chí quái vậy.
Ở mẩu chuyện thứ 4 trong chùm “Tạp ký ngũ tắc” (Năm mẩu tạp ký) mức độ hài hước và châm biếm bọn thầy bà bất tài khoác lác còn cao hơn hẳn một bậc. Chuyện kể, nhà thái thú họ Lý ở Uyển Khâu có người con gái bị hồ ám. Phu nhân thái thú bèn mời một bà đồng có tiếng trong quận đến để trừ hồ cho, bà đồng hẹn tối đến sẽ “bắt con tiểu yêu hồ phải ăn no gậy”. Đếm sẩm tối, bà đồng dẫn theo mấy nữ đồ đệ đến lập đàn pháp trừ yêu hồ. Bỗng nhiên thấy gió nổi, bụi cuốn có lũ tiểu tử xuất hiện cầm gậy tiến lại “đánh ba thầy trò bà đồng ngã lăn xuống đất, lột quần ra rồi dùng gậy chọc vào âm hộ, vỗ tay nói: “Mời các người ăn no gậy trước đi đã!”. Đến khi mọi người lại cứu, ba thầy trò đau đớn vô cùng, hai nữ đồ đệ y phục còn dính đầy máu huyết. Bọn nha hoàn đỡ dậy, “bà đồng còn quay đầu lại dặn dò đệ tử: “Cái áo dính máu này là vật hiếm có lắm đấy, trở về phải cất giữ cẩn thận!” Phu nhân hỏi: “Cất giữ cái này làm gì?” Bà đồng nói: “Cất đi để sau này phòng yêu quái!” Phu nhân nghe xong không nén được bật cười, rồi đuổi cả bọn họ ra khỏi nhà.”
Ở chuyện “Phan Lạn Đầu” (Phan Chốc đầu) nói về đạo sĩ họ Phan vốn rất tài giỏi, nhưng vì hành ngông cuống, trêu chọc cả lại quan dưới âm phủ, đã bị điểm bút vào trán mà thành chốc đầu, song vẫn không sửa đổi được bản tính, lại dùng pháp thuật trêu chọc cả Trương thiên sư, cuối cùng bị Trương thiên sư tới tận đạo quán, phá hủy pháp thuật của Phan, khiến Phan phải chết mà không thành tựu được kết quả. Ấy cũng là bài học cho những kẻ tài chưa tới mà lại sẵn ngông cuồng, thiếu khiêm tốn.

Có thể nói, mặc dù có nhiều tán dương với các loại hình tôn giáo, nhưng Hòa Bang Ngạch hoàn toàn không có sự tôn thờ mù quáng, mà trái lại còn có sự phê phán mạnh mẽ trước những cái xấu xa ghê tởm, hay châm biếm sâu cay với thói tham lam bị tiền bạc làm mê mẩn của họ.
Tiền và Tình hay vật chất và nhục dục, là một trong những điều cấm kỵ của nhiều tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo. Nhưng không phải kẻ tu hành nào cũng giữ được giới luật ấy. Một truyện không dài trong Dạ Đàm Tùy Lục là truyện “Bách Lâm tự tăng” (Nhà sư chùa Bách Lâm) kể về một ông sư vì bị mất cục vàng tìm không thấy mà hóa bệnh, đến nỗi tinh thần xuất thể hóa ra con cóc ôm cục vàng trong hố xí, đến khi người ta dọn nhà xí, tìm thấy cục vàng cho ông ta, thì ông ta lập tức khỏi bệnh. Câu chuyện châm biếm một cách sâu cay với thói ham vât chất nói chung, đặc biệt là với một kẻ tu hành nói riêng.
Nhưng sự “mê tiền” của vị tăng chùa Bách Lâm chưa đáng kể gì so với chuyện: bắt người làm nô lệ tình dục một cách có tổ chức và tiến hành trong thời gian dài của các ni cô ở ngôi chùa gần kinh thành trong chuyện “Mẫn Dự”. Chuyện kể về người tên là Mẫn Dự, theo chú lên kinh thi, bị một kẻ lừa cho uống thuốc mê rồi đem tới “cung cấp” cho các ni cô trong chùa nọ. Khi Mẫn Dự tỉnh dậy thì đã thấy mình trần truồng nằm trong căn buồng như buồng khuê một nhà quyền quý, mãi sau mới biết đang bị nhốt trong buồng kín của một ngôi chùa ni. Ở đó, Mẫn Dự đã bị các ni cô thay nhau giao hoan, và được cho biết người đã đánh thuốc mê mình là thầy lang họ Úc ở sau chùa, người chuyên nhận tiền của các ni cô để ngầm đi tìm kiếm những nam nhân hợp ý họ. Sau ít ngày, Mẫn Dự có xin đi, nhưng chẳng những không được cho đi, mà chỉ được đem cho thêm cá thịt đồ ăn, rồi “buổi tối thì cùng tụ tập một chỗ uống rượu, uống say rồi cùng lên một giường, hoan lạc suốt đêm. Bốn nữ ni thì có thể thay phiên nhau, chứ một mình Mẫn Dự khó mà ứng phó, xin nghỉ một lúc cũng không được” Cuối cùng qua thời gian dài, Mẫn Dự trở lên tàn tạ, và suýt bị “đem giết quách đi, để khỏi làm lộ dấu vết.” Cuối cùng, Mẫn Dự phải nhờ đến sự cứu rỗi của đức Quan Âm bồ tát mới thoát được nạn ấy. Câu chuyện thực sự khiến người đọc khó có thể tin nổi.
Ngoài hai tôn giáo lớn trong xã hội Trung quốc bấy giờ là Phật giáo và Đạo giáo, đời Thanh cũng xuất hiện thêm nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khác, mà có lẽ xuất phát từ địa vị của mình và ủng hộ triều đình, Hòa Bang Ngạch cũng đồng tình coi đó là tà giáo, mà truyện “Bạch Liên Giáo” là một ví dụ. Truyện kể về tên ăn trộm Dương Tam, vì đi ăn trộm đêm mà phát hiện ra thành viên của Bạch Liên Giáo – gọi là yêu nhân – dùng tà thuật làm việc giết hại thai phụ lấy cắp tim gan thai nhi, nên đã gọi người cũng bắt được yêu nhân, phá được vụ án Bạch Liên Giáo trộm cắp tim gan thai nhi dùng vào tà thuật của mình.
Bạch Liên Giáo là một giáo phái tụ tập tín đồ chống lại chính quyền nhà Thanh, nên bị coi là tà giáo. Thế nhưng chuyện ấy có lẽ không dừng lại ở một giáo phái Bạch Liên. Trong truyện “Song Kế Đạo Nhân” (Đạo nhân hai búi tóc) chẳng những nói về chuyện đạo sĩ tụ tập tín đồ làm phản, mà còn kể lại khá rành rọt quá trình một kẻ lợi dụng niềm tin tín ngường, dụ dỗ lừa bịp người khác cùng theo mình, làm thành tội phản quốc đến nỗi nhà tan cửa nát thân bại danh liệt. Chuyện kể về Song Kế Đạo Nhân ở thành Phong Đô, nhân một buổi trổ tà thuật mua chuộc được một người tên là Lã Hoa, được Lã Hoa mời về nhà xin học đạo, anh ta và em gái cùng thụ giáo pháp thuật, quên cả thê thiếp. Cuối cùng đạo nhân ở nhà anh ta gian dâm với em gái có thai, lại lôi kéo Lã Hoa cùng em vào làm đồ đảng mưu việc phản nghịch đàm luận toàn những chuyện “đánh chiếm châu nào, chiếm lĩnh huyện nào, giết chết quan nào, đại khái đều là chuyện tạo phản”, cuối cùng bị quan quân triều đình đánh dẹp, phát hiện ra là Lã Hoa và Song Kế Đạo Nhân. Cuối truyện, tác giả đã thể hiện rõ quan điểm quyết liệt của mình với chi tiết: Quan quân vây nhà Lã Hoa bắt nhị cô nương, nhị cô nương dùng tà thuật trốn được, nhưng cuối cùng bị sét đánh chết, và người ta thấy có chữ trên lưng rằng: “Tà thuật lừa người, Yêu nhân Lã thị.” Trong truyện có chi tiết: “Đạo nhân lại gian dâm với em gái của Lã Hoa, nói: “Ta sẽ cho nhị tiên cô được mang tiên thai.” Rõ ràng chiêu trò này, đến nay nhiều kẻ thầy bà bịp bợp vẫn còn vận dụng hiệu quả.
Truyện “Quỷ Hoàng”, lại kể về một kẻ chuyên dùng “tà thuật dụ dỗ phụ nữ nhà lành đến những nơi u tịch vắng vẻ rồi gian dâm họ, con số đã lên đến hơn trăm người”. Cuối cùng phải nhận quả báo, bị chính đồ đệ dùng thuật ấy để dụ thê thiếp của mình mà gian dâm, kết cục việc bị bại lộ, bản thân bị giết chết. Có thể nói, truyện “Quỷ Hoàng” không hề có dính dáng tới việc “tạo phản”, nhưng Hòa Bang Ngạch vẫn có một sự phê phán mạnh mẽ với những thứ tà giáo chuyên làm hại cho đời sống xã hội như thế.
Trước khi dừng bút, người viết xin mượn lời bàn của Hòa Bang Ngạch ở cuối truyện “Mẫn Dự” coi như một lời kết cho bài viết này rằng: đám hòa thượng tụ tập trong các chùa chiền, đám ni cô phân bố ra các am đường, … trốn vào cửa chùa, niệm Phật đọc kinh, ý muốn làm bạn với đèn xanh kinh vàng… Ngồi trên bồ đoàn tu hành, dần dà cảm thấy cô đơn lạnh lẽo, hàng ngày tai nghe trống sớm chuông chiều, âm thanh đơn điệu thê lương; mắt thấy xuân hoa thu nguyệt, lại khó tránh nảy sinh muôn vạn tâm tình. Trong số ấy, có kẻ đã mượn tiếng hóa duyên, để làm chuyện hò hẹn; mượn nơi thiền viện, để làm việc vụng tình, cuối cùng phạm vào tội lỗi, hoại cả thanh danh. Với bọn họ, cách tốt nhất là hoàn tục quay về, lại làm người bình thường. Những kẻ đã thành niên thì kết hôn thành gia, những kẻ chưa thành niên thì nên về bên cạnh cha mẹ. Nếu như cuộc sống không có chỗ trông cậy, có thể làm việc nữ công sinh sống; dù cho gia đình không hòa thuận, cũng có thể tin Phật để mà giữ tâm mình được trong sáng bình hòa. Giữ đạo làm vợ trong đời thực, còn hơn nhiều việc thân ở cửa Phật mà làm chuyện xấu xa ô uế nơi thanh tịnh. Vì sao lại không nhập thế mà cứ nhất định phải xuất thế như vậy? … Nhân duyên nam nữ giống như nước cam lồ tắm gội cội bồ đề; Mối khắng khít vợ chồng hệt tựa gió đông đưa mùa xuân cho muôn cây. Đó chẳng phải là một mặt quan trọng để thay đổi phong tục ư? Nó cũng là thuận với đại đạo lý của tình người vậy!

13.7.2019
Châu Hải Đường

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2019

Tráng Tử (Chàng ngốc)


Tạ Mai Trang tự Tế Thế, khi làm chức Hàn lâm, mướn ba người ở: một người giảo hoạt, một người thật thà, một người ngốc nghếch. Gặp dịp các vị cùng làm trong quán đến Tạ gia mở hội Thù du nhân tiết Trùng cửu, thưởng cúc, ăn cua, chủ khách cùng vui thỏa chí. Rượu uống đã ngà say, một vị khách nói: “Chúng ta hết hứng rồi. Gọi đâu được mấy đứa ca kỹ đến đây trợ tửu nhỉ?” Tên giảo hoạt nói: “Có!” Lại sợ tên ngốc kia làm rối loạn hỏng việc, bèn xin chủ nhân kiếm việc gì cho hắn đi chỗ khác, đồng thời bảo tên thật thà ra canh cửa, còn mình thì đích thân đi tìm ca kỹ. Tên giảo hoạt còn chưa về tới nơi, tên ngốc đã quay về rồi. Trông thấy hai nàng ca kỹ ôm đàn tì bà, dẫn theo bốn năm đứa nhỏ đang đứng trước cổng, liền lấy làm lạ, hỏi: “Chúng mày đến đây làm gì?” Tên giảo hoạt nói: “Phụng mệnh chủ nhân mời họ đến.” Tên ngốc trừng mắt lớn tiếng quát bảo: “Ta ở dưới cửa ngài mười mấy năm nay, chưa từng thấy hạng người này ra vào bao giờ, chủ nhân nhất định là uống say rồi nên mới bảo thế.” Bèn vung nắm đấm, đuổi đám ca kỹ đi hết. Khách khứa kéo nhau tan về, Tạ Tế Thế vô cùng bực mình với tên đày tớ ngốc ấy.
Một tối, Tạ Tế Thế đốt nến, uống rượu soạn sách. Khí trời rất lạnh, bình rượu đã dốc cạn, mà mặt mũi chưa thấy ấm hồng lên. Tên đày tớ giảo hoạt đưa mắt ra hiệu cho tên thật thà lại đi mua thêm rượu. Lúc mua rượu về, nửa đường thì gặp tên đày tớ ngốc. Tên ngốc đoạt lấy bình rượu, về đến nhà khuyên ngăn Tạ Tế Thế rằng: “Hôm nay hai bình, ngày mai ba bình, chỉ có tăng chứ không có giảm. Mua nhiều thì tốn tiền, uống nhiều thì tổn sức, chỉ có hại chứ không ích gì.” Tạ Tế Thế đành miễn cưỡng nghe theo lời hắn mà thôi không uống nữa.

Sau Tạ Tế Thế đổi nhậm chức ngự sử, một buổi vào chầu sớm, bảo thư đồng cầm đèn, dầu trong đèn đổ ra làm bẩn cả triều phục của Tạ. Tên đày tớ giảo hoạt dậm chân bảo: “Đúng là không tốt lành!” Tạ Tế Thế nhân thế nổi giận, sai tên đày tớ thật thà đánh đòn thư đồng, tên ngốc liền tiến lên ngăn lại, lại khuyên bảo: “Tôi từng nghe chủ nhân nói, cổ xưa từng có người bị đày tớ làm đổ canh vào áo, để nến cháy râu, nhưng không hề cáu giận, lẽ nào chủ nhân lại chỉ có thể nói mà không thể làm như vậy ư?” Tạ Tế Thế chuyển cơn giận sang tên ngốc, bảo: “Ngươi muốn được tiếng là chính trực hả, hay là muốn ra ân với người để hòng được báo đáp?” Tên ngốc đáp bảo: “Những cái ấy tôi đều không dám. Ân huệ là ân huệ của chủ nhân, chứ đày tớ thì có ân huệ gì? Tôi chỉ học theo cách ngu trung, nhưng chủ nhân lại nói tôi muốn được tiếng chính trực. Hiện nay chủ nhân làm chức gián quan, ngày sau quỳ trước sập rồng nói điều phải trái với hoàng đế, ở chốn triều ban tranh việc được hay không được với đại thần, coi việc mất ấn thụ chả khác gì mất đôi giày rách, cam chịu việc biếm trích như được về nhà, lẽ nào chủ nhân cũng là vì muốn lấy tiếng ngay thẳng mà làm ư? Người khác cũng cho rằng chủ nhân là vì muốn được tiếng trung trực mà làm ư?” Tạ Tế Thế không đáp lại được, ngoài mặt thì cảm tạ, mà trong tâm thì càng thêm tức giận hắn. Từ đó, tên đày tớ giảo hoạt liền thừa cơ, ngày đêm tìm kiếm lỗi của tên đày tớ ngốc, xúi bẩy tên thật thà cùng bẩm chuyện thị phi với Tạ Tế Thế, khuyên chủ nhân đuổi tên ngốc đi.
Về sau, gặp lúc Tạ Tế Thế nhân bị tội phải hạ ngục, nhưng tội còn chưa định, không lâu sau lại phụng mệnh đi lính ra biên ải. Lúc ra khỏi ngục sửa soạn hành trang để đi, thì tên đày tớ giảo hoạt trốn đi mất, tên đày tớ thật thà cũng ra sức xin được cho đi nơi khác, chỉ có tên đày tớ ngốc phủi tay áo, tiến lên bẩm: “Bây giờ là lúc chủ của ta báo quốc, cũng là lúc chúng ta báo ơn chủ! Nô tài xin đi cùng!” Bèn mua ngựa đóng xe, may màn đệm, chuẩn bị lương thảo, cùng đi với Tạ. Tạ Tế Thế thấy vậy thì chợt thở dài bảo: “Ta xưa nay luôn cho rằng đứa giảo hoạt có ích, đứa thật thà có thể dùng. Bây giờ mới biết rằng, đứa giảo hoạt có ích nhưng không thể dùng, mà đứa ngốc thì có thể dùng; Đứa thật thà có thể dùng nhưng kỳ thực thì vô dụng, mà đứa ngốc thì lại hữu dụng!” Bèn nhận tên ngốc làm nghĩa tử, đặt tên là Tráng Tử.
Đến nơi quân doanh, chưa được bao lâu, tiền bạc đã tiêu hết, chỉ còn cách bán cả áo da, ngựa tốt đi. Thời gian lâu dài, dần dà không nghĩ ra được cách gì nữa. Tráng Tử hàng ngày phải vác súng, đi xa hơn mười dặm, săn bắn hươu nai, lợn thỏ, để lo bữa cho Tạ Tế Thế. Một hôm, Tráng Tử vì đuổi theo một con hươu chui vào trong bụi cỏ rậm, một lát bị vướng ngã, thấy chân lún sâu xuống đất đến hơn một thước. Rút được chân lên nhìn xuống, thấy dưới hố đất cát có ánh kim loại trắng lấp loáng. Đếm thử xem, thấy có đến hai chục khối lớn, phải đến một ngàn lạng, bèn lấy ra mang về. Tạ Tế Thế đem việc ấy báo lên tướng quân. Tướng quân nghe xong rất kinh ngạc, hỏi rõ duyên do, mới biết là do Tráng Tử phát hiện ra, liền vỗ đùi nói: “Giữa chốn sa mạc, làm gì có vàng bạc giấu? Đó là ông trời ban cho để khen thưởng cho đứa nghĩa bộc của ông đấy!” Bèn đem vàng ấy trả lại cho Tạ Tế Thế. Tạ gọi Tráng Tử lại, thưởng cho nó áo cừu, dê ngựa, và mười lạng vàng. Từ đó, những vương hầu ngoài ải đều đặc biệt tôn kính Tạ Tế Thế.
Đến khi Tạ được xá tội cho về, đến vùng Hồ Tương làm quan, Tráng Tử lại khuyên ông mạnh dạn lui bước. Tạ Tế Thế bèn từ quan, ẩn cư trong chốn lâm tuyền, di dưỡng tuổi trời. Tráng Tử sống đến chín mươi tuổi, không bệnh mà mất. Mọi người đều cho rằng đó là vì trung nghĩa mà được báo đáp.
(Trích trong "Dạ Đàm Tùy Lục")

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

Chuyện Ngày Giáp Tết Của Một Hàn Sĩ Dưới Ngòi Bút Châm Biếm Của Hòa Bang Ngạch


“Dạ Đàm Tùy Lục” của Hòa bang Ngạch được khắc in lần đầu vào năm Kỷ Hợi niên hiệu Càn Long (1779), có lẽ vì thế chăng, mà dù đã được dịch và biên tập xong từ lâu, nhưng phải đến Tết năm Kỷ Hợi 2019 được “vấn thế” một cách tòa diện (toàn bản). Một điểm trùng hợp ngẫu nhiên nữa là, truyện đầu tiên của tác phẩm – truyện “Thôi Tú Tài” cũng lại là một truyện mà trường đoạn chủ yếu nhất của nó là viết về tình cảnh của một kẻ hàn nho trong những ngày giáp Tết. Và câu chuyện có thể nói là một trong những minh chứng cho chủ trương của tác phẩm, mà như trong lời giới thiệu đầu cuốn sách đã nói, khi so sánh nó với “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh, rằng:
“Nếu đem so sánh, giữa “Liêu Trai Chí Dị” và “Dạ Đàm Tùy Lục”, thì cả hai tuy cùng là những chuyện truyền kỳ chí quái nói về ma quỷ hồ ly, nhưng xét về mặt phản ánh cuộc sống, phê phán hiện thực thì mỗi tác phẩm lại có một đặc sắc khác nhau. Trong “Dạ Đàm Tùy Lục”, việc vạch trần và phê phán những mặt xấu xa của hiện thực thường cao hơn hẳn việc miêu tả và hướng đến một thế giới lý tưởng đẹp đẽ ảo tưởng. Do vậy, nếu như nói “Liêu Trai Chí Dị” phần nhiều là thể hiện một vẻ đẹp lý tưởng của chủ nghĩa ly kỳ lãng mạn, thì “Dạ Đàm Tùy Lục” lại bộc lộ nhiều hơn một không khí hung bạo của chủ nghĩa hiện thực thô sơ.”
Mời các bạn thưởng thức một đoạn trong truyện “Thôi Tú Tài” – truyện đầu tiên của tác phẩm “Dạ Đàm Tùy Lục”, để có thể thấy phần nào ngòi bút châm biếm hiện thực sâu cay của Hòa Bang Ngạch.


"Bậc tiên hiền ở phủ Phụng Thiên là Lưu công, từ khi chưa hiển đạt, vốn vẫn là con nhà thế gia. Khi còn tuổi trẻ, tính phóng khoáng hiếu khách, tiêu pha không bao giờ bủn xỉn, xe ngựa dập dìu, trước nhà lúc nào cũng đông như chợ, người qua lại ai cũng phải ngưỡng mộ, dù là Mạnh Thường quân nước Tề, Bình Nguyên quân nước Triệu cũng không hơn được.
Một hôm có vị khách là Thôi Nguyên Tố đến đưa danh thiếp, Lưu tiếp kiến, hỏi đến gia thế, bản quán, Thôi đáp: “Tôi là tú tài ở Lâm Cù, Sơn Đông, lên kinh đô đã hai mươi năm rồi. Nghe nói ngài vốn hiếu khách, nên đến làm thực khách vậy.” Lưu mừng lắm, hai bên cùng qua lại với nhau, thỉnh thoảng lại chu cấp cho tiền gạo. Thôi cứ độ mươi ngày lại đến, đến lần nào cũng vay mượn, người nhà đều ghét là kẻ nghèo hèn, riêng Lưu không lấy làm phiền, lần nào cũng cho được như ý, chưa từng trái bao giờ. Cứ như vậy đã hơn hai năm.
Bỗng nhà Lưu gặp liền mấy biến cố lớn, của cải mất gần hết. Lại ba năm nữa, thì nghèo đến không còn gì. Lại đi thi mấy bận không đỗ, thân cố ai nấy đều coi thường, đem chuyện được mất lỗi lầm của Lưu làm kể truyền miệng lẫn nhau, dần dần đến độ không gặp gỡ hỏi thăm nữa. Nô bộc trong nhà Lưu cũng bỏ đi, luôn luôn có kẻ cố ý phạm lỗi để mong bị đuổi, cuối cùng chỉ còn lại một người lão bộc. Trong nhà Lưu cũng chỉ có một vợ, một con trai, một con gái mà thôi.
Gặp dịp tháng Chạp sắp hết, mà nhà Lưu chỉ có áo trâu, vại rỗng, không có gì để đón năm mới.  Người con gái giỏi làm thơ, đùa ngâm rằng:
Chết buồn mưa tuyết mấy hôm liền;
Bông vón xui ai khắp chốn tìm.
Tết đến mà như Hàn Thực tiết;          
Trong bếp vì chưng cũng cấm yên.
Lưu thấy thế cười bảo: “Bây giờ hai vai lạnh sởn da gà, nếu có thể đem nấu mà ăn, thì cũng được bữa no. Giờ nghe thơ con, thật khiến ta thấy hổ thẹn.” Nhân lại họa rằng:
Năm nay năm trước khoảng trời liền;
Trước áo cừu nay bông rách tìm.
Nhắn bảo đông quân đừng báo tết;
Xuân sang sức cạn bếp đành yên!

Vợ giận lừơm bảo: “Bạn bè quý hóa ngày xưa, cần gì là đáp ứng ngay, những kẻ đến ăn không đâu phải chỉ có một người. Nay năm hết tết đến, đến cái ăn cũng không có, còn không nghĩ tính toán cách nào, lại còn dở dói họa thơ với con, chắc là ngồi đợi chết đói, mà làm sẵn bài phúng điếu đấy hẳn?” Lưu nói: “Vậy muốn ta đi ăn trộm hay sao?” Vợ nói: “Ăn trộm cũng được! Chỉ sợ ông cũng chẳng có cái tài ấy đâu! Nhà Chu tri huyện ở ngoài cửa Thuận Thành, khi còn hoạn nạn, ông ta vốn cũng là chỗ tri giao với ông, một ngày không gặp là không chịu nổi. Nghe nói hiện nay ông ấy vì có tang mà đang ở nhà, bổng lộc sung túc, sao ông không viết thư cho ông ấy, nhờ ông ấy giúp cho trong lúc cấp bách này?”  Lưu nói: “Nếu bà không nói, thì tôi cũng quên mất.” Liền viết thư, sai lão bộc đưa đi.
Sẩm tối, ngưỡi lão bộc trở về tay không, vừa vào cửa liền chửi ngay: “Đúng là đồ táng tận lương tâm, không nên quen biết với hắn ta nữa! Mới đầu, người giữ cửa chối rằng hắn đi ra ngoài không ở nhà, tôi đã không tin. Đến khi hắn ra cửa tiễn khách, tôi gặp được rồi. Hắn trâng trâng hai mắt, cầm thư trở vào. Tôi giục giã mấy lần, mới truyền lời ra rằng bận việc, không rảnh rỗi để viết thư phúc đáp được. Chỉ có thể nhờ nói lại giùm với ông rằng ông ta hiện giờ trăm việc cần chi dùng, trong túi không có một đồng, đang còn lo không biết mượn đâu ra, thực sự không giúp được như lời ông … Kẻ táng tâm như vậy, nếu còn quen biết, chẳng phải hỏng hết danh tiết ư!” Lưu đã mong mỏi một ngày trời, tưởng rằng được như ý, nay nghe như thế, không ngăn được buồn rầu.
Vợ đay nghiến bảo: “Bạn tri giao chẳng nhờ cậy được rồi. Còn bạn thân từ thuở ấu thơ, đâu phải là quen biết sơ sài. Ông Dương ở phía bắc thành, chẳng phải là bạn thân từ thơ ấu của ông ư?” Lưu lấy làm phải, lại viết thư gửi tới. Dương từ chối rằng buôn bán thất bát, thua lỗ cả tiền vốn, không có tiền giúp. Lưu vỗ đùi than rằng: “Loại bạn bè đầu môi chót lưỡi ấy, vốn chẳng lạ gì. Muốn có người hiểu mà giúp tiền bạc, chẳng thể không nhờ những bạn đạo nghĩa.” Bèn khêu đèn viết thư, nói hết tâm can, hôm sau giao cho lão bộc đưa đến Cận công tử ở phía nam thành.
Cận công tử là hậu duệ nhà sĩ hoạn quý tộc, ruộng vườn khắp quanh kinh thành. Công tử với Lưu vốn là thế giao, vô cùng thân thiết, mỗi khi hội ngộ cùng nhau, đều tối ngày sáng đêm, bàn toàn những khí tiết trung nghĩa, đạo lớn ở đời, cùng khích lệ chỉ bảo lẫn nhau, tình nghĩa không khác huynh đệ một nhà, có thể nói là đã đứng vững chân, không theo thói tục, một lòng học theo hiền nhân đời xưa. Cận công tử xem thư xong, lập tức phúc đáp, nói: “Thẹn rằng tri kỷ thì đáng phải lập tức tuân mệnh. Nhưng tiếc rằng tâm có thừa mà lực không đủ, đành thúc thủ vô sách. Ngài chỉ cần gắng sức noi theo chí hướng, chớ nên trễ nải bỏ bê, thì có lo gì nghèo khó! Vả chăng trời sinh ra Lưu quân, tất chẳng để cho khó nhọc, ngài hãy cứ đợi chờ, nhất định sẽ có ngày đại phú quý vậy. Chỉ có điều, một kẻ hiếu nghĩa như đệ, gặp khi nguy cấp thế này, mà lại ngồi nhìn bạn tốt gặp khốn, không thể đưa tay ra cứu giúp, thực đáng hổ thẹn, riêng mong người tri kỷ lượng thứ cho vậy!” Lưu phẫn uất, ném thư xuống đất nói: “Hơ hơ! Thường ngày móc gan ruột, nói đạo đức, nào là Dương, Tả, Nhậm, Lê! Mỗi khi ông ta sinh con trai con gái, ta từng đem trăm lạng vàng đến mừng. Nay khi ta cấp bách cần tiền, lại không chịu bỏ ra một đồng, còn đem những lời viển vông ra khuyên bảo. Gọi là bạn đạo nghĩa, là như thế này sao?”
Lão bộc khuyên bảo: “Bạn bè của chủ nhân, đại để chẳng có một ai thực sự là kẻ tri tâm đâu. Trong số họ hàng thân thích của ông cũng chẳng thiếu nhà phú quý. Sao không chịu khó mất mặt một chút, liên hệ với họ xem có cách nào không?” Lưu công buồn bã than bảo: “Bằng hữu là một trong năm đạo luân thường, mà còn gọi ba bận chẳng thưa, họ hàng thân thích sơ sơ, thì có hy vọng gì?”
Trong lúc chuyện trò, chợt nghe có tiếng gõ cửa, báo rằng Thôi tú tài đến. Vợ bảo: “Hừ! Người ta đã khốn khó cùng khổ đến bước này rồi, ông ta còn đến đẽo thịt kẻ trơ xương ư? Bây giờ đến khúc xương khô cũng chả còn nữa, vẫn còn đến vạc, e là chả có chỗ mà hạ dao đâu.” …”

Trong "Dạ Đàm Tùy Lục" có thể nói ngòi bút châm biếm phê phán hiện thực của Hòa Bang Ngạch trải rộng qua rất nhiều tầng lớp, từ quan lại, tăng lữ, cường hào địa chủ cho tới học trò, nho sinh ... Mà ở mỗi một tầng lớp, mỗi một hạng người, cho đến nay dường vẫn thấy thấp thoáng đâu đây trong xã hội của chúng ta.