(Châu Hải Đường dịch)
Văn học chân chính cũng giống như tình yêu chân chính, là đi tìm hạnh phúc trong sự khổ đau.
I.
Có
người nói tôi là kẻ may mắn trong văn học, có người nói tôi có phúc
tướng, có người nói tôi gặp thời vận tốt. Những bạn nói các câu này, tất
nhiên còn ẩn chứa bên trong một thâm ý khác nữa.
Tôi thì tin
rằng, ai từng là người bất hạnh trong cuộc sống, thì người đó đã có điều
kiện để trở thành kẻ may mắn trong văn học. Ai từng phải đầm mình lặn
lội trong dòng sông tai họa của cuộc sống, thì người đó có thể trở nên
một kẻ có phúc tướng sáng láng. Sau khi cuộc đời cướp bóc bạn một trận
thỏa thuê, nó mới đem văn học tặng lại cho bạn. Văn học là kết quả khổ
đau của cuộc sống, cho dù thứ quả ấy có một hương vị thật ngọt ngào.
Tôi
lớn lên trong thời gian mười năm đại động loạn. Cuộc sống rất khắc
nghiệt, nó không đùa với tôi. Bởi vì không có con đường gập ghềnh của
cuộc sống, không có hoạn nạn mài dũa, không có hi sinh, thì cũng sẽ
không có văn học với sức sáng tạo chân chính, có phát hiện, có giá trị.
Ngược lại, tôi thường oán trách cuộc sống quá ưu ái và khoan dung đối
với mình. Nếu như nó đẩy tôi đến những tầng sâu hơn nữa, tôi có thể đã
tìm thấy chân lý thực sự của cuộc sống một cách sâu sắc hơn. Giữa hưởng
lạc và khổ đau, người thực sự có chí hướng ở văn học, nhất định sẽ sẵn
sàng lựa chọn điều thứ hai.
Vì thế, tôi lại thừa nhận rằng, mình là người may mắn.
Cuộc
đại động loạn và đại biến cách ấy, khiến xã hội từ hình phẳng trở thành
hình lập thể, từ đơn nhất trở nên rối loạn, trong cái vỏ đã nẻ toác như
mai rùa, lộ rõ màu sắc từ tận tầng đáy. Màu sắc dưới đáy thường là màu
cơ bản. Sông hồ biển cả chỉ trong những cơn sóng to gió lớn mới lộ ra
tất cả những gì ẩn chứa bên trong mình. Phàm người ta khi trải qua những
sự biến lớn, lại được nhận thức đến cùng, chắc chắn có thể có được
những tài sản tinh thần quý báu không gì so sánh được. Bởi vì giá trị
giáo huấn của nó không hề thua kém kinh nghiệm của sự thành công. Từ
trong đó, tôi đã học được những thứ mà hàng trăm năm thái bình thịnh trị
chưa chắc có thể học được. Cho nên khi chúng tôi cầm bút lên, chẳng cần
phải tự cho là kẻ đa tình, làm bộ làm tịch, để viết lên thơ gượng nói
sầu. Nội tâm sung túc và no đủ, cái cần thiết chỉ là ngôn ngữ giản dị
sáng sủa và chính xác. Chúng tôi dường như chỉ cần nói ra một chút về sự
thật những gì tai nghe mắt thấy, đã làm cảm động lòng người hơn cả
những gì mà một tác giả có sức tượng tưởng giỏi nhất thời xưa hư cấu ra.
Trước tiên, cái tôi thu hoạch được là trách nhiệm xã hội nghiêm túc, và
phát hiện ra thứ tôi có thể dùng để thể hiện trách nhiệm với xã hội là
giấy và bút. Tôi rót trách nhiệm ấy vào bầu mực trong quản bút, cây bút
trở nên thật nặng nề, nếu tôi đem tất cả những gì trong quản bút ấy dốc
ra trang giấy – đó chính là cái mà tôi mong mỏi, cái mà tôi tìm kiếm,
văn học trong lòng tôi.
Cuộc sống biến đổi từng giây từng phút không ngừng. Văn học lần theo dấu vết của nó.
Tư
tưởng và cuộc sống, cũng giống như Tolstoy nói, là một chiếc xe ngựa
phi nhanh từ sườn núi xuống dốc, không rõ là ngựa kéo xe hay là xe đẩy
ngựa. Nhà văn cần phải vươn ra tất cả những xúc tu cảm nhận và những xúc
giác có thể thăm dò, luôn tìm đến những nơi sâu xa của cuộc sống, cùng
với những người trong thời đại của mình đau đớn suy nghĩ tìm tòi con
đường để đi tới một ngày mai hạnh phúc trong lý tưởng. Nếu như không
phải như thế, văn học cao thượng sẽ không còn tồn tại.
Văn học là
một sứ mệnh, cũng là một sự phục dịch suốt đời vừa ngọt ngào vừa đau
khổ. Chẳng trách thường có người mắng tôi là ngu ngốc. Không sai, đúng
là ngu ngốc! Quá nửa những sự việc trong cuộc đời này, chính là do những
kẻ ngốc thằng đần làm ra bằng kiểu này hay kiểu khác.
II.
Tìm kiếm văn học, là sự tìm kiếm của nhà văn đối với cuộc đời.
Cuộc
đời rộng lớn như sa mạc mênh mông không có đường đi, càng không có
người dẫn đường, chỉ có một cái đích đẹp đẽ, xa xôi không nhìn thấy được
cắm trong tim mình. Đi thế nào đây? Không biết. Trong chuyến đi dài và
gian khó này, có khi sẽ hoang mang vì không biết phương hướng, có khi sẽ
vì quá cô đơn mà do dự không tiến bước, có khi trong lòng tràn đầy tự
tin, mạnh mẽ như cọp, có khi lại nắm tay đấm thùm thụp vào cái đầu trống
rỗng của mình. Bất kể là hưng phấn, bằng lòng, kiêu ngạo, hay là chán
nản, tự ti, hối hận, tất cả đều từng xâm chiếm lòng mình. Tâm tình giống
như thời tiết, khi nóng khi lạnh. Cõi lòng thì tựa bầu trời, khi sáng
khi tối. Đó là cuộc chiến đấu giữa niềm tin và phần yếu đuối trong ý
chí. Mỗi một bước đi của cuộc đời đều cùng lúc vừa phải chống đỡ với
những khó khăn từ bên ngoài, vừa phải vượt qua những chướng ngại của
chính mình, mới có thể tiến bước lên phía trước. Tiền đồ của xã hội mọi
người đều cùng nhau phấn đấu để giành lấy, nhưng con đường của cá nhân
thì phải tự mình mở mang từng chút một. Vừa mở mang, vừa đi, đến chết
cũng không biết mình đã đi được bao xa. Người chân chính đều sử dụng sự
nghiệp của mình để tìm kiếm giá trị của cuộc sống. Nhà văn còn phải trực
tiếp tìm hiểu hàm nghĩa của giá trị ấy.
Tìm kiếm văn học, cũng là sự tìm kiếm của nhà văn đối với nghệ thuật.
Trên
cánh đồng hoang của nghệ thuật, cũng phải trải qua sự vất vả tìm kiếm
đường đi. Tất cả những con đường mà người trước đã đi qua, đều là con
đường ở phía sau lưng mình. Chỉ có đi ngao du tham quan thắng cảnh, mới
có những con đường quen thuộc có đầy đủ xe pháo chờ đón sẵn sàng. Nhà
văn nghiêm túc phải có những phát hiện cho cuộc sống của chính mình,
sáng tạo phương thức biểu đạt phù hợp. Nói một cách nghiêm túc, mỗi một
phương thức, chỉ thích hợp với một nội dung biểu đạt nhất định của nó,
một nội dung khác lại cần phải tìm kiếm một phương thức mới khác.
Văn
học không cho phép sự giống nhau, bất kể là với người khác hay là bới
chính mình. Đối với nhà văn, ngay một câu cách ngôn chí lý đã dùng qua
cũng không thể lại xuất hiện dưới ngòi bút của mình, nếu không sẽ mắc
lỗi sao chép của chính mình.
Tuy nhiên, vượt qua người khác không
dễ, vượt qua chính mình còn khó hơn. Một nhà văn dựa vào sự trải nghiệm,
cảm thụ và phát hiện cuộc sống cũng như kiến giải mỹ học riêng có của
mình, có thể vượt qua người khác, sự vượt trội đó trên thực tế cũng là
một sự khác biệt. Nhưng một khi anh ta đã lộ ra diện mạo của mình, nếu
muốn khác với chính mình, đổi một khuôn mặt khác, thì còn khó khăn hơn
rất nhiều. Do vậy, đại đa số những tác phẩm tạo nên tên tuổi của nhà
văn, chính là đỉnh cao trong sáng tác của họ. Nếu muốn vượt qua đỉnh cao
đó, thì cũng giống như phải tự mình đứng lên vai của mình vậy. Có
người tìm cách thay đổi hình thức nghệ thuật, có người bận rộn gom thêm
nội dung cuộc sống. Nhưng, nếu chỉ dựa vào sự mới mẻ về nghệ thuật, cuối
cùng chỉ có thể khiến cho tác phẩm biến thành một cái vỏ chói mắt nhưng
nhẹ hều. Vội thu gom những chất liệu từ trong cuộc sống, lại không phải
một sớm một chiều có thể gặt hái được. Nghệ thuật là một triền dốc,
giữa chừng không thể dừng lại, nếu anh không trèo lên anh sẽ bị trôi
tuột xuống. Mỗi một nhà văn đều phải trải qua những thời kỳ buồn khổ với
sáng tác. Có người bước được ra khỏi nỗi buồn khổ ấy, có người sụp đổ
trong nỗi buồn khổ ấy. Bất kỳ sự vật gì cũng đều có hạn chế, bên ngoài
hạn chế đó mới là giới hạn cuối cùng. Sức người chỉ cho phép đạt đến
giới hạn cuối cùng, nếu không sớm muộn cũng có một ngày, tôi nhất định
sẽ bó tay hết cách, tằm già nến cạn, chỉ còn biết chính mình bắt chước
mình, bạn đọc sẽ hét vào mặt tôi: “Ông Phùng! Ông đến đây là hết rồi!”.
Giống như một câu ngạn ngữ Nga: “Chó già không biết diễn trò mới”. Sự
thay thế trên văn đàn cũng vô tình như sự đào thải của tự nhiên, vì thế
phải đem hết toàn bộ con người mình vẽ nên một đường parabol không đẹp
lắm, để ném ra văn đàn. Điều ấy cũng không hề gì, chỉ cần ta từng lưu
lại một chút gì đó ở nơi ấy, thế là đủ.
Đã sống thì đừng sống hoài
sống phí, đó là hạnh phúc và an ủi lớn nhất của cuộc đời. Nhưng, nếu
như tôi đem nỗ lực suốt đời ra chỉ để có thể góp thêm cho văn học một
cái gì mới, thì đó sẽ là việc đáng tiếc nhất suốt cuộc đời tôi.
Tôi sẽ nói mình: Đúng là một thằng ngốc!
III.
Một nhà văn cần có những tố chất gì?
Khả
năng tưởng tượng, khả năng phát hiện, khả năng cảm thụ, khả năng quan
sát, khả năng nắm bắt, khả năng phán đoán; Tư duy hình tượng sống động
và tư duy logic nghiêm túc; Tri thức về cuộc sống tổng hợp và sự bồi
dưỡng về nghệ thuật toàn diện nhiều nhất có thể. Phải khéo, phải vụng,
phải linh hoạt, phải mềm dẻo, phải có sự ham muốn khám phá thế giới xung
quanh, phải nuôi dưỡng mẫn cảm đối với từng chi tiết riêng có các sự
vật muôn hình muôn vẻ, phải nắm bắt được chắn chắn và chuẩn xác từng cử
chỉ điệu bộ, dáng vẻ lời nói, nét mặt nụ cười của đủ loại kiểu người. Và
đối với tất cả những điều đó, mênh mông nhất hay chi li nhất, hữu hình
hay vô hình, vận động hay tĩnh lặng, rõ ràng rành mạch hay mông lung mơ
hồ, đều phải có khả năng biểu đạt ra một cách chuẩn xác. Ngòi bút phải
như mũi kim của nghệ nhân thêu đất Tương, bố cục phải như Napoleon bày
trận, trong tay mình gần như thật sự có phép thuật, đem tất cả những thứ
không có sự sống ấy thổi vào một linh hồn cho chúng trở nên sống động
linh hoạt. Ngoài ra còn cần phải có cảm giác linh mẫn, tình cảm tràn
đầy, tầm mắt rộng lớn. Nội tâm của nhà văn là một vũ đài nhỏ, là mô hình
thu nhỏ của vũ đài xã hội, tất cả những gì của cuộc sống, qua sự nhào
nặn của nghệ thuật, đều diễn lại ở đó. Hơn nữa nó còn phải không ngừng
thay đổi nhân vật, phông cảnh, không khí và cảm hứng. Biểu hiện cao nhất
khả năng của nhà văn, là sáng tạo ra những nhân vật mới mẻ, có đầy đủ ý
nghĩa điển hình và giá trị thẩm mỹ ở trên sân khấu đó.
Mình đã có
được bao nhiêu trong số những tố chất đó? Không biết là thiếu bao
nhiêu, mà biết cũng không làm được gì. Trước khi sinh ra đã thiếu hụt,
sau khi sinh ra cũng không thể thêm vào. Hơn nữa trong văn học nghệ
thuật, sở đoản có thể biến thành sở trường, điểm thiếu sót là điều kiện
cần có để tạo nên một phong cách nào đó. Chữ của nhà thư pháp viết tay
trái, bức tranh của họa sĩ bị tật về mắt, bài hát có giọng khàn làm mọi
người say mê của một ca sĩ nói tiếng khàn, cũng giống như vẻ đẹp của
vầng trăng khuyết mà trăng tròn không thể thay thế được. Không ít các
nhà văn không đủ khả năng xây dựng những tác phẩm đồ sộ, đã trở thành
những bậc thầy về truyện ngắn tinh tế lung linh. Không có một nhà văn
nào là có đầy đủ các điều kiện, nhưng họ đều có những sở trường về nghệ
thuật riêng của mình. Nhà văn còn phải có một tài năng, đó là biết về
mình, đi vào sở trường, tránh sở đoản, phát huy ưu thế, khiến cho khí
chất của mình trở thành nét đặc sắc về nghệ thuật, cùng với việc thành
công về nghệ thuật, cũng là thành công về con người mình.
Nhận
thức về mình không hề dễ hơn nhận thức về thế giới. Nhà văn có thể nhìn
thấy rất rõ người khác, nhưng với bản thân mình thường rất mơ hồ, và
không tỉnh ngộ. Tôi đã viết đủ các thể loại tác phẩm, đến nay không biết
loại nào thực sự là của mình. Có cái thiên về triết lý, có cái lại chú
trọng trữ tình, có cái đau buồn, có cái hài hước, tôi đều cảm thấy tất
cả là của mình. - Đau buồn mới là khí chất của tôi? Vui sướng mới là hóa
thân của tôi? Tôi là người suy nghĩ sâu xa hay là tùy hứng? Tôi làm sao
lúc thì cổ đại lúc lại hiện đại? Bỗng nhiên thì đi vào tình điệu nước
ngoài, bỗng nhiên lại đi vào phong vị quê hương? Tôi giống như thày bói
xem voi, lúc này thì sờ được vào cái chân to lớn vững chãi, lúc sau lại
sờ đến cái tai vừa rộng vừa mềm, lúc nữa lại sờ đến cái ngà vô cùng sắc
nhọn. Cái gì cũng thấy giống mình, cái gì lại cũng chẳng phải mình. Có
người hỏi phong cách của tôi là gì, tôi cười bảo: Tôi không quan tâm đến
điều đó. Tất cả sức lực của tôi là để làm việc, là đem hết tất cả những
gì mình có dâng hiến cho bạn đọc. Phong cách không chỉ là vẻ ngoài của
tác phẩm, nó là một chỉnh thể vừa hài hòa vừa phức tạp. Nó giống như một
con người, tồn tại một cách thực sự rõ ràng, nhưng lại khó nói ra cho
rành mạch. Trong tác phẩm của mình, nhà văn ngoài việc miêu tả rất nhiều
sinh mệnh ra, còn có một sinh mệnh nữa, đó chính là sinh mệnh của nhà
văn. Phong cách là khí chất của nhà văn, là hơi thở của một sinh mệnh
sống động, là một linh hồn khác biệt với vẻ đẹp riêng của nó mà ta có
thể cảm nhận được.
Vì thế, nhà văn đã biến sinh mệnh của mình
thành từng cuốn từng cuốn sách. Cho đến một ngày sinh mệnh của anh ta
kết thúc, thì những cuốn sách mà anh ta viết, những cuốn sách làm rung
động trái tim, làm dâng tràn tình cảm, làm cháy lên yêu ghét, những cuốn
sách tỏa ra khí chất riêng có của anh ta, vẫn còn trên cõi đời giống
như chính bản thân nhà văn vậy. Nếu như thứ nhà văn để lại không phải
chính mình, không phải là cuộc sống mà anh ta cảm nhận được một cách
thiết thực, không phải là sáng tạo mà là bắt chước, thì tự nhiên nó sẽ
bị hậu thế thậm chí ngay hiện thế phế bỏ.
Nhà văn phải chịu đem
bản thân mình trao cho độc giả. Viết ra những điều mình nghĩ, không sợ
chính mình trong tương lai có thể phản đối chính mình của ngày hôm nay.
Com tim khi cầm lên cây bút giống như lòng thành của một tín đồ, thánh
thiện và bình thản. Phép tắc của tư tưởng là trong sạch và ngay thẳng,
phép tắc của nội dung là chân thực, phép tắc của nghệ thuật là cái đẹp.
Không lấy văn chương để trang điểm cho mình, chỉ có thể phủ định và thay
đổi bản thân mình để hoàn thiện cho nghệ thuật. Nhà văn khi phê phán
thế giới cần phải có dũng khí, khi phê phán chính mình cần phải có dũng
khí lớn hơn. Độc giả mong muốn được nhìn thấy những nhân vật chân thực
mà không nhất định phải hoàn mỹ trong tác phẩm, cũng mong muốn nhìn thấy
một nhà văn thật sự dù có thể tự mâu thuẫn với chính mình. Sau khi vứt
bỏ tất cả mọi thứ của mình, văn học sẽ tự nhiên ra đời, cũng giống như
mặt trời khi đốt cháy chính mình mới tỏa ra ánh sáng.
Nếu như nhà
văn biến chính mình thành tác phẩm, thì tên tuổi trên tác phẩm, cũng
giống như cái rốn trên cơ thể người, có thể có, có thể không, hoàn toàn
vô dụng, chẳng qua là theo tập quán, không có cái tên ấy thì dường như
chưa phải là một cơ thể đầy đủ mà thôi – Xin nói vui một câu như vậy.
Tôi muốn nói rằng, nhà văn không cần hưởng thụ một cái gì bên ngoài văn
học. Đó chính là văn học trong lòng tôi!
Thiên Tân -Tháng 1/1984
(Văn Nghệ Trẻ số 23 /2013)
Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013
Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013
TẢN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT - (Uông Tăng Kỳ)
Tản
Văn Hóa dường như là một loại hình (không phải là duy nhất) của xu thế
tiểu thuyết trên thế giới. Trong tập “Bút Ký Người Đi Săn” của Turgenev
có một số truyện gần giống như tản văn, đến “Thảo Nguyên Bezhin” thì
càng là như vậy. Tác phẩm “Những bức thư từ xưởng xay” của Daudet (nhà văn Đức- ND)
cũng như vậy. Các tác giả đã có ý dùng hình thức “”Nhật ký”, “Thư” để
làm tiêu đề cho tập sách, biểu thị rằng các câu chuyện trong cuốn sách
này, không phải là những truyện ngắn mang một ý nghĩa nghiêm túc như
truyền thống vốn có của nó. Chekhov có một số truyện ngắn viết rất nhẹ
nhàng, tùy ý. “Sợ Hãi” thực sự không giống như một tiểu thuyết, mà giống
như một thiên tạp ký. Rất nhiều tiểu thuyết của Azorin (nhà văn Tây Ban Nha - ND)
có thể gọi là tản văn mà không phải đắn đo gì cả, nhưng chính ông lại
cho đó là tiểu thuyết. Có một số tác phẩm hoàn toàn không thể gọi là
tiểu thuyết, thì được gọi là “Tiểu phẩm”, ví dụ như: “Ông Azorin là một
người kỳ quái”. Những tiểu thuyết mang màu sắc tự truyện của Saroyan (tác giả người Mỹ - ND)
là những thiên hồi ký mang đầy tính văn học. “Cố hương” của Lỗ Tấn viết
rất tản mát. Tác phẩm “Xã Hí” là tiểu thuyết ư? Nhưng Lỗ Tấn lại không
đưa nó vào tập tản văn “Nhặt Cánh Hoa Chiều”, mà lại xếp nó vào trong tập
tiểu thuyết. Tác phẩm “Câu Chuyện Rừng Trúc” của Phế Danh có thể nói là
thơ tản văn có tính liên tục. “Câu chuyện sông Hô Lan” của Tiêu Hồng
hoàn toàn không có sự kiện gì. “Trường Hà” của Thẩm Tòng Văn là một bộ
trường thiên tiểu thuyết rất kỳ lạ. Nó không có cao trào lên cao, xuống
thấp, mở ra đóng vào, không có kịch tính mạnh mẽ, không có đỉnh cao,
không có gay cấn, chỉ là một sự bình thản, tĩnh lặng, chậm rãi tiến về
phía trước, giống hệt như một dòng sông trôi đi mà cuốn tiểu thuyết này
nói tới. Đó chính là một bộ trường thiên tiểu thuyết được tản văn hóa.
Có thể nói, tiểu thuyết truyền thống, trên một ý nghĩa nghiêm túc giống
như núi, còn tiểu thuyết được tản văn hóa thì giống như nước vậy.
Tiểu thuyết tản văn, thường không viết về những đề tài trọng đại. Trong con mắt của tác giả tiểu thuyết tản văn, đề tài không có gì đáng nói. Cái mà họ tập trung vào thường lại là những chuyện nhỏ, một góc, một mảnh nhỏ của cuộc sống. Dù cho có một đề tài lớn, họ cũng sẽ biến nó từ chuyện lớn thành nhỏ. Tiểu thuyết tản văn không có nhiều khả năng dung nạp những tư tưởng quá nghiêm túc, quá cao xa. Tác giả của những tiểu thuyết loại này đại bộ phận là những người có tính cách ôn hòa, họ không muốn khảo vấn thế giới này như kiểu Dostoevsky, hay hoài nghi lạnh nhạt với nó như kiểu Kafka (nhà văn người Do Thái, viết bằng tiếng Đức – ND). Rất nhiều hiện thực tàn khốc, qua sự xử lý tản văn hóa, sẽ mất đi độ cứng vốn có của nó. Lỗ Tấn là một người có tính cách phức tạp. Ông vừa là một đấu sĩ cô độc, bi phẫn, đồng thời lại cực giàu tình cảm yếu mềm. Trong “Cố hương” và “Xã hí” có một nỗi buồn, một sự thê lương như nước thu, như hoàng hôn, khó có thể nói ra được. Thẩm Tòng Văn mong muốn qua tác phẩm “Trường Hà” “giải phẫu và miêu tả kỹ hơn về biểu hiện tính cách cũng như tâm hồn của người nông dân nơi này trong hai mươi năm trở lại đây đã bị thời đại ra sức đè nén uốn cong làm mất đi sự thật thà chất phác vốn có”. Đó là một tư tưởng vô cùng nghiêm túc, khiến người ta phải đau đớn. Ông “chỉ sợ tác phẩm khi đối diện với độc giả, chỉ đem đến cho độc giả một ấn tượng đau khổ”, cho nên “đặc biệt thêm vào một chút thú vị của bài hát mục đồng”. Trên thực tế, bộ phận trữ tình trong “Trường Hà” đã làm nhạt nhòa hẳn tư tưởng khổ đau đó. Tác giả của tiểu thuyết tản văn phần lớn là những nhà thơ trữ tình. Tiểu thuyết tản văn là thơ trữ tình, không phải sử thi. Vẻ đẹp của tiểu thuyết tản văn là vẻ đẹp nữ tính mềm mại, không phải là vẻ đẹp của nam tính mạnh mẽ. Là vẻ đẹp của hỷ kịch, không phải vẻ đẹp của bi kịch. Tiểu thuyết tản văn là dòng suối mát lành, không phải là thuốc đắng. Tác dụng của nó là nuôi nấng, không phải là trị liệu. Nói như vậy, tất nhiên cũng chỉ là tương đối.
Tiểu thuyết tản văn không đi quá sâu vào việc khắc họa nhân vật. Chúng không phải là một sự lý giải, cũng không quá chú tâm vào điển hình luận. Hemingway nói: Không tồn tại sự điển hình, điển hình là dối trá. Câu nói ấy nghe có vẻ trái tai, nhưng dưới sự ảnh hưởng của việc giải thích không chuẩn xác về điển hình luận, thực sự có một số nhà văn đã tạo ra hàng loạt hình tượng nhân vật rõ ràng, nổi bật, nhưng giả dối, không có thực. Yêu cầu một nhân vật giống như một nắm bọt biển, dung nạp vào trong mình nội dung xã hội nhiều như vậy, là rất khó khăn. Thông qua một nhân vật, nhìn ra được một thời đại, đó chỉ là điều nhà phê bình phân tích ra mà thôi, tác giả tiểu thuyết không nghĩ đến điều ấy trước đó. Nếu nghĩ đến trước đó, thì có lẽ tiểu thuyết ấy sẽ không thể viết ra nổi. Tác giả tiểu thuyết chỉ là nhìn thấy một người, cảm thấy có một điểm lạ, muốn viết một chút về anh ta, thế là viết. Chỉ như vậy thôi. Tác giả của tiểu thuyết tản văn thông thường không tiến hành khái quát về nhân vật. Nhìn thấy một ngàn bác sĩ, mới có thể viết ra được một bác sĩ. Phương pháp sáng tác như vậy e rằng chẳng có ai thật sự thực hành qua. Tác giả tiểu thuyết tản văn chỉ là vẽ ra một hai bông hồng, mà không muốn gom cả đống hoa hồng bỏ vào nồi chưng cất, để lấy tinh dầu hoa hồng. Tất nhiên, hoa hồng mà anh ta vẽ đã phải trải qua sự lựa chọn, phải có thể vẽ vào tranh được. Nhân vật trong tiểu thuyết tản văn không có tính khắc họa, đặc biệt là không có khả năng đem tinh thần của mình ngấm đến tận da thịt như Michelangelo được. Nó cũng không phải là tranh sơn dầu của Rembrandt. Nó chỉ là một chút Sketch, nhiều nhất cũng chỉ là tranh màu nhạt bút sắt của Repin. Hình tượng con người trong tiểu thuyết tản văn phải có thần. Chỉ nhẹ nhàng vài nét bút, đã thấy đủ thần đủ khí. Tác phẩm “Thế Thuyết Tân Ngữ” thực sự là một hình mẫu. Tiểu thuyết tản văn hóa, hầu hết không phải tiểu thuyết tâm lý. Những tiểu thuyết như vậy không đi vào kết cấu để đào xới sâu vào tâm lý của con người, tác giả của tiểu thuyết tản văn không thích từ “Đào Xới”. Con người ta có quyền gì để đào xới tâm hồn người khác? Lòng người luôn đóng kín. Vậy thì hãy để nó đóng kín đi.
Đặc trưng bên ngoài thấy rõ nhất của tiểu thuyết được tản văn hóa là kết cấu lỏng lẻo tản mát. Chỉ cần so sánh một chút giữa tiểu thuyết của Maupassant và Chekhov, có thể nhìn ra ngay sự khác biệt lý thú trong kết cấu giữa hai người. Maupassant, và cả O.Henry nữa, cả cuộc đời chơi trò kết cấu, nhưng họ lại cho thấy rõ sự ngốc nghếch, trên thực tế thì họ lại bị trò kết cấu chơi mình. Trong tiểu thuyết của họ, dấu vết nhân tạo rất nặng. Trong khi đó Chekhov dường như hoàn toàn không suy nghĩ đến việc kết cấu, viết rất nhẹ nhàng, tùy ý, tự tại. Ông vượt ra ngoài sự kết cấu, vì thế kết cấu trở nên vô cùng đa dạng. Chương Thái Viêm có luận về biền văn của Uông Trung rằng, “khởi và dừng tự tại, không có kiểu thủ vĩ hô ứng nữa.” Phá vỡ hình thức cố định, là đặc điểm kết cấu của tiểu thuyết tản văn. Ngụy Thúc Tử có luận về văn rằng: “người ta biết cái gọi là ẩn hiện, mà không biết rằng không có gì gọi là ẩn hiện cả, đó là đến cùng tận của ẩn hiện vậy; Người ta biết cái gọi là đứt nối mà không biết rằng không có cái gì là đứt nối cả, đó là đến cùng tận của đứt nối vậy.” (Bài tựa tập văn của Lục Huyền Phố). Kết cấu tác phẩm trong ngoài xưa nay, không nằm ngoài sự ẩn-hiện, đứt-nối. Vượt qua sự ẩn-hiện, đứt-nối, thì sẽ có được sự giải phóng về kết cấu. Tô Đông Pha có nói, “nên đi ở chỗ đáng đi, nên dừng ở chỗ không thể không dừng”, đó là nguyên tắc kết cấu mà tác giả tiểu thuyết tản văn tự biết phải tuân theo.
Ồ, lại còn tình tiết nữa. Tình tiết, điều đó không có gì cả.
Có một số tiểu thuyết tản văn thường chỉ viết về một loại ý cảnh. “Thảo nguyên Bezhin” đã viết về bao nhiêu sự việc? “Câu Chuyện Rừng Trúc” chỉ viết về sự cảm nhận của mấy đứa trẻ về khoảnh trời riêng của chúng, là một thiên “lưu thủy” (Các cửa hàng ở Trung Quốc thời trước gọi những phiếu ghi chép linh tinh hàng ngày là “lưu thủy”, đây là một từ vựng rất hay) về cuộc sống đầy ý thơ của chúng. Chương “Thu – Trong động có tĩnh” ở tác phẩm “Trường Hà” chỉ viết về những câu chuyện phiếm không ý tứ, không mục đích của một đám người qua đò, nhưng nó mới thân thiết làm sao, mới giàu hơi thở của cuộc sống làm sao. Thẩm Tòng Văn đã sáng tạo ra một ý cảnh tịch mịch và thê lương, một khoảnh khắc của mùa thu. Những tiểu thuyết tản văn đó cũng có thể được gọi là “nghệ thuật của sự tĩnh lặng”. Từ những tiêu đề “Thảo nguyên Bezhin”, “Thu – Trong động có tĩnh” đã có thể nhìn ra được điều đó. Tu viện mà Azorin viết cũng rất yên tĩnh. Âm thanh, màu sắc, mùi vị đều rất tĩnh lặng. Ánh mặt trời và chiếc bóng cũng tĩnh lặng. Những động tác, thần thái của con người cũng tĩnh lặng. Dây trường xuân trên tường cũng tĩnh lặng. Tiểu thuyết tản văn thường đều có một chút tình điệu hoài cựu. Thậm chí có ý vị ẩn dật. Điều đó có gì là không hay? Tôi không cho rằng ảnh hưởng mà một số tiểu thuyết như thế gây ra là tiêu cực. Tác giả của những tiểu thuyết như vậy rất yêu cuộc sống. Thái độ của họ với cuộc sống là thái độ ủng hộ. Họ không bao giờ quên cuộc sống đời thường sinh động và huyên náo bên ngoài cửa sổ.
Tác giả của những tiểu thuyết tản văn vô cùng dụng công trong ngôn ngữ. Họ biết rõ rằng, nếu bỏ ngôn ngữ đi, thì sẽ không tồn tại tiểu thuyết. Họ hy vọng ngôn từ của mình có đủ sự nhã trí, tinh xác, bình dị. Họ để thái độ đối với cuộc sống của mình được bộc lộ ra một cách tự nhiên từ từng dòng từng chữ, mà theo cách nói thông dụng ở phương tây hiện nay là: chú ý đến tính ám thị của ngôn ngữ đối với chủ đề. Họ không đem tính khuynh hướng “cố ý nói ra”. Tác giả tiểu thuyết tản văn không phải là nhà tiên tri, không phải là hiền triết, không phải là thượng đế cái gì cũng biết, cũng không phải là nhà diễn thuyết linh hoạt. Họ chỉ là những người bạn của độc giả. Vì thế, bản thân họ không câu thúc, và cũng mong muốn độc giả không bị câu thúc.
Tiểu thuyết tản văn hóa sẽ đem đến cho quan niệm về tiểu thuyết một chút biến hóa mới.
Bắc Kinh, ngày 17.11.1986
(Châu Hải Đường dịch - Đăng trên Văn Nghệ Trẻ số 20 - 19/5/2013)

Vài nét về nhà văn Uông Tăng Kỳ
Uông Tăng Kỳ (5/3/1920 – 16/5/1997), người Cao Bưu, Giang Tô, là nhà văn, nhà viết kịch đương đại của Trung Quốc, là nhân vật đại biểu cho nhóm Kinh Phái. Ông tốt nghiệp Đại học Liên hợp Tây Nam từ khi còn rất trẻ, từng làm giáo viên trung học, cán bộ liên hiệp văn nghệ thành phố Bắc Kinh,biên tập báo “Văn Nghệ Bắc Kinh”, biên tập cho nhà hát kinh kịch Bắc Kinh. Ông giành được nhiều thành công trong sáng tác truyện ngắn. Ông có các tập truyện như: “Giải Cấu Tập”, các tiểu thuyết: “Thụ Giới”, “Đại Trác Ký Sự”, các tập tản văn như “Bồ Kiều Tập”, …Ông được đánh giá là người theo chủ nghĩa nhân đạo trữ tình, một bậc sĩ đại phu, một văn nhân thuần túy cuối cùng của Trung Quốc.
Năm 1940 ông bắt đầu viết tiểu thuyết, với sự hướng dẫn của thầy giáo là Thẩm Tòng Văn khi ấy dạy ở khoa Văn – Đại học Liên hợp Tây Nam. Năm 1943 sau khi tốt nghiệp đại học về làm giáo viên Trung học ở Côn Minh, Thượng Hải, ông đã xuất bản tập truyện ngắn: “Giải Cấu Tập”
Năm 1948 ông đến Bắc Bình, làm việc ở Viện bảo tàng Lịch sử, không lâu sau đó, ông tham gia đoàn công tác đi xuống phía nam của khu 4, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, đi đến Vũ Hán được giữ lại tiếp quản các đơn vị giáo dục. Năm 1950 ông được điều về Bắc Kinh công tác ở các đoàn thể văn nghệ, tạp chí văn nghệ.
Năm 1956 ông cho ra đời kịch bản kinh kịch “Phạm Tiến trúng cử”
Năm 1958 ông bị cho là phái hữu, phải điều xuống ban nghiên cứu nông nghiệp ở Trương Gia Khẩu
Năm 1962 ông được điều về làm biên kịch ở đoàn Kinh Kịch Bắc Kinh. Năm 1963 xuất bản tập truyện cho thiếu nhi: “Buổi tối ở nhà Dê”. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông tham gia xây dựng kịch bản mẫu “Sa Gia Tân”.
Năm 1979, ông quay trở lại công việc sáng tác.
Từ những năm 1980 trở về sau, ông viết nhiều tiểu thuyết nói về phong tục, dân tình, trong thời Dân quốc, rất được hoan nghênh. Ông đã xuất bản các tập tiểu thuyết như: “Vãn Phạn Hoa Tập”, “Tuyển tập truyện ngắn Uông Tăng Kỳ”, tập bình luận văn học “Vãn Thúy Văn Đàm”… Tác phẩm “Đại Trác Ký Sự” của ông giành giải thưởng về truyện ngắn hay toàn quốc năm 1981. Các tác phẩm tương đối có ảnh hưởng khác của ông có thể kể đến: “Thụ Giới”, “Dị Bỉnh”, …Với phong cách giản dị, thanh đạm, thoát khỏi sự ồn ào rối loạn của ngoại giới, để tâm vào việc xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, với văn phong hồn hậu giản dị, hấp thu một cách tự nhiên văn hóa truyền thống, mang đầy hơi thở quê hương, ông được coi là đi đầu trên phương diện viết tiểu thuyết bằng ngòi bút tản văn (tản văn hóa tiểu thuyết).
Tiểu thuyết tản văn, thường không viết về những đề tài trọng đại. Trong con mắt của tác giả tiểu thuyết tản văn, đề tài không có gì đáng nói. Cái mà họ tập trung vào thường lại là những chuyện nhỏ, một góc, một mảnh nhỏ của cuộc sống. Dù cho có một đề tài lớn, họ cũng sẽ biến nó từ chuyện lớn thành nhỏ. Tiểu thuyết tản văn không có nhiều khả năng dung nạp những tư tưởng quá nghiêm túc, quá cao xa. Tác giả của những tiểu thuyết loại này đại bộ phận là những người có tính cách ôn hòa, họ không muốn khảo vấn thế giới này như kiểu Dostoevsky, hay hoài nghi lạnh nhạt với nó như kiểu Kafka (nhà văn người Do Thái, viết bằng tiếng Đức – ND). Rất nhiều hiện thực tàn khốc, qua sự xử lý tản văn hóa, sẽ mất đi độ cứng vốn có của nó. Lỗ Tấn là một người có tính cách phức tạp. Ông vừa là một đấu sĩ cô độc, bi phẫn, đồng thời lại cực giàu tình cảm yếu mềm. Trong “Cố hương” và “Xã hí” có một nỗi buồn, một sự thê lương như nước thu, như hoàng hôn, khó có thể nói ra được. Thẩm Tòng Văn mong muốn qua tác phẩm “Trường Hà” “giải phẫu và miêu tả kỹ hơn về biểu hiện tính cách cũng như tâm hồn của người nông dân nơi này trong hai mươi năm trở lại đây đã bị thời đại ra sức đè nén uốn cong làm mất đi sự thật thà chất phác vốn có”. Đó là một tư tưởng vô cùng nghiêm túc, khiến người ta phải đau đớn. Ông “chỉ sợ tác phẩm khi đối diện với độc giả, chỉ đem đến cho độc giả một ấn tượng đau khổ”, cho nên “đặc biệt thêm vào một chút thú vị của bài hát mục đồng”. Trên thực tế, bộ phận trữ tình trong “Trường Hà” đã làm nhạt nhòa hẳn tư tưởng khổ đau đó. Tác giả của tiểu thuyết tản văn phần lớn là những nhà thơ trữ tình. Tiểu thuyết tản văn là thơ trữ tình, không phải sử thi. Vẻ đẹp của tiểu thuyết tản văn là vẻ đẹp nữ tính mềm mại, không phải là vẻ đẹp của nam tính mạnh mẽ. Là vẻ đẹp của hỷ kịch, không phải vẻ đẹp của bi kịch. Tiểu thuyết tản văn là dòng suối mát lành, không phải là thuốc đắng. Tác dụng của nó là nuôi nấng, không phải là trị liệu. Nói như vậy, tất nhiên cũng chỉ là tương đối.
Tiểu thuyết tản văn không đi quá sâu vào việc khắc họa nhân vật. Chúng không phải là một sự lý giải, cũng không quá chú tâm vào điển hình luận. Hemingway nói: Không tồn tại sự điển hình, điển hình là dối trá. Câu nói ấy nghe có vẻ trái tai, nhưng dưới sự ảnh hưởng của việc giải thích không chuẩn xác về điển hình luận, thực sự có một số nhà văn đã tạo ra hàng loạt hình tượng nhân vật rõ ràng, nổi bật, nhưng giả dối, không có thực. Yêu cầu một nhân vật giống như một nắm bọt biển, dung nạp vào trong mình nội dung xã hội nhiều như vậy, là rất khó khăn. Thông qua một nhân vật, nhìn ra được một thời đại, đó chỉ là điều nhà phê bình phân tích ra mà thôi, tác giả tiểu thuyết không nghĩ đến điều ấy trước đó. Nếu nghĩ đến trước đó, thì có lẽ tiểu thuyết ấy sẽ không thể viết ra nổi. Tác giả tiểu thuyết chỉ là nhìn thấy một người, cảm thấy có một điểm lạ, muốn viết một chút về anh ta, thế là viết. Chỉ như vậy thôi. Tác giả của tiểu thuyết tản văn thông thường không tiến hành khái quát về nhân vật. Nhìn thấy một ngàn bác sĩ, mới có thể viết ra được một bác sĩ. Phương pháp sáng tác như vậy e rằng chẳng có ai thật sự thực hành qua. Tác giả tiểu thuyết tản văn chỉ là vẽ ra một hai bông hồng, mà không muốn gom cả đống hoa hồng bỏ vào nồi chưng cất, để lấy tinh dầu hoa hồng. Tất nhiên, hoa hồng mà anh ta vẽ đã phải trải qua sự lựa chọn, phải có thể vẽ vào tranh được. Nhân vật trong tiểu thuyết tản văn không có tính khắc họa, đặc biệt là không có khả năng đem tinh thần của mình ngấm đến tận da thịt như Michelangelo được. Nó cũng không phải là tranh sơn dầu của Rembrandt. Nó chỉ là một chút Sketch, nhiều nhất cũng chỉ là tranh màu nhạt bút sắt của Repin. Hình tượng con người trong tiểu thuyết tản văn phải có thần. Chỉ nhẹ nhàng vài nét bút, đã thấy đủ thần đủ khí. Tác phẩm “Thế Thuyết Tân Ngữ” thực sự là một hình mẫu. Tiểu thuyết tản văn hóa, hầu hết không phải tiểu thuyết tâm lý. Những tiểu thuyết như vậy không đi vào kết cấu để đào xới sâu vào tâm lý của con người, tác giả của tiểu thuyết tản văn không thích từ “Đào Xới”. Con người ta có quyền gì để đào xới tâm hồn người khác? Lòng người luôn đóng kín. Vậy thì hãy để nó đóng kín đi.
Đặc trưng bên ngoài thấy rõ nhất của tiểu thuyết được tản văn hóa là kết cấu lỏng lẻo tản mát. Chỉ cần so sánh một chút giữa tiểu thuyết của Maupassant và Chekhov, có thể nhìn ra ngay sự khác biệt lý thú trong kết cấu giữa hai người. Maupassant, và cả O.Henry nữa, cả cuộc đời chơi trò kết cấu, nhưng họ lại cho thấy rõ sự ngốc nghếch, trên thực tế thì họ lại bị trò kết cấu chơi mình. Trong tiểu thuyết của họ, dấu vết nhân tạo rất nặng. Trong khi đó Chekhov dường như hoàn toàn không suy nghĩ đến việc kết cấu, viết rất nhẹ nhàng, tùy ý, tự tại. Ông vượt ra ngoài sự kết cấu, vì thế kết cấu trở nên vô cùng đa dạng. Chương Thái Viêm có luận về biền văn của Uông Trung rằng, “khởi và dừng tự tại, không có kiểu thủ vĩ hô ứng nữa.” Phá vỡ hình thức cố định, là đặc điểm kết cấu của tiểu thuyết tản văn. Ngụy Thúc Tử có luận về văn rằng: “người ta biết cái gọi là ẩn hiện, mà không biết rằng không có gì gọi là ẩn hiện cả, đó là đến cùng tận của ẩn hiện vậy; Người ta biết cái gọi là đứt nối mà không biết rằng không có cái gì là đứt nối cả, đó là đến cùng tận của đứt nối vậy.” (Bài tựa tập văn của Lục Huyền Phố). Kết cấu tác phẩm trong ngoài xưa nay, không nằm ngoài sự ẩn-hiện, đứt-nối. Vượt qua sự ẩn-hiện, đứt-nối, thì sẽ có được sự giải phóng về kết cấu. Tô Đông Pha có nói, “nên đi ở chỗ đáng đi, nên dừng ở chỗ không thể không dừng”, đó là nguyên tắc kết cấu mà tác giả tiểu thuyết tản văn tự biết phải tuân theo.
Ồ, lại còn tình tiết nữa. Tình tiết, điều đó không có gì cả.
Có một số tiểu thuyết tản văn thường chỉ viết về một loại ý cảnh. “Thảo nguyên Bezhin” đã viết về bao nhiêu sự việc? “Câu Chuyện Rừng Trúc” chỉ viết về sự cảm nhận của mấy đứa trẻ về khoảnh trời riêng của chúng, là một thiên “lưu thủy” (Các cửa hàng ở Trung Quốc thời trước gọi những phiếu ghi chép linh tinh hàng ngày là “lưu thủy”, đây là một từ vựng rất hay) về cuộc sống đầy ý thơ của chúng. Chương “Thu – Trong động có tĩnh” ở tác phẩm “Trường Hà” chỉ viết về những câu chuyện phiếm không ý tứ, không mục đích của một đám người qua đò, nhưng nó mới thân thiết làm sao, mới giàu hơi thở của cuộc sống làm sao. Thẩm Tòng Văn đã sáng tạo ra một ý cảnh tịch mịch và thê lương, một khoảnh khắc của mùa thu. Những tiểu thuyết tản văn đó cũng có thể được gọi là “nghệ thuật của sự tĩnh lặng”. Từ những tiêu đề “Thảo nguyên Bezhin”, “Thu – Trong động có tĩnh” đã có thể nhìn ra được điều đó. Tu viện mà Azorin viết cũng rất yên tĩnh. Âm thanh, màu sắc, mùi vị đều rất tĩnh lặng. Ánh mặt trời và chiếc bóng cũng tĩnh lặng. Những động tác, thần thái của con người cũng tĩnh lặng. Dây trường xuân trên tường cũng tĩnh lặng. Tiểu thuyết tản văn thường đều có một chút tình điệu hoài cựu. Thậm chí có ý vị ẩn dật. Điều đó có gì là không hay? Tôi không cho rằng ảnh hưởng mà một số tiểu thuyết như thế gây ra là tiêu cực. Tác giả của những tiểu thuyết như vậy rất yêu cuộc sống. Thái độ của họ với cuộc sống là thái độ ủng hộ. Họ không bao giờ quên cuộc sống đời thường sinh động và huyên náo bên ngoài cửa sổ.
Tác giả của những tiểu thuyết tản văn vô cùng dụng công trong ngôn ngữ. Họ biết rõ rằng, nếu bỏ ngôn ngữ đi, thì sẽ không tồn tại tiểu thuyết. Họ hy vọng ngôn từ của mình có đủ sự nhã trí, tinh xác, bình dị. Họ để thái độ đối với cuộc sống của mình được bộc lộ ra một cách tự nhiên từ từng dòng từng chữ, mà theo cách nói thông dụng ở phương tây hiện nay là: chú ý đến tính ám thị của ngôn ngữ đối với chủ đề. Họ không đem tính khuynh hướng “cố ý nói ra”. Tác giả tiểu thuyết tản văn không phải là nhà tiên tri, không phải là hiền triết, không phải là thượng đế cái gì cũng biết, cũng không phải là nhà diễn thuyết linh hoạt. Họ chỉ là những người bạn của độc giả. Vì thế, bản thân họ không câu thúc, và cũng mong muốn độc giả không bị câu thúc.
Tiểu thuyết tản văn hóa sẽ đem đến cho quan niệm về tiểu thuyết một chút biến hóa mới.
Bắc Kinh, ngày 17.11.1986
(Châu Hải Đường dịch - Đăng trên Văn Nghệ Trẻ số 20 - 19/5/2013)
Vài nét về nhà văn Uông Tăng Kỳ
Uông Tăng Kỳ (5/3/1920 – 16/5/1997), người Cao Bưu, Giang Tô, là nhà văn, nhà viết kịch đương đại của Trung Quốc, là nhân vật đại biểu cho nhóm Kinh Phái. Ông tốt nghiệp Đại học Liên hợp Tây Nam từ khi còn rất trẻ, từng làm giáo viên trung học, cán bộ liên hiệp văn nghệ thành phố Bắc Kinh,biên tập báo “Văn Nghệ Bắc Kinh”, biên tập cho nhà hát kinh kịch Bắc Kinh. Ông giành được nhiều thành công trong sáng tác truyện ngắn. Ông có các tập truyện như: “Giải Cấu Tập”, các tiểu thuyết: “Thụ Giới”, “Đại Trác Ký Sự”, các tập tản văn như “Bồ Kiều Tập”, …Ông được đánh giá là người theo chủ nghĩa nhân đạo trữ tình, một bậc sĩ đại phu, một văn nhân thuần túy cuối cùng của Trung Quốc.
Năm 1940 ông bắt đầu viết tiểu thuyết, với sự hướng dẫn của thầy giáo là Thẩm Tòng Văn khi ấy dạy ở khoa Văn – Đại học Liên hợp Tây Nam. Năm 1943 sau khi tốt nghiệp đại học về làm giáo viên Trung học ở Côn Minh, Thượng Hải, ông đã xuất bản tập truyện ngắn: “Giải Cấu Tập”
Năm 1948 ông đến Bắc Bình, làm việc ở Viện bảo tàng Lịch sử, không lâu sau đó, ông tham gia đoàn công tác đi xuống phía nam của khu 4, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, đi đến Vũ Hán được giữ lại tiếp quản các đơn vị giáo dục. Năm 1950 ông được điều về Bắc Kinh công tác ở các đoàn thể văn nghệ, tạp chí văn nghệ.
Năm 1956 ông cho ra đời kịch bản kinh kịch “Phạm Tiến trúng cử”
Năm 1958 ông bị cho là phái hữu, phải điều xuống ban nghiên cứu nông nghiệp ở Trương Gia Khẩu
Năm 1962 ông được điều về làm biên kịch ở đoàn Kinh Kịch Bắc Kinh. Năm 1963 xuất bản tập truyện cho thiếu nhi: “Buổi tối ở nhà Dê”. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, ông tham gia xây dựng kịch bản mẫu “Sa Gia Tân”.
Năm 1979, ông quay trở lại công việc sáng tác.
Từ những năm 1980 trở về sau, ông viết nhiều tiểu thuyết nói về phong tục, dân tình, trong thời Dân quốc, rất được hoan nghênh. Ông đã xuất bản các tập tiểu thuyết như: “Vãn Phạn Hoa Tập”, “Tuyển tập truyện ngắn Uông Tăng Kỳ”, tập bình luận văn học “Vãn Thúy Văn Đàm”… Tác phẩm “Đại Trác Ký Sự” của ông giành giải thưởng về truyện ngắn hay toàn quốc năm 1981. Các tác phẩm tương đối có ảnh hưởng khác của ông có thể kể đến: “Thụ Giới”, “Dị Bỉnh”, …Với phong cách giản dị, thanh đạm, thoát khỏi sự ồn ào rối loạn của ngoại giới, để tâm vào việc xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, với văn phong hồn hậu giản dị, hấp thu một cách tự nhiên văn hóa truyền thống, mang đầy hơi thở quê hương, ông được coi là đi đầu trên phương diện viết tiểu thuyết bằng ngòi bút tản văn (tản văn hóa tiểu thuyết).
Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013
Hoàng Sinh Tá Thư Thuyết - Viên Mai
Viên Mai (1716 - 1798) tự Tử Tài, hiệu Giản Trai, Tùy Viên lão nhân, người Tiền Đường (nay là Hàng Châu), đỗ Tiến sĩ thời Càn Long, từng làm tri huyện ở Lật Thủy, (nay thuộc Giang Tô), Giang Ninh (nay thuộc Nam Kinh). Sau khi từ quan ông dựng vườn Tùy Viên ở Tiểu Thương sơn phía tây Giang Ninh và ở đó. Viên Mai giỏi thơ văn, để lại một số tác phẩm như: "Tiểu Thương sơn phòng văn tập", "Tùy Viên thi thoại", "Tử bất ngữ" ... Bài thuyết dưới đây trích từ tập "Tiểu Thương Sơn phòng văn tập" của ông.
Hoàng sinh tên là Doãn Tu đến
mượn sách, chủ nhân vườn Tùy đưa sách cho mượn, nhân bảo rằng: Sách nếu chẳng
phải là đi mượn thì sẽ chẳng thể đọc được. Anh chẳng nghe về những người tàng
thư đó sao? Thất lược, Tứ khố là sách của bậc thiên tử, nhưng thiên tử mà đọc
sách thì có mấy người? Trâu chở nặng, nhà chứa đầy, là sách của những kẻ phú
quý, nhưng phú quý mà đọc sách liệu được mấy người? Còn như ông cha cất trữ
sách, rồi con cháu vứt bỏ đi chưa cần bàn đến. Chẳng phải chỉ có sách như vậy,
phàm mọi vật dưới gầm giời này đều như thế. Nếu là vật cố đi mượn của người
khác mà không phải của mình, tất sẽ lo sợ người ta đòi lại, nên luôn luôn nhìn
ngắm xem chơi không rời, mà nhủ rằng: "Nay ở, mai đi, ta chẳng còn được thấy
mi nữa." Còn nếu như đó là thứ của mình, tất sẽ gói chặt mà cất kỹ, tự bảo:
"Đợi đến hôm khác sẽ xem!".
Ta khi còn nhỏ vốn thích
sách, nhưng nhà nghèo không mua nổi. Có nhà họ Trương giữ rất nhiều sách. Ta đến
mượn nhưng họ không cho mượn, trở về nhà đến nằm mơ cũng thấy đi mượn sách, bức
thiết đến độ như vậy. Thế nên mỗi khi có sách đọc, là ghi nhớ ngay. Sau này thi
đậu làm quan, lấy lương bổng ra mua sách hết, dần dần sách vở nhiều thêm, mọt
ăn bụi bám, tơ nhện thường chăng trên sách vở. Phải than lên rằng dụng tâm của
kẻ đi mượn sách thật là chuyên cần, mà tiếc cho những tháng năm tuổi trẻ của mình.
Nay Hoàng sinh cũng nghèo
như ta, đi mượn sách cũng giống như ta. Duy chỉ có điểm khác là ta thì không giấu
sách, còn họ Trương thì giấu sách là khác nhau mà thôi. Phải ta không may mà gặp
họ Trương chăng? Hay sinh may mắn mà gặp ta chăng? Biết rằng may với không may,
thì việc đọc sách ắt sẽ chuyên cần, mà trả sách ắt cũng nhanh vậy. Viết bài
thuyết này cùng sách gửi tới sinh vậy.
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
Hoàng Đế Trung Hoa Với Các Phi Tần Hàn Quốc
Thời đại Triều Tiên tức thời kỳ mà nàng Đê Chang Kưm - chúng ta đã được biết qua
bộ phim truyền hình cùng tên của Hàn Quốc - sống, có thể nói quan hệ giữa Trung
Hoa (khi ấy là thời Minh) và Triều Tiên (bao gồm cả Triều Tiên và Hàn Quốc ngày
nay) đã rất mật thiết. Có một điểm đặc biệt là các vị hoàng đế Trung Hoa bấy giờ
đã lấy rất nhiều phi tần Hàn Quốc, và đi theo họ là các thị nữ, thái giám, đầu
bếp và người múa hát ….
Chuyện những hoàng đế Trung Hoa lấy vợ Hàn Quốc trong chính sử Trung Quốc đề cập không nhiều, nhưng trong các bộ sử Triều Tiên khi ấy như "Triều Tiên Lý Triều thực lục" và "Cao Ly Sử" thì đều có ghi chép rõ ràng.
Hoàng đế Vĩnh Lạc và 8 vị phi tần Hàn Quốc
Chuyện hoàng đế Vĩnh Lạc (tức Minh Thành Tổ - Chu Lệ) lấy phi tần người Triều Tiên là khởi nguồn từ mong muốn kết thân của phụ hoàng Minh Thái Tổ - Chu Nguyên Chương với Vương Xương - quốc vương Cao Ly và Lý Thành Quế - vua Triều Tiên sau đó. Tháng 4 năm Hồng Vũ thứ 22 (1389), Minh Thái Tổ truyền dụ cho quốc vương Cao Ly chọn những thiếu nữ có xuất thân tốt để cưới cho con em trong hoàng thất nhà Minh. Từ năm Hồng Vũ thứ 25, sau khi Cao Ly có sự thay đổi chính quyền cho đến năm Hồng Vũ 31, Minh Thái Tổ băng hà, hai bên đã nhiều lần thương lượng chuyện kết thân. Đến thời Vĩnh Lạc thì hoàng đế này đã ba lần tuyển phi ở Triều Tiên, ông không những rất yêu quý những người vợ Triều Tiên của mình mà còn rất thích tập quán văn hoá và ẩm thực của Triều Tiên.
Lần tuyển phi đầu tiên là sau khi Vĩnh Lạc đế lên ngôi, có lẽ là để tiếp tục mong muốn kết thân thời Hồng Vũ. Tháng 4 năm Vĩnh Lạc nguyên niên, Chu Lệ phái sứ thần đến thủ đô Hán Dương của Triều Tiên (tức Seoul - thủ đô Hàn Quốc ngày nay) thương lượng việc bắt những tay chân của Kiến Văn đế chạy đến Triều Tiên đồng thời bày tỏ ý định muốn kết hôn giao hảo của Chu Lệ. Năm Vĩnh Lạc thứ 5, Từ hoàng hậu bị bệnh chết, ngày 16 tháng 4 năm sau (1408) triều đình sai quan Nội sử là Hoàng Nghiễm đến Hán Dương - Triều Tiên, bắt đầu công việc tuyển phi, trong thời gian đó cấm trai gái ở Triều Tiên kết hôn. Đến tháng 11 thì chọn được 5 người đều là con gái các quan lại ở đó là họ Quyền, họ Nhiệm, họ Lý, họ Lữ và họ Thôi. Ngoài ra còn có 12 nữ tuỳ tòng, 12 thái giám. Quốc vương Triều Tiên lại sai sứ thần hộ tống và mang theo 6000 tờ giấy trắng để làm quà tặng. Tháng 2 năm sau thì đoàn phi tần đến Bắc Kinh, họ Quyền được phong làm Hiền phi, cai quản việc ở lục cung, tương đương quyền hoàng hậu; họ Nhiệm được phong làm Thuận phi, họ Lý được phong làm Chiêu nghi, họ Lữ được phong làm Tiệp dư; họ Thôi được phong làm Mỹ nhân. Anh trai Quyền phi là Quyền Vĩnh Quân được phong chức Quang lộc tự khanh (quan đứng đầu bộ phận lo việc yến tiệc trong cung đình), quan tam phẩm, và ban tặng nhiều lụa là vàng bạc, ngựa quý. Cha của Nhiệm phi được phong chức Hồng Lô tự khanh, cha của Lý Chiêu nghi và Lữ Tiệp dư đều được ban chức Quang Lộc tự thiếu khanh, quan tứ phẩm, còn cha của Thôi Mỹ nhân thì được phong chức Hồng Lô tự thiếu khanh, quan ngũ phẩm. Trong "Minh sử - Hậu phi truyện" có một đoạn duy nhất chép về các phi tần Hàn Quốc, đó là đoạn chép về Quyền phi như sau: "Cung hiến Hiền phi họ Quyền, là người Triều Tiên, … tư chất hiền hoà tốt đẹp, giỏi thổi ngọc tiêu, được hoàng đế rất yêu mến." Thế nhưng, tháng 10 năm sau đó, thì bà Hiền phi này đã chết trên đường theo hoàng đế từ Nam Kinh đến Bắc Kinh. "Triều Tiên Lý triều thực lục" có chép, hoàng đế Vĩnh Lạc khi gặp anh trai của Hiền phi, "lúc ban lời, nước mắt lưng tròng, thở than thương cảm không nói được câu nào". Vĩnh Lạc đế cũng rất thích văn hoá và ẩm thực Triều Tiên, đến tận lúc già vẫn hoài niệm Hiền phi, nói: "Ta già rồi, ăn uống không thấy ngon nữa… Khi Hiền phi còn sống, thường dâng những món ăn rất hợp vị, sau khi nàng chết, ngự thiện dâng lên nhạt nhẽo, chẳng vừa ý chút nào"
Lần tuyển phi thứ hai là vào năm Vĩnh Lạc thứ 7 (1409), ngày 3 tháng 5 năm đó, thái giám Hoàng Nghiễm lại đến Hán Dương. Đến tháng 8, phía Triều Tiên xác định việc tuyển người, nhưng nhà Minh lúc này đang phải lo việc chống lại bộ tộc Tarta của nhà Nguyên đã diệt vong vào đánh Bắc Kinh, do vậy Chu Lệ đã cho hoãn việc tuyển phi lại. Đến ngày 2 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 9 (1411) Triều Tiên chọn được họ Trịnh đưa sang Bắc Kinh, hoàng đế vừa nhìn thấy nàng họ Trịnh này đã rất yêu mến, ban tặng cho những người đi cùng rất hậu. Cha của họ Trịnh là Trịnh Doãn Hậu cũng được ban chức Quang Lộc tự thiếu khanh. Việc mấy vị nhạc phụ người Hàn Quốc của Vĩnh Lạc đều được ban chức trong Quang Lộc tự có thể cho thấy ông rất thích món ăn của đất nước này.
Lần tuyển phi thứ ba là vào năm Vĩnh Lạc thứ 15 (1417). Triều Tiên chọn được hai người họ Hàn và họ Hoàng, đi theo còn có 6 thị nữ và 2 thái giám. Ngày 6 tháng 8 thì khởi hành, đến ngày 8 tháng 10 thì đến kinh đô. Vĩnh Lạc rất yêu quý nàng họ Hàn, ban tặng cho cha anh họ Hàn rất nhiều tài vật và đưa tiễn tới tận Liêu Đông. Sau đó vào ngày 3 tháng 11 lại ban sắc phong và thưởng cho quốc vương Triều Tiên 2.000 lạng bạch kim, 200 tấm lụa, 50 tấm nhung gấm, 24 con ngựa, lại thưởng thêm cho vương phi (vợ chính của quốc vương) 80 tấm lụa.
Hoàng đế Tuyên Đức cũng có 8 phi tần Hàn Quốc
Hoàng đế Tuyên Đức tức Minh Tuyên Tông là một trong những hoàng đế ở thời kỳ thái bình thịnh trị đầu Minh và cũng là một trong những hoàng đế đầy tài hoa nghệ thuật trong lịch sử Trung Quốc. Ông từ nhỏ đã được ông nội - hoàng đế Vĩnh Lạc rất yêu dấu, nên luôn luôn được ở bên ông nội mình bất kể khi trong cung hay khi chinh chiến bắc phạt.
Đặc biệt là, chịu ảnh hưởng của ông nội mình, Tuyên Đức cũng thích ẩm thực dân tộc của Triều Tiên, đặc biệt thích thú ca vũ của Triều Tiên, trong 10 năm tại vị, ông đã cho tuyển hơn 100 thiếu nữ múa hát và nấu ăn người Triều Tiên. Và cũng giống ông nội mình, Tuyên Đức cũng có 8 phi tần người Triều Tiên.
Tuyên Đức đế Chu Chiêm Cơ chỉ đến Triều Tiên tuyển phi một lần. Vào tháng 3, 4 năm thứ hai sau khi lên ngôi (1426) Tuyên Đức phái sứ thần là Xương Thịnh, Doãn Phượng và Bạch Ngạn đến Triều Tiên tuyển phi và chọn đầu bếp. Khi ấy hoàng đế 28 tuổi. Trong "Minh Tuyên Tông thực lục" có một đoạn ghi chép về vấn đề này, những lễ vật tặng cho quốc vương Triều Tiên lần ấy có 1000 lạng bạch kim, 240 tấm lụa là gấm vóc. Ban đầu tuyển được 7 vị phi là: con gái họ Thành, họ Cư, họ Trịnh, họ Lư, họ An, họ Ngô, họ Thôi. Em gái họ Hàn đã nhập cung thời Vĩnh Lạc có dung mạo đẹp đẽ, sứ Minh sau khi biết lại cho vời đến nên cuối cùng tuyển được 8 người. 8 phi tần, cùng 10 người đầu bếp, 16 thị nữ, và 10 thái giám ngày 20 tháng 7 năm Tuyên Đức 3 rời Hán Dương, đến 26 tháng 11 thì đến Bắc Kinh.
Nói thêm về bà phi họ Hàn thứ 8 này. Hàn phi sinh năm Vĩnh Lạc thứ 10 (1412), tiểu danh Quế Lan. Bà phi này sau đó sống qua các thời Tuyên Đức, Chính Thống, Cảnh Thái, Thành Hoá, và bà chính là người nuôi nấng Thành Hoá đế Chu Kiến Thâm, nên Thành Hoá rất kính trọng. Các phi tần của Thành Hoá cũng đều tôn kính bà là "nữ sư", gọi là "bà ngoại". Hàn Thái phi với Thái hậu cũng rất thân mật. Năm Thành Hoá thứ 19, Hàn Thái phi qua đời ở tuổi 74, được ban thuỵ hiệu là Cung Thận, an táng trên núi Hương Sơn phía tây Bắc Kinh.
Thời kỳ Đê Chang Kưm ở trong cung, Minh Vũ Tông tuyển phi
Trong vòng 136 năm sau thời Tuyên Đức, các hoàng đế nhà Minh không đến Triều Tiên tuyển phi. Đến thời Minh Vũ Tông Chu Hậu Chiếu - một ông vua nổi tiếng hoang dâm vô đạo, còn đang tuổi trẻ mà bệnh tật đã đầy thân thì mới lại có chuyện tuyển phi tần Triều Tiên. Tháng Giêng, năm Chính Đức 16 (1521), tin hoàng đế nhà Minh đến tuyển phi lan truyền khắp Triều Tiên, quan lại Triều Tiên đều nhận định Minh Vũ Tông tuyển phi lần này khác hẳn trước đây, không phải là lễ nghĩa như xưa nữa, do vậy trai gái trong dân gian tranh nhau kết hôn để không bị bắt đi.
Lúc này quốc vương Triều Tiên là Trung Tông Lý Dịch, chính là thời kỳ mà Đê Chang Kưm đang ở trong cung. "Minh Vũ Tông thực lục" có chép: Vũ Tông sai thái giám Kim Nghĩa, Trần Hạo làm chánh và phó sứ sang sách phong cho thế tử của quốc vương Triều Tiên, nhân tiện thương nghị chuyển tuyển phi của mình. Nhưng đoàn sứ giả vừa đi thì ngày 16 tháng 3 Vũ Tông băng hà ở Báo Phòng (vườn thú ở phía tây Bắc Hải). Đoàn sứ bộ đến Liêu Đông thì nhận được tin báo tang, ngày 10/4 vừa qua sông Áp Lục thì hoàng đế mới kế vị (Gia Tĩnh) hạ lệnh đình chỉ trở về.
Đầu thời Thanh, Đa Nhĩ Cổn có một phu nhân người Hàn
Quan hệ giữa Triều Tiên và nhà Minh rất mật thiết, cả hai lại đều có thù địch với Mãn Châu tức nhà Hậu Kim và sau này là nhà Thanh. Năm Sùng Đức thứ 2 nhà Thanh (tức năm Sùng Trinh 10 nhà Minh - 1637) Hoàng Thái Cực dẫn quân đánh Triều Tiên, bắt Triều Tiên theo lịch nhà Thanh lại yêu cầu các điều kiện con tin, hôn phối … Nhưng Triều Tiên ngoài mặt thì nghe theo nhưng bên trong thường vi phạm nên chuyện giao hảo tiến triển rất chậm.
Sau khi nhà Thanh vào Trung Nguyên, năm Thuận Trị thứ 7 (1650) bà phúc tấn (phu nhân) của nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn - người nắm thực quyền nhà Thanh bấy giờ - qua đời, Đa Nhĩ Cổn bèn yêu cầu chuyện hôn nhân với quốc vương Triều Tiên. Quốc vương Triều Tiên lúc này là Hiếu Tông Lý Hạo mới có con gái 2 tuổi, quan hệ hai bên lại đang là thù địch. Mặt khác, Triều Tiên vẫn coi nhà Thanh là không chính thống, nên kết thân với nhà Thanh không phải là vinh hạnh như với nhà Minh. Do vậy phía Triều Tiên đã phải lấy một quận chúa con của một vị tôn thất, gia phong làm Nghĩa Thuận công chúa để gả cho Đa Nhĩ Cổn. Ngày 20 tháng 4 thì đoàn rước dâu lên đường về Trung Hoa. "Thanh thế tổ thực lục" có chép chuyện này như sau: "Ngày 21 tháng 5 , nhiếp chính vương dẫn các vương và đại thần thân đi đón phúc tấn mà nước Triều Tiên đưa đến ở Liên Sơn, ngay hôm ấy liền thành hôn". Cửa ải Liên Sơn thuộc Liêu Dương, Liêu Đông ngày nay, cách Bắc Kinh hơn 1000 dặm.
Đến năm Thuận Trị thứ 13 (1656), sau khi Đa Nhĩ Cổn chết, Thuận Trị mới sai người đưa công chúa trở về quê cũ.
Châu Hải Đường
(Theo tài liệu Trung Quốc)
Chuyện những hoàng đế Trung Hoa lấy vợ Hàn Quốc trong chính sử Trung Quốc đề cập không nhiều, nhưng trong các bộ sử Triều Tiên khi ấy như "Triều Tiên Lý Triều thực lục" và "Cao Ly Sử" thì đều có ghi chép rõ ràng.
Hoàng đế Vĩnh Lạc và 8 vị phi tần Hàn Quốc
Chuyện hoàng đế Vĩnh Lạc (tức Minh Thành Tổ - Chu Lệ) lấy phi tần người Triều Tiên là khởi nguồn từ mong muốn kết thân của phụ hoàng Minh Thái Tổ - Chu Nguyên Chương với Vương Xương - quốc vương Cao Ly và Lý Thành Quế - vua Triều Tiên sau đó. Tháng 4 năm Hồng Vũ thứ 22 (1389), Minh Thái Tổ truyền dụ cho quốc vương Cao Ly chọn những thiếu nữ có xuất thân tốt để cưới cho con em trong hoàng thất nhà Minh. Từ năm Hồng Vũ thứ 25, sau khi Cao Ly có sự thay đổi chính quyền cho đến năm Hồng Vũ 31, Minh Thái Tổ băng hà, hai bên đã nhiều lần thương lượng chuyện kết thân. Đến thời Vĩnh Lạc thì hoàng đế này đã ba lần tuyển phi ở Triều Tiên, ông không những rất yêu quý những người vợ Triều Tiên của mình mà còn rất thích tập quán văn hoá và ẩm thực của Triều Tiên.
Lần tuyển phi đầu tiên là sau khi Vĩnh Lạc đế lên ngôi, có lẽ là để tiếp tục mong muốn kết thân thời Hồng Vũ. Tháng 4 năm Vĩnh Lạc nguyên niên, Chu Lệ phái sứ thần đến thủ đô Hán Dương của Triều Tiên (tức Seoul - thủ đô Hàn Quốc ngày nay) thương lượng việc bắt những tay chân của Kiến Văn đế chạy đến Triều Tiên đồng thời bày tỏ ý định muốn kết hôn giao hảo của Chu Lệ. Năm Vĩnh Lạc thứ 5, Từ hoàng hậu bị bệnh chết, ngày 16 tháng 4 năm sau (1408) triều đình sai quan Nội sử là Hoàng Nghiễm đến Hán Dương - Triều Tiên, bắt đầu công việc tuyển phi, trong thời gian đó cấm trai gái ở Triều Tiên kết hôn. Đến tháng 11 thì chọn được 5 người đều là con gái các quan lại ở đó là họ Quyền, họ Nhiệm, họ Lý, họ Lữ và họ Thôi. Ngoài ra còn có 12 nữ tuỳ tòng, 12 thái giám. Quốc vương Triều Tiên lại sai sứ thần hộ tống và mang theo 6000 tờ giấy trắng để làm quà tặng. Tháng 2 năm sau thì đoàn phi tần đến Bắc Kinh, họ Quyền được phong làm Hiền phi, cai quản việc ở lục cung, tương đương quyền hoàng hậu; họ Nhiệm được phong làm Thuận phi, họ Lý được phong làm Chiêu nghi, họ Lữ được phong làm Tiệp dư; họ Thôi được phong làm Mỹ nhân. Anh trai Quyền phi là Quyền Vĩnh Quân được phong chức Quang lộc tự khanh (quan đứng đầu bộ phận lo việc yến tiệc trong cung đình), quan tam phẩm, và ban tặng nhiều lụa là vàng bạc, ngựa quý. Cha của Nhiệm phi được phong chức Hồng Lô tự khanh, cha của Lý Chiêu nghi và Lữ Tiệp dư đều được ban chức Quang Lộc tự thiếu khanh, quan tứ phẩm, còn cha của Thôi Mỹ nhân thì được phong chức Hồng Lô tự thiếu khanh, quan ngũ phẩm. Trong "Minh sử - Hậu phi truyện" có một đoạn duy nhất chép về các phi tần Hàn Quốc, đó là đoạn chép về Quyền phi như sau: "Cung hiến Hiền phi họ Quyền, là người Triều Tiên, … tư chất hiền hoà tốt đẹp, giỏi thổi ngọc tiêu, được hoàng đế rất yêu mến." Thế nhưng, tháng 10 năm sau đó, thì bà Hiền phi này đã chết trên đường theo hoàng đế từ Nam Kinh đến Bắc Kinh. "Triều Tiên Lý triều thực lục" có chép, hoàng đế Vĩnh Lạc khi gặp anh trai của Hiền phi, "lúc ban lời, nước mắt lưng tròng, thở than thương cảm không nói được câu nào". Vĩnh Lạc đế cũng rất thích văn hoá và ẩm thực Triều Tiên, đến tận lúc già vẫn hoài niệm Hiền phi, nói: "Ta già rồi, ăn uống không thấy ngon nữa… Khi Hiền phi còn sống, thường dâng những món ăn rất hợp vị, sau khi nàng chết, ngự thiện dâng lên nhạt nhẽo, chẳng vừa ý chút nào"
Lần tuyển phi thứ hai là vào năm Vĩnh Lạc thứ 7 (1409), ngày 3 tháng 5 năm đó, thái giám Hoàng Nghiễm lại đến Hán Dương. Đến tháng 8, phía Triều Tiên xác định việc tuyển người, nhưng nhà Minh lúc này đang phải lo việc chống lại bộ tộc Tarta của nhà Nguyên đã diệt vong vào đánh Bắc Kinh, do vậy Chu Lệ đã cho hoãn việc tuyển phi lại. Đến ngày 2 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 9 (1411) Triều Tiên chọn được họ Trịnh đưa sang Bắc Kinh, hoàng đế vừa nhìn thấy nàng họ Trịnh này đã rất yêu mến, ban tặng cho những người đi cùng rất hậu. Cha của họ Trịnh là Trịnh Doãn Hậu cũng được ban chức Quang Lộc tự thiếu khanh. Việc mấy vị nhạc phụ người Hàn Quốc của Vĩnh Lạc đều được ban chức trong Quang Lộc tự có thể cho thấy ông rất thích món ăn của đất nước này.
Lần tuyển phi thứ ba là vào năm Vĩnh Lạc thứ 15 (1417). Triều Tiên chọn được hai người họ Hàn và họ Hoàng, đi theo còn có 6 thị nữ và 2 thái giám. Ngày 6 tháng 8 thì khởi hành, đến ngày 8 tháng 10 thì đến kinh đô. Vĩnh Lạc rất yêu quý nàng họ Hàn, ban tặng cho cha anh họ Hàn rất nhiều tài vật và đưa tiễn tới tận Liêu Đông. Sau đó vào ngày 3 tháng 11 lại ban sắc phong và thưởng cho quốc vương Triều Tiên 2.000 lạng bạch kim, 200 tấm lụa, 50 tấm nhung gấm, 24 con ngựa, lại thưởng thêm cho vương phi (vợ chính của quốc vương) 80 tấm lụa.
Hoàng đế Tuyên Đức cũng có 8 phi tần Hàn Quốc
Hoàng đế Tuyên Đức tức Minh Tuyên Tông là một trong những hoàng đế ở thời kỳ thái bình thịnh trị đầu Minh và cũng là một trong những hoàng đế đầy tài hoa nghệ thuật trong lịch sử Trung Quốc. Ông từ nhỏ đã được ông nội - hoàng đế Vĩnh Lạc rất yêu dấu, nên luôn luôn được ở bên ông nội mình bất kể khi trong cung hay khi chinh chiến bắc phạt.
Đặc biệt là, chịu ảnh hưởng của ông nội mình, Tuyên Đức cũng thích ẩm thực dân tộc của Triều Tiên, đặc biệt thích thú ca vũ của Triều Tiên, trong 10 năm tại vị, ông đã cho tuyển hơn 100 thiếu nữ múa hát và nấu ăn người Triều Tiên. Và cũng giống ông nội mình, Tuyên Đức cũng có 8 phi tần người Triều Tiên.
Tuyên Đức đế Chu Chiêm Cơ chỉ đến Triều Tiên tuyển phi một lần. Vào tháng 3, 4 năm thứ hai sau khi lên ngôi (1426) Tuyên Đức phái sứ thần là Xương Thịnh, Doãn Phượng và Bạch Ngạn đến Triều Tiên tuyển phi và chọn đầu bếp. Khi ấy hoàng đế 28 tuổi. Trong "Minh Tuyên Tông thực lục" có một đoạn ghi chép về vấn đề này, những lễ vật tặng cho quốc vương Triều Tiên lần ấy có 1000 lạng bạch kim, 240 tấm lụa là gấm vóc. Ban đầu tuyển được 7 vị phi là: con gái họ Thành, họ Cư, họ Trịnh, họ Lư, họ An, họ Ngô, họ Thôi. Em gái họ Hàn đã nhập cung thời Vĩnh Lạc có dung mạo đẹp đẽ, sứ Minh sau khi biết lại cho vời đến nên cuối cùng tuyển được 8 người. 8 phi tần, cùng 10 người đầu bếp, 16 thị nữ, và 10 thái giám ngày 20 tháng 7 năm Tuyên Đức 3 rời Hán Dương, đến 26 tháng 11 thì đến Bắc Kinh.
Nói thêm về bà phi họ Hàn thứ 8 này. Hàn phi sinh năm Vĩnh Lạc thứ 10 (1412), tiểu danh Quế Lan. Bà phi này sau đó sống qua các thời Tuyên Đức, Chính Thống, Cảnh Thái, Thành Hoá, và bà chính là người nuôi nấng Thành Hoá đế Chu Kiến Thâm, nên Thành Hoá rất kính trọng. Các phi tần của Thành Hoá cũng đều tôn kính bà là "nữ sư", gọi là "bà ngoại". Hàn Thái phi với Thái hậu cũng rất thân mật. Năm Thành Hoá thứ 19, Hàn Thái phi qua đời ở tuổi 74, được ban thuỵ hiệu là Cung Thận, an táng trên núi Hương Sơn phía tây Bắc Kinh.
Thời kỳ Đê Chang Kưm ở trong cung, Minh Vũ Tông tuyển phi
Trong vòng 136 năm sau thời Tuyên Đức, các hoàng đế nhà Minh không đến Triều Tiên tuyển phi. Đến thời Minh Vũ Tông Chu Hậu Chiếu - một ông vua nổi tiếng hoang dâm vô đạo, còn đang tuổi trẻ mà bệnh tật đã đầy thân thì mới lại có chuyện tuyển phi tần Triều Tiên. Tháng Giêng, năm Chính Đức 16 (1521), tin hoàng đế nhà Minh đến tuyển phi lan truyền khắp Triều Tiên, quan lại Triều Tiên đều nhận định Minh Vũ Tông tuyển phi lần này khác hẳn trước đây, không phải là lễ nghĩa như xưa nữa, do vậy trai gái trong dân gian tranh nhau kết hôn để không bị bắt đi.
Lúc này quốc vương Triều Tiên là Trung Tông Lý Dịch, chính là thời kỳ mà Đê Chang Kưm đang ở trong cung. "Minh Vũ Tông thực lục" có chép: Vũ Tông sai thái giám Kim Nghĩa, Trần Hạo làm chánh và phó sứ sang sách phong cho thế tử của quốc vương Triều Tiên, nhân tiện thương nghị chuyển tuyển phi của mình. Nhưng đoàn sứ giả vừa đi thì ngày 16 tháng 3 Vũ Tông băng hà ở Báo Phòng (vườn thú ở phía tây Bắc Hải). Đoàn sứ bộ đến Liêu Đông thì nhận được tin báo tang, ngày 10/4 vừa qua sông Áp Lục thì hoàng đế mới kế vị (Gia Tĩnh) hạ lệnh đình chỉ trở về.
Đầu thời Thanh, Đa Nhĩ Cổn có một phu nhân người Hàn
Quan hệ giữa Triều Tiên và nhà Minh rất mật thiết, cả hai lại đều có thù địch với Mãn Châu tức nhà Hậu Kim và sau này là nhà Thanh. Năm Sùng Đức thứ 2 nhà Thanh (tức năm Sùng Trinh 10 nhà Minh - 1637) Hoàng Thái Cực dẫn quân đánh Triều Tiên, bắt Triều Tiên theo lịch nhà Thanh lại yêu cầu các điều kiện con tin, hôn phối … Nhưng Triều Tiên ngoài mặt thì nghe theo nhưng bên trong thường vi phạm nên chuyện giao hảo tiến triển rất chậm.
Sau khi nhà Thanh vào Trung Nguyên, năm Thuận Trị thứ 7 (1650) bà phúc tấn (phu nhân) của nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn - người nắm thực quyền nhà Thanh bấy giờ - qua đời, Đa Nhĩ Cổn bèn yêu cầu chuyện hôn nhân với quốc vương Triều Tiên. Quốc vương Triều Tiên lúc này là Hiếu Tông Lý Hạo mới có con gái 2 tuổi, quan hệ hai bên lại đang là thù địch. Mặt khác, Triều Tiên vẫn coi nhà Thanh là không chính thống, nên kết thân với nhà Thanh không phải là vinh hạnh như với nhà Minh. Do vậy phía Triều Tiên đã phải lấy một quận chúa con của một vị tôn thất, gia phong làm Nghĩa Thuận công chúa để gả cho Đa Nhĩ Cổn. Ngày 20 tháng 4 thì đoàn rước dâu lên đường về Trung Hoa. "Thanh thế tổ thực lục" có chép chuyện này như sau: "Ngày 21 tháng 5 , nhiếp chính vương dẫn các vương và đại thần thân đi đón phúc tấn mà nước Triều Tiên đưa đến ở Liên Sơn, ngay hôm ấy liền thành hôn". Cửa ải Liên Sơn thuộc Liêu Dương, Liêu Đông ngày nay, cách Bắc Kinh hơn 1000 dặm.
Đến năm Thuận Trị thứ 13 (1656), sau khi Đa Nhĩ Cổn chết, Thuận Trị mới sai người đưa công chúa trở về quê cũ.
Châu Hải Đường
(Theo tài liệu Trung Quốc)
Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012
Viên Mai - Tuỳ Viên Thi Thoại (trích dịch)
Q1 - Tiết 2:
Ông Dương Thành Trai (Dương Vạn Lý – đời Tống) nói: “Xưa nay, trời phú cho những kẻ vụng về, thường giỏi nói những câu kiểu cách vần điệu, mà không hiểu lắm thú vị phong nhã. Vì sao vậy? Vì kiểu cách vần điệu chỉ là cái khung. Có giọng nói mồm miệng đều dễ dàng miêu tả nên. Còn thú vị phong nhã thì chuyên tả tính linh, chẳng phải bậc thiên tài thì không làm được.”
Tôi rất mến câu nói ấy. Nên biết có tính tình thì sẽ có cách luật, cách luật chẳng nằm ngoài tính tình. Trong ba trăm thiên kinh Thi, đến một nửa là chuyện của những người thôn quê, những kẻ thiếp phụ suất ý ngôn tình, vậy ai làm ra cách thức, mà ai làm ra lề luật? Đến nay những người nói về cách luật vần điệu, hỏi có ra khỏi phạm vi ấy không? Huống những bài ca của ông Cao, ông Vũ, lại khác với ba trăm thiên ấy, cái cách thức của “Quốc phong” cũng khác với “Nhã”, “Tụng”: vậy cách luật há lại nhất định sao? Hứa Hồn có câu: “Ngâm thi hảo tự thành tiên cốt; Cốt lý vô thi mạc lãng ngâm.” (Ngâm thơ dường tự thành tiên cốt; Trong cốt không thơ chớ rống ngâm). Thơ là tại cốt cách bên trong chớ chẳng phải ở cách luật bên ngoài vậy.
Q1 - Tiết 6:
Tôi (Viên Mai) làm thơ, rất không thích chuyện điệp vần, họa vần cùng việc dùng mượn vần của người xưa. Cho rằng thơ là để nói tính tình, chỉ cần thỏa cái sở thích của mình mà thôi. Trong một vần có trăm ngàn chữ, cho mình lựa chọn, chữ nào đã dùng rồi nếu thấy chưa phù hợp vẫn có thể đổi chữ khác, làm sao phải bó buộc vào một hai chữ trong vần đó mà thôi? Đã bó buộc, thì không thể không theo cái tiết tấu của nó, đã bị hạn chế bởi tiết tấu của nó thì làm sao nói được thỏa cái tính tình của mình? Sách “Trang tử” có câu: “Quên chân đi, là giày vừa vặn vậy.” Tôi xin nói thêm: “Quên vần đi, là thơ tự nhiên lưu loát vậy.”
Q1 - Tiết 14:
Nếu mến vẻ quật cường mạnh mẽ của văn Xương Lê (Hàn Dũ), thì hẳn nên coi nhẹ loại văn bài thể, thế nhưng trong “Đằng Vương Các tự” Hàn Dũ lại nói: “Nếu được nối thêm vào sau ba ngài họ Vương, thì thực vinh hạnh biết bao!”. Nếu yêu vẻ khoáng đạt rộng rãi của Đỗ Thiếu Lăng, thì hẳn nên coi nhẹ những nhà thời Sơ Đường, thế nhưng trong thơ của Đỗ Thiếu Lăng lại viết: “Vương, Dương, Lư, Lạc đương thời thể; Bất phế giang hà vạn cổ lưu.” (Thể thơ của các ông Vương (Bột), Dương (Quýnh), Lư (Chiếu Lân), Lạc (Tân Vương) thời ấy; Thực như sông bể từ xưa vẫn chảy không ngừng.) Nếu yêu vẻ mới mẻ cao siêu của Hoàng Sơn Cốc (Hoàng Đình Kiên), thì hẳn nên coi nhẹ phái Tây Côn, thế nhưng thơ của họ Hoàng lại viết: “Nguyên Chi như để trụ; Đại Niên nhược sương hộc. Vương, Dương lập bản triều; Dữ thế tác phu quách.” (Nguyên Chi (tức Vương Vũ Xưng) như móng trụ của nhà cửa; Đại Niên (tức Dương Ức) như chim hồng hộc trải qua sương tuyết. Hai ông Vương, Dương dựng nên nền thơ ca của triều ta; Các ông đã xây nên thành quách (thi ca) vững vàng cho đời vậy.) Người đời nay, còn chưa được nhìn thấy cửa họ Hàn (Dũ), họ Liễu (Tông Nguyên) mà đã vội gạt bỏ thơ ca Lục triều; chưa được mảy da lông của họ Lý (Bạch), họ Đỗ (Phủ) mà đã coi thường thơ ca của họ Ôn (Đình Quân), họ Lý (Thương Ẩn), những kẻ nhỏ nhen thiển cận như vậy nhiều lắm!
(....)
(Cuốn Tuỳ Viên Thi Thoại này không biết bao gờ mới lại dịch tiếp được! Hiii ...Đúng là tham vọng quá lớn!)
Ông Dương Thành Trai (Dương Vạn Lý – đời Tống) nói: “Xưa nay, trời phú cho những kẻ vụng về, thường giỏi nói những câu kiểu cách vần điệu, mà không hiểu lắm thú vị phong nhã. Vì sao vậy? Vì kiểu cách vần điệu chỉ là cái khung. Có giọng nói mồm miệng đều dễ dàng miêu tả nên. Còn thú vị phong nhã thì chuyên tả tính linh, chẳng phải bậc thiên tài thì không làm được.”
Tôi rất mến câu nói ấy. Nên biết có tính tình thì sẽ có cách luật, cách luật chẳng nằm ngoài tính tình. Trong ba trăm thiên kinh Thi, đến một nửa là chuyện của những người thôn quê, những kẻ thiếp phụ suất ý ngôn tình, vậy ai làm ra cách thức, mà ai làm ra lề luật? Đến nay những người nói về cách luật vần điệu, hỏi có ra khỏi phạm vi ấy không? Huống những bài ca của ông Cao, ông Vũ, lại khác với ba trăm thiên ấy, cái cách thức của “Quốc phong” cũng khác với “Nhã”, “Tụng”: vậy cách luật há lại nhất định sao? Hứa Hồn có câu: “Ngâm thi hảo tự thành tiên cốt; Cốt lý vô thi mạc lãng ngâm.” (Ngâm thơ dường tự thành tiên cốt; Trong cốt không thơ chớ rống ngâm). Thơ là tại cốt cách bên trong chớ chẳng phải ở cách luật bên ngoài vậy.
Q1 - Tiết 6:
Tôi (Viên Mai) làm thơ, rất không thích chuyện điệp vần, họa vần cùng việc dùng mượn vần của người xưa. Cho rằng thơ là để nói tính tình, chỉ cần thỏa cái sở thích của mình mà thôi. Trong một vần có trăm ngàn chữ, cho mình lựa chọn, chữ nào đã dùng rồi nếu thấy chưa phù hợp vẫn có thể đổi chữ khác, làm sao phải bó buộc vào một hai chữ trong vần đó mà thôi? Đã bó buộc, thì không thể không theo cái tiết tấu của nó, đã bị hạn chế bởi tiết tấu của nó thì làm sao nói được thỏa cái tính tình của mình? Sách “Trang tử” có câu: “Quên chân đi, là giày vừa vặn vậy.” Tôi xin nói thêm: “Quên vần đi, là thơ tự nhiên lưu loát vậy.”
Q1 - Tiết 14:
Nếu mến vẻ quật cường mạnh mẽ của văn Xương Lê (Hàn Dũ), thì hẳn nên coi nhẹ loại văn bài thể, thế nhưng trong “Đằng Vương Các tự” Hàn Dũ lại nói: “Nếu được nối thêm vào sau ba ngài họ Vương, thì thực vinh hạnh biết bao!”. Nếu yêu vẻ khoáng đạt rộng rãi của Đỗ Thiếu Lăng, thì hẳn nên coi nhẹ những nhà thời Sơ Đường, thế nhưng trong thơ của Đỗ Thiếu Lăng lại viết: “Vương, Dương, Lư, Lạc đương thời thể; Bất phế giang hà vạn cổ lưu.” (Thể thơ của các ông Vương (Bột), Dương (Quýnh), Lư (Chiếu Lân), Lạc (Tân Vương) thời ấy; Thực như sông bể từ xưa vẫn chảy không ngừng.) Nếu yêu vẻ mới mẻ cao siêu của Hoàng Sơn Cốc (Hoàng Đình Kiên), thì hẳn nên coi nhẹ phái Tây Côn, thế nhưng thơ của họ Hoàng lại viết: “Nguyên Chi như để trụ; Đại Niên nhược sương hộc. Vương, Dương lập bản triều; Dữ thế tác phu quách.” (Nguyên Chi (tức Vương Vũ Xưng) như móng trụ của nhà cửa; Đại Niên (tức Dương Ức) như chim hồng hộc trải qua sương tuyết. Hai ông Vương, Dương dựng nên nền thơ ca của triều ta; Các ông đã xây nên thành quách (thi ca) vững vàng cho đời vậy.) Người đời nay, còn chưa được nhìn thấy cửa họ Hàn (Dũ), họ Liễu (Tông Nguyên) mà đã vội gạt bỏ thơ ca Lục triều; chưa được mảy da lông của họ Lý (Bạch), họ Đỗ (Phủ) mà đã coi thường thơ ca của họ Ôn (Đình Quân), họ Lý (Thương Ẩn), những kẻ nhỏ nhen thiển cận như vậy nhiều lắm!
(....)
(Cuốn Tuỳ Viên Thi Thoại này không biết bao gờ mới lại dịch tiếp được! Hiii ...Đúng là tham vọng quá lớn!)
Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012
Quy Khứ Lai Từ - Đào Uyên Minh
歸去來兮,田園將蕪胡不歸?既自以心為形役,奚惆悵而獨悲!悟已往之不諫,知來者之可追。實迷途其未遠,覺今是而昨非。舟搖搖以輕揚,風飄飄而吹衣。 問征夫以前路,恨晨光之熹微。乃瞻衡宇,載欣載奔。僮僕歡迎,稚子候門。三徑就荒,松菊猶存。攜幼入室,有酒盈樽。引壺觴以自酌,眄庭柯以怡顏。倚南窗以寄傲,審容膝之易安。園日涉以成趣,門雖設而常關。策扶老以流憩,時矯首而遐觀。雲無心以出岫,鳥倦飛而知還。景翳翳以將入,撫孤松而盤恆。 歸去來兮,請息交以絕游。世與我而相遺,復駕言兮焉求!悅親戚之情話,樂琴書以消憂。農人告余以春及,將有事于西疇。或命巾車,或棹孤舟。既窈窕以尋壑,亦崎嶇而經邱。木欣欣以向榮,泉涓涓而始流。羨萬物之得時,感吾生之行休! 以矣乎!寓形宇內復幾時,曷不委心任去留!胡為乎遑遑,欲何之?富貴非吾願,帝鄉不可期。懷良辰以孤往,或植仗而耘耔。登東皋以舒嘯,臨清流而賦詩。聊乘化以歸盡,樂夫天命復奚疑!
Phiên âm:
Quy khứ lai hề,
Điền viên tương vu hồ bất quy?
Ký tự dĩ tâm vi hình dịch,
Hề trù trướng nhi độc bi?
Ngộ dĩ vãng chi bất gián,
Tri lai giả chi khả truy?
Thực mê đồ kỳ vị viễn,
Giác kim thị nhi tạc phi.
Chu dao dao dĩ kinh dương,
Phong phiêu phiêu nhi xuy y.
Vấn chinh phu dĩ tiền lộ,
Hận thần quang chi hi vi.
Nãi chiêm hành vũ,
Tải hân tải bôn.
Đồng bộc hoan nghênh,
Trĩ tử hầu môn.
Tam kính tựu hoang,
Tùng cúc do tồn.
Huề ấu nhập thất,
Hữu tửu doanh tôn.
Dẫn hồ trường dĩ tự chước,
Miến đình kha dĩ di nhan.
Ỷ nam song dĩ ký ngạo,
Thẩm dung tất chi dị an.
Viên nhật thiệp dĩ thành thú,
Môn tuy thiết nhi thường quan.
Sách phù lão dĩ lưu khế,
Thời kiểu thủ nhi hà quan.
Vân vô tâm dĩ xuất tụ,
Điểu quyện phi nhi tri hoàn.
Cảnh ế ế dĩ tương nhập,
Phủ cô tùng nhi bàn hoàn.
Quy khứ lai hề,
Thỉnh tức giao dĩ tuyệt du,
Thế dữ ngã nhi tương di,
Phục giá ngôn hề yên cầu?
Duyệt thân thích chi tình thoại,
Lạc cầm thư dĩ tiêu ưu.
Nông phu cáo dư dĩ xuân cập,
Tương hữu sự ư tây trù.
Hoặc mệnh cân xa,
Hoặc trạo cô chu.
Ký yểu điệu dĩ tầm hác,
Diệc kỳ khu nhi kinh khâu.
Mộc hân hân dĩ hướng vinh,
Tuyền quyên quyên nhi thuỷ lưu.
Tiện vạn vật chi đắc thời,
Cảm ngô sinh chi hành hưu.
Dĩ hĩ hồ!
Ngụ hình vũ nội phục kỷ thời,
Hạt bất uỷ tâm nhiệm khứ lưu?
Hồ vi hồ hoàng hoàng
Dục hà chi?
Phú quý phi ngô nguyện,
Đế hương bất khả kỳ.
Hoài lương thần dĩ cô vãng,
Hoặc thực trượng nhi vân tỷ.
Đăng đông cao dĩ thư khiếu,
Lâm thanh lưu nhi phú thi.
Liêu thừa hoá dĩ quy tận,
Lạc phù thiên mệnh phục hề nghi?
Dịch thơ:
Người ơi thôi hãy về thôi,
Ruộng vườn sắp lụi hoang rồi về đi.
Tâm này đem luỵ thân kia,
Sao còn buồn bã sầu chi một mình?
Việc xưa biết chẳng can thành,
Việc sau sắp lại đuổi mình đến nơi.
Đường mê thực chửa xa xôi,
Nhân ra nay đúng, xưa thời là sai.
Con thuyền nhẹ gió lung lay,
Hiu hiu gió thổi áo bay phật phờ.
Hỏi người đi đoạn đường xa,
Hận vì nỗi ánh mai đà còn thưa.
Mừng trông mái thấp chạy ùa,
Tiểu đồng vui đón, con chờ cửa bên.
Ngõ hoang tùng cúc còn nguyên,
Dắt con vào cửa, rượu liền đầy chung.
Nâng bầu tự chuốc rưng rưng,
Trông cây sân, mặt vui mừng xiết bao.
Tựa song nam, thoả ngạo cao,
Xem trong chật hẹp dạt dào an vui.
Thú riêng ngày lội vườn chơi,
Cửa tuy có đó, thường thời chặt then.
Nghỉ ngơi tựa gậy bên ghềnh,
Nghển đầu dạo bước ngắm quanh bốn bề.
Lòng không dời núi mây đi,
Chim bay mỏi cánh lại về chốn xưa.
Chiều hôm cảnh vật dần mờ
Bồi hồi ôm gốc tùng già đơn côi.
Người ơi thôi hãy về thôi,
Đừng giao du nữa với đời mà chi.
Người đời đã bỏ ta đi,
Những lời tâm huyết mong gì nữa đây?
Tâm tình thân thích vui vầy,
Khuây đàn sách để sầu này nhẹ vơi.
Nông phu bảo, sắp xuân rồi,
Việc đồng tây lại tới nơi bây giờ.
Khi thuyền lẻ, khi xe bò
Tìm khe luồn lách, qua gò nhấp nhô.
Xanh tươi cây cũng nhởn nhơ,
Rì rào tiếng suối nãy giờ vừa tuôn.
Nỗi ta làm, nghỉ cảm buồn,
Đắc thời muôn vật thèm thuồng được như.
Gửi hình trời đất vô hư,
Mặc cho đi ở sao chưa thả lòng?
Mong chi thấp thỏm chờ trông,
Chẳng thèm phú quý, chẳng hòng đế hương!
Mong ngày đẹp lại lên đường,
Hoặc thời chống gậy lên nương cấy trồng.
Ngâm nga thư thái bờ đông.
Lại qua bên suối viết dòng thơ quê.
Thuận theo lẽ đạo mà về,
Vui theo thiên mệnh chớ hề ngờ nghi!
(Đông Các - 2006)
Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012
白居易 - 养竹记 (Bạch Cư Dị - Dưỡng Trúc Ký)
竹似贤,何哉?竹本固,固以树德,君子见其本,则思善建不拔者。竹性直,直以立身;君子见其性,则思中立不倚者。竹心空,空以体道;君子见其心,则思应用虚受者。竹节贞,贞以立志;君子见其节,则思砥砺名行,夷险一致者。夫如是,故君子人多树之为庭实焉。 贞元十九年春,居易以拔萃选及第,授校书郎,始于长安求假居处,得常乐里故关相国私第之东亭而处之。明日,履及于亭之东南隅,见丛竹于斯,枝叶殄瘁,无声无色。询于关氏之老,则曰:“此相国之手植者。自相国捐馆,他人假居,由是筐篚者斩焉,篲帚者刈焉,刑余之材,长无寻焉,数无百焉。又有凡草木杂生其中,菶茸荟郁,有无竹之心焉。”居易惜其尝经长者之手,而见贱俗人之目,剪弃若是,本性犹存。乃芟翳荟,除粪壤,疏其间,封其下,不终日而毕。于是日出有清阴,风来有清声。依依然,欣欣然,若有情于感遇也。 嗟乎!竹,植物也,于人何有哉?以其有似于贤而人爱惜之,封植之,况其真贤者乎?然则竹之于草木,犹贤之于众庶。呜呼!竹不能自异,唯人异之。贤不能自异,唯用贤者异之。故作《养竹记》,书于亭之壁,以贻其后之居斯者,亦欲以闻于今之用贤者云。(白居易/文)
Phiên âm:
Trúc tự hiền, hà tai? Trúc bản cố, cố dĩ thụ đức, quân tử kiến kỳ bản, tắc tư thiện kiến bất bạt giả. Trúc tính trực, trực dĩ lập thân, quân tử kiến kỳ tính, tắc tư trung lập bất ỷ giả. Trúc tâm không, không dĩ thể đạo, quân tử kiến kỳ tâm, tắc tư ứng dụng hư thụ giả. Trúc tiết trinh, trinh dĩ lập chí, quân tử kiến kỳ tiết, tắc tư để lệ danh hạnh, di hiểm nhất trí giả. Phù như thị, cố quân tử nhân đa thụ chi vi đình thực yên.
Trinh Nguyên thập cửu niên xuân, Cư Dị dĩ bạt tuỵ tuyển cập đệ, thụ hiệu thư lang, thuỷ vu Trường An cầu giả cư xứ, đắc Thường Lạc lý cố Quan tướng quốc tư đệ chi Đông Đình xử chi. Minh nhật, lý cập vu đình chi đông nam ngung, kiến tùng trúc ư tư, chi diệp điễn tuỵ, vô thanh vô sắc. Tuần vu Quan thị chi lão, tắc viết: “Thử tướng quốc chi thủ thực dã. Tự tướng qu ốc quyên quán, tha nhân giả cư, do thị khuông phỉ giả trảm yên, tuệ trửu giả ngải yên, hình dư chi tài, trưởng vô tầm yên, sổ vô bách yên. Hựu hữu phàm thảo mộc t ạp sinh k ỳ trung, bổng nhung hội úc, hữu vô trúc chi tâm yên.” Cư Dị tích kỳ thường kinh trưởng giả chi thủ, nhi kiến tiện tục nhân chi mục, tiễn khí nhược thị, bản tính do tồn. Nãi sam ế hội, trừ phẩn nhưỡng, sơ kỳ gian, phong kỳ hạ, bất chung nhật nhi tất. Vu thị nhật xuất hữu thanh âm, phong lai hữu thanh thanh. Y y nhi ên, hân hân nhiên, nhược hữu tình ư cảm ngộ dã.
Ta hồ! Trúc, thực vật dã, ư nhân hà hữu tai? Dĩ kỳ hữu tự vu hiền nhi nhân ái tích chi, phong thực chi, huống kỳ chân hiền giả hồ? Nhiên tắc trúc chi ư thảo mộc, do hiền chi ư chúng thứ. Ô hô! Trúc bất năng tự dị, duy nhân dị chi. Hiền bất năng tự dị, duy dụng hiền giả dị chi. Cố tác “Dưỡng Trúc Ký” thư vu đình chi bích, dĩ di kỳ hậu chi cư tư giả, diệc dục dĩ văn ư kim chi dụng hiền giả vân.
Dịch văn:
Trúc cũng như bậc hiền nhân, vì sao vậy? Gốc trúc vững, vững để lập đức, người quân tử trông gốc trúc, thì nghĩ đến việc tạo lập cho mình cái ý chí kiên định không dời. Tính trúc thẳng, thẳng để lập thân, người quân tử thấy tính trúc, thì nghĩ đến sự trung lập thẳng thắn, không thiên lệch. Lòng trúc rỗng không, rỗng không để thể nghiệm lẽ đạo, người quân tử thấy tấm lòng của trúc, thì nghĩ đến việc dùng cái tâm hư không mà dung nạp người. Đốt trúc cứng cỏi, cứng cỏi để lập chí, người quân tử thấy tiết của trúc, thì nghĩ đển việc mài giũa danh hạnh, dù qua khó khăn nguy hiểm vẫn thuỷ chung như nhất. Chính vì như thế, mà bậc quân tử thường trồng trúc đầy quanh sân nhà mình vậy.
Mùa xuân năm Trinh Nguyên thứ 19, Cư Dị tôi được chọn trong đám anh tài mà đỗ tiến sĩ, và được ban chức hiệu thư lang, mới đi tìm nơi ở nhờ ở Trường An, rồi tìm được chỗ ở đình Đông trong tư dinh quan tướng quốc họ Quan khi xưa ở làng Thường Lạc. Hôm sau, tôi dạo bước tới góc đông nam đình, chợt thấy có khóm trúc ở đó, cành lá xác xơ, không thanh không sắc. Hỏi thăm các bậc già lão họ Quan, thấy bảo: “Trúc này là trúc do chính tay tướng quốc trồng khi xưa. Từ khi tướng quốc dời đi, người khác đến ở nhờ, thì trúc bị bọn đan gùi giỏ đến chặt, bọn làm chổi rễ đến cắt. Khóm bị chém còn lại, lớn không quá một sải, đếm không đến trăm cây. Lại có đám cỏ hoang cây dại mọc bừa trong đó, um tùm rậm rạp, toàn giống chẳng có tâm như trúc.” Cư Dị tôi tiếc khóm trúc vốn là cây được tay bậc trưởng giả vun trồng, nay lại chỉ có con mắt của bọn tục nhân ngó tới, chặt phá như vậy, mà bản tính vẫn giữ nguyên. Bèn cắt hết cỏ rậm, nhặt sạch rác rưới, tỉa thoáng khóm cành, vun rào gốc rễ, chưa hết ngày thì làm xong. Thế là khi mặt trời mọc lại có bóng mát râm, lúc gió thổi về lại có tiếng vi vút. Lá cành vui nhởn nhơ, xanh mơn mởn, như cũng có cái tình cảm ngộ vậy.
Than ôi! Trúc là loài thực vật, sao có thể sánh với con người? Chỉ vì có những điểm giống bậc hiền nhân mà được người đời yêu mến vun trồng, huống nữa là bậc hiền nhân thực sự? Vả trúc ở trong đám cỏ cây, cũng như bậc hiền nhân trong đám người phàm. Ôi, trúc chẳng tự cho mình là khác, chỉ là con người thấy sự khác biệt đó thôi. Bậc hiền nhân chẳng tự cho mình là khác, chỉ có người biết dùng người hiền thấy sự khác biệt đó thôi. Nên tôi bèn làm bài “Dưỡng Trúc Ký” này, viết lên vách đình, để để lại cho người sau lại đến ở nơi này, cũng là muốn cho những người dụng hiền đời nay nghe lấy vậy.
(Tiết Đại thử năm Mậu Tý - Châu Hải Đường dịch)
Phiên âm:
Trúc tự hiền, hà tai? Trúc bản cố, cố dĩ thụ đức, quân tử kiến kỳ bản, tắc tư thiện kiến bất bạt giả. Trúc tính trực, trực dĩ lập thân, quân tử kiến kỳ tính, tắc tư trung lập bất ỷ giả. Trúc tâm không, không dĩ thể đạo, quân tử kiến kỳ tâm, tắc tư ứng dụng hư thụ giả. Trúc tiết trinh, trinh dĩ lập chí, quân tử kiến kỳ tiết, tắc tư để lệ danh hạnh, di hiểm nhất trí giả. Phù như thị, cố quân tử nhân đa thụ chi vi đình thực yên.
Trinh Nguyên thập cửu niên xuân, Cư Dị dĩ bạt tuỵ tuyển cập đệ, thụ hiệu thư lang, thuỷ vu Trường An cầu giả cư xứ, đắc Thường Lạc lý cố Quan tướng quốc tư đệ chi Đông Đình xử chi. Minh nhật, lý cập vu đình chi đông nam ngung, kiến tùng trúc ư tư, chi diệp điễn tuỵ, vô thanh vô sắc. Tuần vu Quan thị chi lão, tắc viết: “Thử tướng quốc chi thủ thực dã. Tự tướng qu ốc quyên quán, tha nhân giả cư, do thị khuông phỉ giả trảm yên, tuệ trửu giả ngải yên, hình dư chi tài, trưởng vô tầm yên, sổ vô bách yên. Hựu hữu phàm thảo mộc t ạp sinh k ỳ trung, bổng nhung hội úc, hữu vô trúc chi tâm yên.” Cư Dị tích kỳ thường kinh trưởng giả chi thủ, nhi kiến tiện tục nhân chi mục, tiễn khí nhược thị, bản tính do tồn. Nãi sam ế hội, trừ phẩn nhưỡng, sơ kỳ gian, phong kỳ hạ, bất chung nhật nhi tất. Vu thị nhật xuất hữu thanh âm, phong lai hữu thanh thanh. Y y nhi ên, hân hân nhiên, nhược hữu tình ư cảm ngộ dã.
Ta hồ! Trúc, thực vật dã, ư nhân hà hữu tai? Dĩ kỳ hữu tự vu hiền nhi nhân ái tích chi, phong thực chi, huống kỳ chân hiền giả hồ? Nhiên tắc trúc chi ư thảo mộc, do hiền chi ư chúng thứ. Ô hô! Trúc bất năng tự dị, duy nhân dị chi. Hiền bất năng tự dị, duy dụng hiền giả dị chi. Cố tác “Dưỡng Trúc Ký” thư vu đình chi bích, dĩ di kỳ hậu chi cư tư giả, diệc dục dĩ văn ư kim chi dụng hiền giả vân.
Dịch văn:
Trúc cũng như bậc hiền nhân, vì sao vậy? Gốc trúc vững, vững để lập đức, người quân tử trông gốc trúc, thì nghĩ đến việc tạo lập cho mình cái ý chí kiên định không dời. Tính trúc thẳng, thẳng để lập thân, người quân tử thấy tính trúc, thì nghĩ đến sự trung lập thẳng thắn, không thiên lệch. Lòng trúc rỗng không, rỗng không để thể nghiệm lẽ đạo, người quân tử thấy tấm lòng của trúc, thì nghĩ đến việc dùng cái tâm hư không mà dung nạp người. Đốt trúc cứng cỏi, cứng cỏi để lập chí, người quân tử thấy tiết của trúc, thì nghĩ đển việc mài giũa danh hạnh, dù qua khó khăn nguy hiểm vẫn thuỷ chung như nhất. Chính vì như thế, mà bậc quân tử thường trồng trúc đầy quanh sân nhà mình vậy.
Mùa xuân năm Trinh Nguyên thứ 19, Cư Dị tôi được chọn trong đám anh tài mà đỗ tiến sĩ, và được ban chức hiệu thư lang, mới đi tìm nơi ở nhờ ở Trường An, rồi tìm được chỗ ở đình Đông trong tư dinh quan tướng quốc họ Quan khi xưa ở làng Thường Lạc. Hôm sau, tôi dạo bước tới góc đông nam đình, chợt thấy có khóm trúc ở đó, cành lá xác xơ, không thanh không sắc. Hỏi thăm các bậc già lão họ Quan, thấy bảo: “Trúc này là trúc do chính tay tướng quốc trồng khi xưa. Từ khi tướng quốc dời đi, người khác đến ở nhờ, thì trúc bị bọn đan gùi giỏ đến chặt, bọn làm chổi rễ đến cắt. Khóm bị chém còn lại, lớn không quá một sải, đếm không đến trăm cây. Lại có đám cỏ hoang cây dại mọc bừa trong đó, um tùm rậm rạp, toàn giống chẳng có tâm như trúc.” Cư Dị tôi tiếc khóm trúc vốn là cây được tay bậc trưởng giả vun trồng, nay lại chỉ có con mắt của bọn tục nhân ngó tới, chặt phá như vậy, mà bản tính vẫn giữ nguyên. Bèn cắt hết cỏ rậm, nhặt sạch rác rưới, tỉa thoáng khóm cành, vun rào gốc rễ, chưa hết ngày thì làm xong. Thế là khi mặt trời mọc lại có bóng mát râm, lúc gió thổi về lại có tiếng vi vút. Lá cành vui nhởn nhơ, xanh mơn mởn, như cũng có cái tình cảm ngộ vậy.
Than ôi! Trúc là loài thực vật, sao có thể sánh với con người? Chỉ vì có những điểm giống bậc hiền nhân mà được người đời yêu mến vun trồng, huống nữa là bậc hiền nhân thực sự? Vả trúc ở trong đám cỏ cây, cũng như bậc hiền nhân trong đám người phàm. Ôi, trúc chẳng tự cho mình là khác, chỉ là con người thấy sự khác biệt đó thôi. Bậc hiền nhân chẳng tự cho mình là khác, chỉ có người biết dùng người hiền thấy sự khác biệt đó thôi. Nên tôi bèn làm bài “Dưỡng Trúc Ký” này, viết lên vách đình, để để lại cho người sau lại đến ở nơi này, cũng là muốn cho những người dụng hiền đời nay nghe lấy vậy.
(Tiết Đại thử năm Mậu Tý - Châu Hải Đường dịch)
Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012
Mấy lỗi dịch thuật trong cuốn "Thơ văn Nguyễn Cao"
I. Từ chữ "Niết" đến cách hiểu câu cuối 1 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Cao:

Trong cuốn "Thơ văn Nguyễn Cao" tác giả GS Phan Văn Các sưu tầm, phiên dịch chú giải, do nhà xuất bản KHXH in năm 1992 có bài thơ: "Quá Kim Anh huyện Xuân Bảng xã vũ trung dữ Tán tương Đào niên huynh thoại đồn điền sự", như sau:

"Kim Anh mộng lý vãng lai tần;
Phong vũ kim triêu ấp lộ trần.
Thu thảo mãng tùng Xuân Bảng địa;
Mã sơn hình thế Tản Viên lân.
Thiên hoài ngô thổ đa tân kiến;
Thả hỉ điền mưu cộng cố nhân.
Thuỳ đạo thử phi đồ báo niệm;
Niết trung Vị thượng nhất kinh luân!"
Và chú thích rằng:
"Niết trung, Vị thượng: Niết là nước nhuộm đen. Vị là dòng sông nước trong nổi tiếng ở vùng Cam Túc, Thiểm Tây. Cả thành ngữ có nghĩa: trong bất cứ hoàn cảnh nào."
Cảm thấy chữ "Niết" 涅 ở câu này ý nghĩa khá mơ hồ, vả chăng nếu muốn nói đến "trong và đục" thì người xưa thường dùng chữ "Kinh Vị" (sông Kinh nước đục, sông Vị nước trong) chứ không dùng chữ Niết bao giờ. Rất may mắn cuối sách có in photo bản nguyên văn chữ Hán của bài thơ. Chữ trong văn bản gốc viết hành thư cũng không quá khó đọc, xem lại nguyên văn câu cuối thì tôi thấy chữ được phiên âm thành "Niết" trong sách không phải là chữ "Niết" 涅 mà là chữ "Hoàng"湟. Và tác giả đã nhầm nó thành chữ Niết. Câu cuối của bài thơ là: "Hoàng trung Vị thượng nhất kinh luân" (湟中渭上一经纶).

Vậy câu này nghĩa là gì?
Nếu bạn đọc nhiều thơ văn cổ, bằng cảm nhận của mình cũng có thể thấy ngay ở đây chắc chắn ẩn chứa một điển cố sâu xa nào đó và nó phải có sự liên quan đến chủ đề bài thơ. Đúng vậy, trong câu kết bài thơ này, Nguyễn Cao đã nhắc đến hai điển cố về Triệu Sung Quốc và Gia Cát Lượng, có liên quan chặt chẽ đến chuyện "thoại đồn điền sự" như đầu đề bài thơ.
Trước hết xin giải nghĩa chữ Hoàng: Hoàng là tên một con sông - sông Hoàng nằm ở tỉnh Thanh Hải - TQ. Hoàng Trung chỉ vùng đất nằm hai bên sông Hoàng.
Triệu Sung Quốc (137 - 52 trước CN) tên tự là Ông Tôn, là một nhà quân sự, danh tướng thời Tây Hán. Cuối thời Hán Vũ Đế, người Khương ở địa bàn Thanh Hải ngày nay thường xuyên quấy nhiễu. Khi ấy Triệu Sung Quốc được phái đánh dẹp. Đến bên sông Hoàng ông thiết lập trận địa vững vàng cố thủ để chống cự lại với quân Khương. Để đảm bảo lương thực cho quân lính, ông kiến nghị triều đình thực hiện việc "đồn điền ở Hoàng Trung", tức là quân lính sẽ tham gia cày cấy lấy lương ăn, với 12 điều lợi ích của việc đó, như: không làm nghề nông bị bỏ bễ, giảm chi phí vận chuyển, giảm lao dịch ... Chiến thuật ấy có tác dụng lớn, và được áp dụng mãi về sau này.
Còn Gia Cát Lượng thì mọi người biết quá rõ rồi, Gia Cát Lượng cũng đã ứng dụng phép "đồn điền" trong cuộc chiến tại Kỳ Sơn năm Kiến Hưng thứ 12, đánh nhau với Tư Mã Ý. Đó là lần cuối cùng Gia Cát lượng tiến hành bắc phạt. Quân Nguỵ do Tư Mã Ý chỉ huy cố thủ không ra đánh. Khổng Minh liền dùng chiến thuật "đồn điền" cho lính cùng ở với dân làm ruộng trên bãi sông Vị thuỷ và đã có khả năng chiến thắng nếu như ông không qua đời sau đó.
Lưu Khắc Trang đời Tống trong: "Thư sự tam tuyệt cú" (Ba bài tuyệt cú ghi lại chuyện) ghi lại một năm đói kém mất mùa dưới thời Tống, từng viết: "Thục tướng tích tằng canh Vị thượng; Hán gia kim hữu địch Hoàng trung" (Tướng nước Thục xưa từng cày ruộng trên bờ sông Vị, Nhà Hán đến nay vẫn thu được thóc ở Hoàng trung) nói về cả hai điển tích trên.
Như vậy câu thơ cuối của Nguyễn Cao có ý so sánh việc đồn điền của ông Đào với việc làm của Triệu Sung Quốc, Gia Cát Lượng, và đó đều là sự thể hiện của một tài năng kinh bang tế thế.
"Hoàng trung Vị thượng nhất kinh luân"
Nghĩa là: Cùng một tài kinh luân như người đồn điền ở Hoàng Trung, kẻ đồn điền trên bờ Vị vậy.
Vậy là từ việc đọc sai một chữ, đến việc không biết về điển cố, cũng như sự võ đoán đã làm bản dịch bị sai và mất hẳn ý tứ sâu xa của bài thơ.
II. Thiệu Ung Vương Tích đâu rồi; Để xem "hối quá" là người nào đây?
Cũng trong cuốn "Thơ văn Nguyễn Cao" của tác giả GS Phan Văn Các nói trên, có bài thơ "Tửu hậu hối quá" như sau:

"Nhất dạ hoan phùng tiện giác đa;
Ngôn ngôn tiếu tiếu hựu ca ca.
Hứng thâm vong khước nhân thuỳ ngã;
Tỉnh hậu hoàn giao hối thậm ma?
Vương tích vị ưng khan tận tuý;
Nghiêu thiên do thả ái vi đà.
Huống kim bán thị sơ diên hội;
Đồng cổ tri đương xuất nại hà?
(Bản dịch chi tiết xin mời xem trang sách kèm theo)
Tác giả PVC có chú thích về hai chữ "Vương tích" và "Nghiêu thiên" như sau:
(1) Vương tích: tích tức tích tượng. Vương tích là những dấu vết hay những điềm báo trước sự nghiệp của bậc vương giả.
(2) Nghiêu thiên: Trời Nghiêu, thời thịnh trị thanh bình.
Chữ "Nghiêu thiên" quả cũng thường nghe rồi, "Nghiêu thiên Thuấn nhật" chẳng hạn là nói những năm tháng thịnh trị như thời Nghiêu Thuấn. Nhưng thấy chữ "Vương tích" giả thích có vẻ thiếu thuyết phục, nhất là khi đem đối với "Nghiêu thiên", lật xem lại nguyên văn chữ Hán gốc thì hoá ra đúng là có vấn đề thật. Ngày xưa bà Hồ Xuân Hương có câu thơ: "Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc". Chữ "thiên" ở đây thì tôi thấy rõ là đã "nhô đầu dọc rồi. Lại nữa, chữ "tích" ở đây cũng không phải là tích = dấu vết, mà là tích = công trạng, thành tích.


Hai câu ấy phải đọc lại là:
Vương Tích vị ưng khan tận tuý;
Nghiêu Phu do thả ái vi đà.
Vương Tích ở đây là chỉ Vương Tích - nhà thơ thời sơ Đường. Vương Tích (585-644), tự Vô Công, hiệu Đông Cao tử, là em danh nho đời cuối Tuỳ là Vương Thông. Ông nổi tiếng ham rượu. Vì ham rượu nên không làm quan ở kinh mà xin đi xa để tiện uống. Thế mà vẫn bị đàn hặc phải về quê ẩn cư, Sau đến đời Đường Vũ Đức lại ra làm chức đãi chiếu, quan thị trung Trần Thúc Đạt biết tính ham rượu nên đặc biệt cấp cho mỗi ngày một đấu rượu, nên khi ấy người ta gọi là "Đấu tửu học sĩ". Sau bỏ quan về ở ẩn ở Đông Cao thường ví mình với Đào Tiềm, Nguyễn Tịch (cũng là những "cây" rượu).Chữ "khan tận tuý" còn có ý gợi đến câu thơ của Vương Tích trong bài "Quá tửu gia": "Nhãn khan nhân tận tuý; Hà nhẫn độc vi tinh!" (Mắt thấy mọi người say cả, Sao đành một mình mình tỉnh!)
Còn Nghiêu Phu tức Thiệu Ung - học giả nổi tiếng đời Tống. Thiệu Ung (1011-1077) tự Nghiêu Phu, thuỵ hiệu Khang Tiết, là nhà triết học, dịch học nổi tiếng. Là người tài cao hiểu rộng, nhưng ông không làm quan. Trong một bài "Tiểu Xa Ngâm" ông viết: "Tính hỉ ẩm tửu; Ẩm hỉ vi đà. Ẩm vị vi đà; Khẩu tiên ngâm nga."
Như vậy hai câu thơ của Nguyễn Cao có nhắc đến chuyện uống rượu của Vương Tích và Thiệu Ung (Thiệu Nghiêu Phu) với nghĩa như sau:
(Văn chương như) Vương Tích cũng không nên để mình say khướt như mọi người;
(Tài năng như) Nghiêu Phu cũng chỉ thích hơi lâng lâng thôi.
Vậy mà nó thành ra như trong sách các bác đã xem đó.
Ngoài ra đọc lại, thấy Tg PVC còn nhầm khi phiên âm chữ Khởi (dậy) phiên thành Hậu (sau) ở câu 4, tuy nhiên không gây sai lệch quá nhiều.
Mới hay, chữ Hán không viết hoa tên riêng thật là tai hại quá, khiến cho GS của chúng ta không nhận ra đó là tên của hai người đời xưa. Hay nói chính xác là mới nhậ được một nửa cái tên mà thôi.
Nhân đây, xin nói thêm về hai câu cuối bài thơ trên:
Hai câu này dùng điển cố trong Kinh thi - Tiểu nhã bài "Tân chi sơ diên", người dịch đã nhận ra điều đó, nhưng lại dịch không đúng ý tác giả.
Nguyên câu trong kinh Thi là: "Do tuý chi ngôn, Tì xuất đồng cổ". Đồng cổ nghĩa là con dê đực không sừng, chỉ chuyện vô lý không có thật. Ý kinh Thi nói: do say rượu mà nói ra những sự việc sai lầm không đúng.
Câu cuối của Nguyễn Cao không phải như PVC dịch là: "Dê con biết nên ra mắt như thế nào", mà là: "(Do say) Đã trót nói những chuyện không đúng, như "dê không sừng", giờ biết làm sao đây?"
...................
(còn tiếp)
Trong cuốn "Thơ văn Nguyễn Cao" tác giả GS Phan Văn Các sưu tầm, phiên dịch chú giải, do nhà xuất bản KHXH in năm 1992 có bài thơ: "Quá Kim Anh huyện Xuân Bảng xã vũ trung dữ Tán tương Đào niên huynh thoại đồn điền sự", như sau:
"Kim Anh mộng lý vãng lai tần;
Phong vũ kim triêu ấp lộ trần.
Thu thảo mãng tùng Xuân Bảng địa;
Mã sơn hình thế Tản Viên lân.
Thiên hoài ngô thổ đa tân kiến;
Thả hỉ điền mưu cộng cố nhân.
Thuỳ đạo thử phi đồ báo niệm;
Niết trung Vị thượng nhất kinh luân!"
Và chú thích rằng:
"Niết trung, Vị thượng: Niết là nước nhuộm đen. Vị là dòng sông nước trong nổi tiếng ở vùng Cam Túc, Thiểm Tây. Cả thành ngữ có nghĩa: trong bất cứ hoàn cảnh nào."
Cảm thấy chữ "Niết" 涅 ở câu này ý nghĩa khá mơ hồ, vả chăng nếu muốn nói đến "trong và đục" thì người xưa thường dùng chữ "Kinh Vị" (sông Kinh nước đục, sông Vị nước trong) chứ không dùng chữ Niết bao giờ. Rất may mắn cuối sách có in photo bản nguyên văn chữ Hán của bài thơ. Chữ trong văn bản gốc viết hành thư cũng không quá khó đọc, xem lại nguyên văn câu cuối thì tôi thấy chữ được phiên âm thành "Niết" trong sách không phải là chữ "Niết" 涅 mà là chữ "Hoàng"湟. Và tác giả đã nhầm nó thành chữ Niết. Câu cuối của bài thơ là: "Hoàng trung Vị thượng nhất kinh luân" (湟中渭上一经纶).
Vậy câu này nghĩa là gì?
Nếu bạn đọc nhiều thơ văn cổ, bằng cảm nhận của mình cũng có thể thấy ngay ở đây chắc chắn ẩn chứa một điển cố sâu xa nào đó và nó phải có sự liên quan đến chủ đề bài thơ. Đúng vậy, trong câu kết bài thơ này, Nguyễn Cao đã nhắc đến hai điển cố về Triệu Sung Quốc và Gia Cát Lượng, có liên quan chặt chẽ đến chuyện "thoại đồn điền sự" như đầu đề bài thơ.
Trước hết xin giải nghĩa chữ Hoàng: Hoàng là tên một con sông - sông Hoàng nằm ở tỉnh Thanh Hải - TQ. Hoàng Trung chỉ vùng đất nằm hai bên sông Hoàng.
Triệu Sung Quốc (137 - 52 trước CN) tên tự là Ông Tôn, là một nhà quân sự, danh tướng thời Tây Hán. Cuối thời Hán Vũ Đế, người Khương ở địa bàn Thanh Hải ngày nay thường xuyên quấy nhiễu. Khi ấy Triệu Sung Quốc được phái đánh dẹp. Đến bên sông Hoàng ông thiết lập trận địa vững vàng cố thủ để chống cự lại với quân Khương. Để đảm bảo lương thực cho quân lính, ông kiến nghị triều đình thực hiện việc "đồn điền ở Hoàng Trung", tức là quân lính sẽ tham gia cày cấy lấy lương ăn, với 12 điều lợi ích của việc đó, như: không làm nghề nông bị bỏ bễ, giảm chi phí vận chuyển, giảm lao dịch ... Chiến thuật ấy có tác dụng lớn, và được áp dụng mãi về sau này.
Còn Gia Cát Lượng thì mọi người biết quá rõ rồi, Gia Cát Lượng cũng đã ứng dụng phép "đồn điền" trong cuộc chiến tại Kỳ Sơn năm Kiến Hưng thứ 12, đánh nhau với Tư Mã Ý. Đó là lần cuối cùng Gia Cát lượng tiến hành bắc phạt. Quân Nguỵ do Tư Mã Ý chỉ huy cố thủ không ra đánh. Khổng Minh liền dùng chiến thuật "đồn điền" cho lính cùng ở với dân làm ruộng trên bãi sông Vị thuỷ và đã có khả năng chiến thắng nếu như ông không qua đời sau đó.
Lưu Khắc Trang đời Tống trong: "Thư sự tam tuyệt cú" (Ba bài tuyệt cú ghi lại chuyện) ghi lại một năm đói kém mất mùa dưới thời Tống, từng viết: "Thục tướng tích tằng canh Vị thượng; Hán gia kim hữu địch Hoàng trung" (Tướng nước Thục xưa từng cày ruộng trên bờ sông Vị, Nhà Hán đến nay vẫn thu được thóc ở Hoàng trung) nói về cả hai điển tích trên.
Như vậy câu thơ cuối của Nguyễn Cao có ý so sánh việc đồn điền của ông Đào với việc làm của Triệu Sung Quốc, Gia Cát Lượng, và đó đều là sự thể hiện của một tài năng kinh bang tế thế.
"Hoàng trung Vị thượng nhất kinh luân"
Nghĩa là: Cùng một tài kinh luân như người đồn điền ở Hoàng Trung, kẻ đồn điền trên bờ Vị vậy.
Vậy là từ việc đọc sai một chữ, đến việc không biết về điển cố, cũng như sự võ đoán đã làm bản dịch bị sai và mất hẳn ý tứ sâu xa của bài thơ.
II. Thiệu Ung Vương Tích đâu rồi; Để xem "hối quá" là người nào đây?
Cũng trong cuốn "Thơ văn Nguyễn Cao" của tác giả GS Phan Văn Các nói trên, có bài thơ "Tửu hậu hối quá" như sau:
"Nhất dạ hoan phùng tiện giác đa;
Ngôn ngôn tiếu tiếu hựu ca ca.
Hứng thâm vong khước nhân thuỳ ngã;
Tỉnh hậu hoàn giao hối thậm ma?
Vương tích vị ưng khan tận tuý;
Nghiêu thiên do thả ái vi đà.
Huống kim bán thị sơ diên hội;
Đồng cổ tri đương xuất nại hà?
(Bản dịch chi tiết xin mời xem trang sách kèm theo)
Tác giả PVC có chú thích về hai chữ "Vương tích" và "Nghiêu thiên" như sau:
(1) Vương tích: tích tức tích tượng. Vương tích là những dấu vết hay những điềm báo trước sự nghiệp của bậc vương giả.
(2) Nghiêu thiên: Trời Nghiêu, thời thịnh trị thanh bình.
Chữ "Nghiêu thiên" quả cũng thường nghe rồi, "Nghiêu thiên Thuấn nhật" chẳng hạn là nói những năm tháng thịnh trị như thời Nghiêu Thuấn. Nhưng thấy chữ "Vương tích" giả thích có vẻ thiếu thuyết phục, nhất là khi đem đối với "Nghiêu thiên", lật xem lại nguyên văn chữ Hán gốc thì hoá ra đúng là có vấn đề thật. Ngày xưa bà Hồ Xuân Hương có câu thơ: "Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc". Chữ "thiên" ở đây thì tôi thấy rõ là đã "nhô đầu dọc rồi. Lại nữa, chữ "tích" ở đây cũng không phải là tích = dấu vết, mà là tích = công trạng, thành tích.
Hai câu ấy phải đọc lại là:
Vương Tích vị ưng khan tận tuý;
Nghiêu Phu do thả ái vi đà.
Vương Tích ở đây là chỉ Vương Tích - nhà thơ thời sơ Đường. Vương Tích (585-644), tự Vô Công, hiệu Đông Cao tử, là em danh nho đời cuối Tuỳ là Vương Thông. Ông nổi tiếng ham rượu. Vì ham rượu nên không làm quan ở kinh mà xin đi xa để tiện uống. Thế mà vẫn bị đàn hặc phải về quê ẩn cư, Sau đến đời Đường Vũ Đức lại ra làm chức đãi chiếu, quan thị trung Trần Thúc Đạt biết tính ham rượu nên đặc biệt cấp cho mỗi ngày một đấu rượu, nên khi ấy người ta gọi là "Đấu tửu học sĩ". Sau bỏ quan về ở ẩn ở Đông Cao thường ví mình với Đào Tiềm, Nguyễn Tịch (cũng là những "cây" rượu).Chữ "khan tận tuý" còn có ý gợi đến câu thơ của Vương Tích trong bài "Quá tửu gia": "Nhãn khan nhân tận tuý; Hà nhẫn độc vi tinh!" (Mắt thấy mọi người say cả, Sao đành một mình mình tỉnh!)
Còn Nghiêu Phu tức Thiệu Ung - học giả nổi tiếng đời Tống. Thiệu Ung (1011-1077) tự Nghiêu Phu, thuỵ hiệu Khang Tiết, là nhà triết học, dịch học nổi tiếng. Là người tài cao hiểu rộng, nhưng ông không làm quan. Trong một bài "Tiểu Xa Ngâm" ông viết: "Tính hỉ ẩm tửu; Ẩm hỉ vi đà. Ẩm vị vi đà; Khẩu tiên ngâm nga."
Như vậy hai câu thơ của Nguyễn Cao có nhắc đến chuyện uống rượu của Vương Tích và Thiệu Ung (Thiệu Nghiêu Phu) với nghĩa như sau:
(Văn chương như) Vương Tích cũng không nên để mình say khướt như mọi người;
(Tài năng như) Nghiêu Phu cũng chỉ thích hơi lâng lâng thôi.
Vậy mà nó thành ra như trong sách các bác đã xem đó.
Ngoài ra đọc lại, thấy Tg PVC còn nhầm khi phiên âm chữ Khởi (dậy) phiên thành Hậu (sau) ở câu 4, tuy nhiên không gây sai lệch quá nhiều.
Mới hay, chữ Hán không viết hoa tên riêng thật là tai hại quá, khiến cho GS của chúng ta không nhận ra đó là tên của hai người đời xưa. Hay nói chính xác là mới nhậ được một nửa cái tên mà thôi.
Nhân đây, xin nói thêm về hai câu cuối bài thơ trên:
Hai câu này dùng điển cố trong Kinh thi - Tiểu nhã bài "Tân chi sơ diên", người dịch đã nhận ra điều đó, nhưng lại dịch không đúng ý tác giả.
Nguyên câu trong kinh Thi là: "Do tuý chi ngôn, Tì xuất đồng cổ". Đồng cổ nghĩa là con dê đực không sừng, chỉ chuyện vô lý không có thật. Ý kinh Thi nói: do say rượu mà nói ra những sự việc sai lầm không đúng.
Câu cuối của Nguyễn Cao không phải như PVC dịch là: "Dê con biết nên ra mắt như thế nào", mà là: "(Do say) Đã trót nói những chuyện không đúng, như "dê không sừng", giờ biết làm sao đây?"
...................
(còn tiếp)
Thẩm Quát - “Mộng Khê Bút Đàm” - Quyển 17 - Thư Hoạ (trích)
(Mộng Khê Bút Đàm của Thẩm Quát - học giả đời Tống gồm hơn 20 cuốn là một bộ tùy bút, trong đó Thẩm Quát viết về khá nhiều lĩnh vực từ văn hóa nghệ thuật đến khoa học, y học ... Quyển 17 chuyên viết về Thư Họa. CHĐ xin dịch một đoạn đầu quyển 17 này để các bạn xem chơi! - CHĐ)
Người thâu tàng thư hoạ, phần lớn ưa theo danh tiếng. Ngẫu nhiên nghe thấy bảo là bút tích của các nhà: Chung, Vương, Cố, Lục thì tranh nhau mua, đó gọi là “nhĩ giám” (giám thưởng bằng tai) vậy. Lại có kẻ xem tranh mà lấy tay sờ vào, truyền nhau là màu sắc không dính ngón tay là bức vẽ hay, cái này so với “nhĩ giám” lại còn kém hơn nữa, gọi là “gõ xương nghe tiếng”.
Ông Âu Dương có một bức tranh cổ, vẽ một khóm mẫu đơn, phía dưới lại vẽ một con mèo, nhưng chưa thấy hết sự tinh thô trong đó. Quan thừa tướng là ông Ngô Chính Túc vốn là tình thông gia với ông Âu Dương, trông thấy bức tranh liền bảo: “Đây là bức vẽ hoa mẫu đơn vào đúng giữa trưa đây. Làm sao mà biết thế? Hoa nở hết độ mà sắc khô, đó là mẫu đơn khi mặt trời đứng bóng. Mắt con mèo lòng đen thành một sợi chỉ, đó là mắt con mèo lúc chính ngọ. Nếu hoa có sương thì cánh cụp mà sắc nhuận. Mắt mèo sáng và chiều thì lòng đen hình tròn, mặt trời lên cao thì nó nhỏ hẹp lại, chính ngọ thì mảnh như sợi chỉ vậy.” Đó cũng là người giỏi hiểu rõ tâm ý cổ nhân vậy.
Bức bích hoạ cũ ở chùa Tướng Quốc, là do Cao Ích vẽ. Trên đó vẽ cảnh các nhạc công đang chơi nhạc, rất là thú vị. Người ta phần lớn cho rằng bức vẽ có chỗ sai là vẽ người chơi đàn tỳ bà đang gảy ở dây dưới, trong khi các tay chơi sáo lại đang chơi ở chữ thứ tư. ở chữ thứ tư, tỳ bà phải ở dây trên, ở đây lại gảy mà che dây dưới, đó là lầm vậy. Ta cho là không có chuyện lầm. Thổi sáo nhấc ngón tay thì mới có tiếng, gảy tỳ bà thì ngón tay đi qua mới có tiếng, ở đây tay che trên dây dưới, tức là tiếng ở dây trên vậy. Cao Ích, vẽ được như vậy, thực có thể biết đã dụng tâm đến thế nào.
Cái tuyệt diệu của thư hoạ, phải lấy tinh thần mà cảm nhận, chứ không thể lấy hình khí mà cầu được. Những người xem tranh ở đời này, phần lớn mới có thể chỉ ra những hình tượng, vị trí, màu sắc tỳ vết mà thôi, còn đến những dụng tâm nghĩa lý sâu xa trong đó, ít có người thấy được. Ông Ngạn Viễn trong “Hoạ Bình” nói: Vương Duy vẽ vật, thường phần nhiều không để tâm đến chuyện bốn mùa, như khi vẽ hoa thường vẽ cả đào, hạnh, phù dung, hoa sen vào cùng một cảnh. Nhà ta có giữ bức tranh “Viên An ngoạ tuyết” của Vương Ma Cật (Vương Duy), có vẽ cây chuối trong tuyết, đó là sự đắc tâm ứng thủ, ý đáo tiện thành, tự nhiên nhập thần mà đắc thiên ý, chuyện đó khó mà nói với những kẻ tục nhân được.
Tạ Hách nói: “Tranh của Vệ Hiệp, tuy hình chưa đủ cái thần diệu, nhưng lại có khí vận, vượt khỏi quần hùng, khoáng đại tuyệt bút.” Lại như bài thơ “Bàn Xa Đồ” của Âu Văn Trung viết: “Cổ hoạ hoạ ý bất hoạ hình; Mai thi vịnh vật vô ẩn tình. Vong hình đắc ý tri giả quả; Bất nhược kiến thi như kiến hoạ.” (Tranh xưa họa ý mà không họa hình; Thơ Mai thi vịnh vật mà không ẩn dấu tình cảm gì sau đó cả. Người biết quên hình được ý thực ít ỏi; Nếu không thế thì đã thấy thơ cũng như thấy tranh rồi). Đó thực là biết về tranh vậy.
Vương Trọng Chí xem tranh ở nhà ta, rất thích bức tranh “Hoàng Mai Xuất Sơn Đồ” của Vương Duy, bức tranh vẽ hai người là Hoàng Mai và Tào Khê, khí vận rất thần kỳ, đều giống như hệt. Đọc sự tích hai người, lại xem tranh vẽ, có thể tưởng như thấy người thật vậy.
Sách “Quốc Sử Bổ” chép: “Có người đem bức tranh “Án Nhạc Đồ” cho Vương Duy xem, Duy bảo: “Đây vẽ khúc Nghê Thường ở vào phách thứ nhất, lớp thứ ba đây mà!” Người khách chưa cho là thật, cho dàn nhạc tấu khúc ấy, quả nhiên như vậy, khi ấy mới tin.” Đây đúng là chuyện của những kẻ hiếu kỳ dựng lên. Phàm vẽ cảnh tấu nhạc, chỉ vẽ được một tiếng, xong kim thạch quản huyền cùng dùng ở chữ thứ nhất, thì khúc nào mà chẳng có, há chỉ có phách thứ nhất, lớp thứ ba khúc Nghê Thường thôi sao? Hoặc có thể là phách trong nhịp múa hay cử động khác, có âm thanh đặc biệt để mà kiểm nghiệm chăng? Nhưng cũng không phải. Khúc Nghê Thường phàm có 13 lớp, 6 lớp trước không chia phách, đến lớp thứ 7 mới gọi là “điệp biến”, từ đây mới chia thành phách để mà múa. Cho nên Bạch Lạc Thiên (Cư Dị) có câu thơ: “Trung tự phách hoặc sơ nhập phách” (Lớp giữa réo rắt bắt đầu vào phách). “Trung tự” tức là chỉ lớp thứ 7 vậy, chứ lớp thứ ba làm gì có phách? Thế mà nói: “Phách thứ nhất lớp thứ ba”, thì có thể biết là bịa đặt rồi.
Lại có chuyện: có người xem bức tranh “Đàn Cầm Đồ” bảo: “Đây là tranh vẽ người đang chơI khúc “Quảng Lăng Tán” đây mà!” Chuyện này còn có thể tin được, bởi vì trong khúc Quảng Lăng Tán có một số thanh âm mà những khúc nhạc khác không có, kiểu như tiếng bát tiếng sái vậy.(…)
Người thâu tàng thư hoạ, phần lớn ưa theo danh tiếng. Ngẫu nhiên nghe thấy bảo là bút tích của các nhà: Chung, Vương, Cố, Lục thì tranh nhau mua, đó gọi là “nhĩ giám” (giám thưởng bằng tai) vậy. Lại có kẻ xem tranh mà lấy tay sờ vào, truyền nhau là màu sắc không dính ngón tay là bức vẽ hay, cái này so với “nhĩ giám” lại còn kém hơn nữa, gọi là “gõ xương nghe tiếng”.
Ông Âu Dương có một bức tranh cổ, vẽ một khóm mẫu đơn, phía dưới lại vẽ một con mèo, nhưng chưa thấy hết sự tinh thô trong đó. Quan thừa tướng là ông Ngô Chính Túc vốn là tình thông gia với ông Âu Dương, trông thấy bức tranh liền bảo: “Đây là bức vẽ hoa mẫu đơn vào đúng giữa trưa đây. Làm sao mà biết thế? Hoa nở hết độ mà sắc khô, đó là mẫu đơn khi mặt trời đứng bóng. Mắt con mèo lòng đen thành một sợi chỉ, đó là mắt con mèo lúc chính ngọ. Nếu hoa có sương thì cánh cụp mà sắc nhuận. Mắt mèo sáng và chiều thì lòng đen hình tròn, mặt trời lên cao thì nó nhỏ hẹp lại, chính ngọ thì mảnh như sợi chỉ vậy.” Đó cũng là người giỏi hiểu rõ tâm ý cổ nhân vậy.
Bức bích hoạ cũ ở chùa Tướng Quốc, là do Cao Ích vẽ. Trên đó vẽ cảnh các nhạc công đang chơi nhạc, rất là thú vị. Người ta phần lớn cho rằng bức vẽ có chỗ sai là vẽ người chơi đàn tỳ bà đang gảy ở dây dưới, trong khi các tay chơi sáo lại đang chơi ở chữ thứ tư. ở chữ thứ tư, tỳ bà phải ở dây trên, ở đây lại gảy mà che dây dưới, đó là lầm vậy. Ta cho là không có chuyện lầm. Thổi sáo nhấc ngón tay thì mới có tiếng, gảy tỳ bà thì ngón tay đi qua mới có tiếng, ở đây tay che trên dây dưới, tức là tiếng ở dây trên vậy. Cao Ích, vẽ được như vậy, thực có thể biết đã dụng tâm đến thế nào.
Cái tuyệt diệu của thư hoạ, phải lấy tinh thần mà cảm nhận, chứ không thể lấy hình khí mà cầu được. Những người xem tranh ở đời này, phần lớn mới có thể chỉ ra những hình tượng, vị trí, màu sắc tỳ vết mà thôi, còn đến những dụng tâm nghĩa lý sâu xa trong đó, ít có người thấy được. Ông Ngạn Viễn trong “Hoạ Bình” nói: Vương Duy vẽ vật, thường phần nhiều không để tâm đến chuyện bốn mùa, như khi vẽ hoa thường vẽ cả đào, hạnh, phù dung, hoa sen vào cùng một cảnh. Nhà ta có giữ bức tranh “Viên An ngoạ tuyết” của Vương Ma Cật (Vương Duy), có vẽ cây chuối trong tuyết, đó là sự đắc tâm ứng thủ, ý đáo tiện thành, tự nhiên nhập thần mà đắc thiên ý, chuyện đó khó mà nói với những kẻ tục nhân được.
Tạ Hách nói: “Tranh của Vệ Hiệp, tuy hình chưa đủ cái thần diệu, nhưng lại có khí vận, vượt khỏi quần hùng, khoáng đại tuyệt bút.” Lại như bài thơ “Bàn Xa Đồ” của Âu Văn Trung viết: “Cổ hoạ hoạ ý bất hoạ hình; Mai thi vịnh vật vô ẩn tình. Vong hình đắc ý tri giả quả; Bất nhược kiến thi như kiến hoạ.” (Tranh xưa họa ý mà không họa hình; Thơ Mai thi vịnh vật mà không ẩn dấu tình cảm gì sau đó cả. Người biết quên hình được ý thực ít ỏi; Nếu không thế thì đã thấy thơ cũng như thấy tranh rồi). Đó thực là biết về tranh vậy.
Vương Trọng Chí xem tranh ở nhà ta, rất thích bức tranh “Hoàng Mai Xuất Sơn Đồ” của Vương Duy, bức tranh vẽ hai người là Hoàng Mai và Tào Khê, khí vận rất thần kỳ, đều giống như hệt. Đọc sự tích hai người, lại xem tranh vẽ, có thể tưởng như thấy người thật vậy.
Sách “Quốc Sử Bổ” chép: “Có người đem bức tranh “Án Nhạc Đồ” cho Vương Duy xem, Duy bảo: “Đây vẽ khúc Nghê Thường ở vào phách thứ nhất, lớp thứ ba đây mà!” Người khách chưa cho là thật, cho dàn nhạc tấu khúc ấy, quả nhiên như vậy, khi ấy mới tin.” Đây đúng là chuyện của những kẻ hiếu kỳ dựng lên. Phàm vẽ cảnh tấu nhạc, chỉ vẽ được một tiếng, xong kim thạch quản huyền cùng dùng ở chữ thứ nhất, thì khúc nào mà chẳng có, há chỉ có phách thứ nhất, lớp thứ ba khúc Nghê Thường thôi sao? Hoặc có thể là phách trong nhịp múa hay cử động khác, có âm thanh đặc biệt để mà kiểm nghiệm chăng? Nhưng cũng không phải. Khúc Nghê Thường phàm có 13 lớp, 6 lớp trước không chia phách, đến lớp thứ 7 mới gọi là “điệp biến”, từ đây mới chia thành phách để mà múa. Cho nên Bạch Lạc Thiên (Cư Dị) có câu thơ: “Trung tự phách hoặc sơ nhập phách” (Lớp giữa réo rắt bắt đầu vào phách). “Trung tự” tức là chỉ lớp thứ 7 vậy, chứ lớp thứ ba làm gì có phách? Thế mà nói: “Phách thứ nhất lớp thứ ba”, thì có thể biết là bịa đặt rồi.
Lại có chuyện: có người xem bức tranh “Đàn Cầm Đồ” bảo: “Đây là tranh vẽ người đang chơI khúc “Quảng Lăng Tán” đây mà!” Chuyện này còn có thể tin được, bởi vì trong khúc Quảng Lăng Tán có một số thanh âm mà những khúc nhạc khác không có, kiểu như tiếng bát tiếng sái vậy.(…)
Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012
Dịch "Thính Tranh" của Liễu Trung Dung
Liễu Trung Dung 柳中庸 tên thật là Đạm 淡, người Hà Đông (TQ), không rõ năm sinh năm mất, đậu Tiến sĩ khoảng niên hiệu Đại Lịch đời Đường, từng làm chức Hộ tào ở Hồng Phủ, là bạn thơ cùng nhóm Lư Luân, Lý Đoan.
Gần đây đọc được bài thơ Thính Tranh của ông, thấy chưa có ai dịch (hoặc mình chưa được biết) nên đưa lên đây mong mọi người cùng tham gia dịch.
听筝
抽弦促柱听秦筝, 无限秦人悲怨声。
似逐春风知柳态, 如随啼鸟识花情。
谁家独夜愁灯影? 何处空楼思月明?
更入几重离别恨, 江南歧路洛阳城。
THÍNH TRANH
Trừu huyền xúc trụ thính Tần tranh;
Vô hạn Tần nhân bi oán thanh.
Tự trục xuân phong tri liễu thái;
Như tùy đề điểu thức hoa tình.
Thùy gia độc dạ sầu đăng ảnh;
Hà xứ không lâu tư nguyệt minh?
Cánh nhập kỷ trùng li biệt hận;
Giang Nam kỳ lộ Lạc Dương thành.
Dịch nghĩa:
So dây nắn phím nghe vẳng tiếng đàn tranh nước Tần;
Biết bao nhiêu tiếng buòn thảm của người đất Tần.
(âm thanh) Dường như đuổi theo làn gió xuân biết được dáng vẻ của liễu;
(Lại) như theo tiếng chim hót hiểu rõ tâm tình của hoa.
Nhà ai đêm một mình buồn bã với bóng đèn cô lẻ;
Nơi nào lầu cao trống vắng nhớ đến đêm trăng sáng?
Lại càng thêm vào mấy lớp hận chia li;
đất Giang Nam, thành Lạc Dương con đường gập ghềnh trắc trở.
(Bài thơ Thính Tranh CHĐ viết tặng đào nương Thùy Linh - Ca trù Thăng Long)
Dịch thơ:
Nắn phím so dây vẳng tiếng tranh;
Nghe dường ai oán biết bao tình.
Như hòa chim hót hay hoa thắm;
Tựa quyện xuân phong biết liễu xanh.
Đêm vắng nhà ai sầu bóng lẻ;
Lầu không nào chốn nhớ trăng thanh.
Khúc đâu mấy lớp sầu ly biệt;
Khắc khoải Giang Nam lại Lạc Thành.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






