Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

TUỔI 18 RỜI NHÀ ĐI XA (Dư Hoa)

 Con đường trải nhựa liên tục trồi lên thụt xuống không ngớt, tựa như được trải trên đầu những ngọn sóng biển. Tôi đi bộ trên con đường quốc lộ chạy qua khu đồi núi ấy, thấy mình giống như một con thuyền. Năm ấy tôi mười tám tuổi, mấy sợi râu vàng vàng dưới cằm tôi đón gió phất phơ, đó là chòm râu đầu tiên đến đó "định cư", cho nên tôi đặc biệt trân trọng chúng. Tôi đi trên con đường ấy trọn vẹn một ngày, đã nhìn thấy rất nhiều núi và rất nhiều mây. Tất cả núi, tất cả mây đều khiến tôi liên tưởng đến những người quen thuộc. Tôi đã hướng về phía chúng mà gọi to lên biệt hiệu của họ. Cho nên, mặc dù đã đi cả một ngày nhưng tôi chẳng hề thấy mệt chút nào. Tôi đã đi hết cả một buổi sáng như vậy, và bây giờ đang bước vào thời gian cuối buổi chiều, chính xác hơn là đã nhìn thấy mái tóc của hoàng hôn. Nhưng tôi vẫn chưa bước chân vào một quán trọ nào.

Đi trên đường, tôi gặp không ít người, nhưng họ đều không biết phía trước mặt là nơi nào, phía trước có quán trọ hay không. Họ đều nói với tôi thế này: “Anh đi lên đấy xem xem!” Tôi thấy họ nói rất phải, thực sự là tôi đang đi tới đó xem đây. Nhưng tôi vẫn chưa bước chân vào một quán trọ nào cả. Tôi cảm thấy nên tự mình để tâm đến chuyện quán trọ này.

Tôi lấy làm lạ là mình đã đi cả một ngày mà chỉ một lần gặp ô-tô. Lúc ấy là buổi trưa, khi đó tôi vừa nghĩ đến việc bắt xe, nhưng chỉ mới có ý muốn bắt xe thôi, chứ chưa để tâm đến chuyện quán trọ. Khi ấy tôi chỉ cảm thấy bắt xe một bận thì thật vô cùng tuyệt vời. Tôi đứng bên đường hướng về phía chiếc ô-tô ấy vẫy tay, tôi cố gắng vẫy tay một cách sành điệu, nhưng người tài xế không thèm để mắt đến tôi. Chiếc ô-tô giống như người tài xế, cũng không thèm nhìn tôi, chỉ phóng vụt qua trước mắt tôi rồi mất hút con mẹ hàng lươn. Tôi lấy hết sức chạy đuổi theo sau xe một hồi. Tôi làm như vậy chỉ là cao hứng, bởi vì lúc đó tôi còn chưa lo lắng về chuyện quán trọ. Tôi đuổi theo cho tận tới khi chiếc ô-tô khuất bóng hẳn mới thôi, rồi tự cười ha hả thật to với chính mình. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện, cười to quá sẽ ảnh hưởng đến việc hô hấp, vì thế tôi lập tức ngưng lại không cười nữa. Tôi lại tiếp tục vui vẻ hăng hái lên đường, nhưng trong bụng thì bắt đầu cảm thấy hối hận, hối hận vì khi nãy không cầm theo một cục đá to trong bàn tay đưa ra vẫy xe thật sành đời ấy.

Bây giờ tôi thực sự muốn bắt xe, vì hoàng hôn đã sắp tới rồi, mà quán trọ thì vẫn còn ở trong bụng mẹ nó chưa đẻ ra. Nhưng cả một buổi chiều tôi không hề bắt gặp một cái ô-tô nào cả. Nếu bây giờ có xe mà chặn lại, thì tôi nghĩ tôi nhất định có thể chặn được. Tôi sẽ nằm ngang ra giữa đường, và dám chắc rằng tất cả những xe ô-tô sẽ đều phải phanh gấp lại bên cạnh tôi. Nhưng bây giờ ngay cả tiếng động cơ của xe ô-tô cũng không nghe thấy. Bây giờ tôi chỉ có thể đi tiếp xem thế nào thôi. Đúng vậy, đi tiếp xem thế nào.

Đường quốc lộ gập ghềnh lên xuống, những đỉnh dốc cao luôn dụ dỗ tôi, dụ dỗ tôi hộc tốc chạy lên để xem phía sau đó có quán trọ không. Nhưng lần nào cũng chỉ nhìn thấy lại một cái dốc cao khác, và ở giữa đó là một đoạn võng khiến người ta phải thất vọng. Mặc dù như vậy, nhưng tôi vẫn hết lần này đến lần khác chạy lên đỉnh dốc, lần nào cũng chạy thục mạng. Bây giờ tôi lại tiếp tục chạy lên một đỉnh dốc nữa. Lần này thì tôi đã nhìn thấy. Nhưng cái tôi nhìn thấy không phải là quán trọ, mà là một cái ô-tô. Cái xe đang đỗ lại ở hướng ngược chiều với tôi, nó đậu ở chỗ đoạn đường võng thấp xuống. Tôi trông thấy người tài xế đang chổng mông rõ cao, trên mông anh ta là ráng chiều. Tôi không nhìn thấy cái đầu của anh tài xế, đầu anh ta đang chúi vào trong đầu xe. Cái nắp capo xe, đang được dựng cao nghiêng nghiêng, trông giống như một cái miệng đang há hoác ra. Trên thùng xe chất một đống những sọt tre cao ngất. Tôi nghĩ, trong những sọt ấy nhất định là chứa đầy hoa quả. Tất nhiên, tốt nhất đó là chuối tiêu. Tôi nghĩ, trên cabin của anh ấy hẳn là cũng có, như vậy thì nếu tôi ngồi được vào đó là có thể lấy ăn được rồi. Có điều, chiếc xe đang chạy ngược tới chỗ tôi vừa đi khỏi, nhưng tôi đã không để ý đến phương hướng nữa rồi. Bây giờ tôi cần quán trọ, không có quán trọ thì cần xe ô-tô, mà ô-tô thì đang ở trước mặt.

Tôi hào hứng chạy tới, hướng về phía người tài xế cất tiếng chào: “Xin chào, anh hai!”

Người tài xế dường như không nghe thấy, vẫn lúi húi làm việc gì đó.

“Anh hai, hút thuốc!”

Khi ấy anh ta mới lấy hết sức, chui đầu ra khỏi capo xe, rồi vươn bàn tay đen xì xì lại, kẹp lấy điếu thuốc mà tôi đưa mời. Tôi vội vàng châm lửa cho anh ta, anh ta ngậm điếu thuốc trên môi, hít mấy hơi, rồi lại chui đầu vào trong sửa tiếp.

Thế là tôi có lí để yên lòng rồi. Chỉ cần anh ta nhận điếu thuốc của tôi, thì anh ta phải cho tôi lên xe. Tôi bèn đi lòng vòng quanh chiếc xe xem, đi lòng vòng là để trinh sát xem bên trong sọt đựng cái gì. Nhưng mắt tôi không nhìn ra được, bèn lại dùng mũi hít ngửi, mà nhận ra là mùi hương táo. Táo cũng không tệ, tôi nghĩ như thế.

 Không bao lâu thì anhta đã sửa xong xe, bèn đậy lắp capo nhảy xuống. Tôi vội vàng chạy lại nói: “Anh hai, em muốn xin nhờ xe.” Không ngờ, anh ta đưa bàn tay đen nhem nhẻm đẩy mạnh tôi một cái, thô bạo nói: “Cút đi!”

Tôi tức đến không nói được câu gì, còn anh ta thì thong thả mở cửa xe chui vào, rồi khởi động cho xe nổ máy. Tôi biết, nếu để lỡ cơ hội lần này thì sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tôi biết, bây giờ phải chơi tất tay rồi. Vì vậy bèn chạy ngay sang mé xe bên kia, cũng kéo mở cửa xe nhảy lên. Tôi đã sẵn sàng đánh nhau một trận với anhta trong buồng lái. Lúc chui vào xe, trước hết tôi quát vào mặt anh ta một câu: “Trên miệng anh vẫn còn ngậm điếu thuốc của tôi đấy!” Khi ấy, xe đã bắt đầu chuyển động.

Nhưng anh ta lại cười hì hì, quay sang nhìn tôi đầy vẻ hữu hảo, khiến tôi nghi hoặc không hiểu ra làm sao. Anh ta hỏi: “Cậu đi đâu?”

Tôi nói: “Đi đâu cũng được.”

Anh ta lại thân thiết hỏi, trong khi vẫn đang nhìn tôi: “Có muốn ăn táo không?” 

“Lại còn phải hỏi.”

“Ra đằng sau lấy đi.”

Anh ta lái xe nhanh như thế, tôi dám bò ra khỏi buồng lái ra thùng sau ư? Vì vậy tôi đành bảo: “Thôi vậy.”

Anh ta nói: “Đi lấy đi.” Mắt anh ta vẫn nhìn vào tôi.

Tôi nói: “Đừng nhìn nữa. Quốc lộ không ở trên mặt tôi đâu.”

Khi ấy anh ta mới quay đầu lại nhìn đường đi.

Ô-tô chạy về hướng mà tôi đã từ đó đi tới đây. Tôi thư thái ngồi trên ghế xe nhìn ra ngoài cửa sổ, cùng nói chuyện phiếm với anh tài xế. Bây giờ tôi với anh ta đã thành bạn bè rồi. Tôi đã biết anh ta làm vận tải cá thể. Chiếc xe ô-tô này là của chính anh ta, táo cũng là của anh ta. Tôi còn nghe thấy tiếng tiền kêu rổn rảng trong túi áo anh ta. Tôi hỏi: “Anh đang đi đâu?”

Anh ta đáp: “Cứ lái đi rồi xem thế nào.”

Câu nói ấy gần như giống y anh em của tôi nói, câu ấy mới thân mật làm sao. Tôi cảm thấy mình với anh ta càng gần gũi thêm một chút. Tất cả mọi thứ bên ngoài cửa xe có lẽ tôi đều quen thuộc cả, những ngọn núi kia, những đám mây kia đều khiến tôi liên tưởng tới một loạt những người quen thuộc khác, vậy là tôi lại gọi một loạt những biệt hiệu khác lên.

Bây giờ tôi căn bản không để ý gì đến quán trọ nào nữa, chiếc ô-tô này, anh tài xế này, cái ghế ngồi này khiến tôi thấy an tâm thuận lẽ. Tôi không biết cái xe phải đi đến chỗ nào, anh ta cũng không biết. Hơn nữa, trước mặt là nơi nào đối với chúng tôi mà nói cũng không có quan trọng cấp thiết gì. Chúng tôi chỉ cần cái xe còn lái được, thì sẽ lái về phía trước xem sao.

Nhưng ô-tô lại có sự cố. Lúc đó chúng tôi đã là bạn bè tốt đến không thể tốt hơn rồi. Tôi khoác tay lên vai anh ta, anh ta khoác tay lên vai tôi. Anh ta đang kể chuyện đương của mình cho tôi nghe, đúng lúc đang chuẩn bị nói đến cảm giác lần đầu ôm bạn gái thì cái xe sinh chuyện. Cái xe xảy ra sự cố khi đang lên dốc. Khi ấy nó đột nhiên chết máy, giống như con lợn chết vậy, bỗng dung không động đậy gì nữa. Anh tài xế lại bò lên đầu xe, lại lật cái “môi trên” ấy dựng hoác lên, lại chui đầu vào chữa. Tôi ngồi trên buồng lái. Tôi biết anh ta bây giờ lại đang chổng ngược mông lên trời, nhưng cái “môi trên” của cỗ xe đã chắn mất tầm nhìn của tôi, tôi không nhìn thấy cái mông anh ta. Nhưng tôi vẫn nghe được tiếng sửa xe của anh ấy.

Một lúc sau thì anh ta đã cất đầu lên, đậy lắp capo xuống. Lúc ấy, tay anh ta càng đen thêm. Bàn tay bẩn thỉu lau đi lau lại vào áo, rồi nhảy xuống đất đi lại.

“Sửa xong rồi?” – Tôi hỏi

“Toi rồi, không sửa được.” – Anh ta nói.

Tôi nghĩ, thôi xong. “Vậy làm thế nào?” – Tôi hỏi.

“Đợi xem sao thôi.” – Anh ta nói hững hờ.

Tôi vẫn ngồi trên xe, không biết nên làm thế nào. Bây giờ, tôi lại nghĩ đến chuyện quán trọ gì đó. Lúc này, mặt trời đã xuống núi rồi, ráng chiều bốc lên như những đám hơi nước. Quán trọ lại hiện lên trong đầu óc tôi như thế, hơn nữa mỗi lúc nó lại càng dần lớn hơn lên, chẳng bao lâu đã lèn chặt cả đầu óc tôi. Lúc này, trong đầu tôi không còn óc nữa, trong hộp sọ chứa khối óc đã mọc lên một cái quán trọ.

Người tài xế lúc này đang đứng giữa đường tập bài thể dục theo đài, anh ta làm từ động tác đầu tiên cho đến động tác cuối cùng vô cùng nghiêm túc. Tập thể dục xong, lại chạy bộ bước nhỏ quanh cái xe. Có lẽ anh ta cũng đã ngồi lỳ trong buồng lái lâu quá rồi, bây giờ anh ta cần rèn luyện thân thể một chút. Nhìn anh ta đang hoạt động ở bên ngoài, tôi cũng không thể ngồi yên trong xe được, bèn mở cửa xe nhảy xuống. Nhưng tôi không tập thể dục theo đài, cũng không chạy bộ. Tôi đang nghĩ về quán trọ và chỉ quán trọ.

Khi ấy tôi trông thấy từ trên dốc có năm người cưỡi xe đạp đi xuống. Trên gác-ba-ga phía sau mỗi chiếc xe đạp đều chở theo hai cái sọt rất to xỏ trên đòn tre. Tôi nghĩ, có lẽ họ là nông dân ở gần quanh đây, đi bán rau về. Trông thấy có người đi tới, trong lòng tôi vô cùng mừng rỡ, bèn bước lên trước đón gọi: “Chào các bác ạ!”

Năm người ấy, đạp xe đến trước mặt tôi bèn nhảy xuống. Tôi vui mừng bước lại, hỏi: “Gần đây có quán trọ nào không ạ?”

Họ không đáp lời, mà hỏi lại tôi: “Trên xe chở cái gì?”

Tôi nói: “Táo đấy!”

Năm người ấy đẩy xe đạp đi đến bên cạnh ô-tô, hai người trong bọn họ trèo lên trên xe, rồi vần ngay xuống mười sọt táo. Ba người ở dưới mở lắp sọt ra, rồi đổ táo vào sọt của họ. Tôi nhất thời không hiểu chuyện gì đang xảy ra nữa, cảnh tượng ấy khiến tôi há miệng tròn mắt. Đến khi hiểu ra, tôi bèn xông tới, mắng hỏi: “Các ông định làm gì vậy?”

Chẳng ai trong số họ thèm quan tâm đến tôi, cứ tiếp tục đổ táo. Tôi xông tới túm chặt lấy tay một người trong bọn họ, kêu to: “Có kẻ cướp táo này!” Khi ấy, một quả đấm đã táng ngay một cú trời giáng vào giữa mũi tôi, khiến tôi bắn ra xa mấy mét. Bò dậy rồi, vừa đưa tay sờ lên, thì cái mũi đã nhũn bét không phải là gắn vào mà chỉ là treo vào trên mặt tôi, máu tươi chảy tuôn tràn như những giọt nước mắt đau buồn. Nhưng khi tôi nhìn được rõ ràng gã đô con to khỏe vừa đánh mình ấy thì năm người bọn chúng đã nhảy lên xe đạp phóng đi rồi.


Anh tài xế lúc ấy vẫn đang chậm rãi tản bộ, miệng há ra hít thở những hơi dài, có lẽ vừa xong anh ta chạy đã mệt rồi. Dường như anh ta không hề biết một chút gì về việc vừa xảy ra. Tôi hướng về phía anh ta kêu lên: “Táo của anh bị cướp đi rồi!” Nhưng đại khái anh ta cũng không chú ý xem tôi đang kêu cái gì, vẫn chậm rãi tản bộ. Tôi rất muốn xông tới đấm cho anh ta một quả, để mũi anh ta cũng treo trên mặt như tôi. Tôi chạy lại quát to vào tai anh ta: “Táo của anh bị cướp đi rồi!” Khi ấy anh ta mới quay mình sang nhìn tôi. Tôi phát hiện ra anh ta càng lúc càng tỏ ra thích thú, tôi phát hiện ra anh ta đang nhìn vào mũi tôi.

Ngay khi ấy, trên dốc lại có rất nhiều người cưỡi xe đạp đi xuống, phía sau mỗi cái xe đều có hai cái sọt to, trong đám người đạp xe ấy có cả một số trẻ em. Họ hò nhau kéo tới như ong, lập tức vây lấy cái xe ô-tô. Một số người nhảy lên trên xe, những sọt táo được rầm rập hạ xuống, táo trong mấy cái sọt bị đánh rách chảy òa òa ra như máu trong mũi tôi vậy. Họ đều điên cuồng chất táo vào sọt của mình. Chỉ một loáng, tất cả số táo trên xe đã bị hạ xuống đất hết. Khi ấy, từ trên dốc lại có mấy cái xe công nông xoành xoành chạy xuống. Những cái công nông cũng dừng lại bên cạnh ô-tô. Một đám đàn ông nhảy xuống và bắt đầu chất táo lên công nông. Những cái sọt không lần lượt bị ném ra từng cái một. Bấy giờ, những quả táo đã lăn lóc khắp mặt đất, tất cả bọn họ đều như những con cóc ngồi xổm xuống nhặt táo.

Vào lúc đó, tôi dường như quên mất bản thân mình, hăng tiết nhảy xổ lại, lớn tiếng quát mắng: “Đồ kẻ cướp!”. Vậy là lại hàng loạt những cú đấm đá xông tới đón chào tôi. Tất cả mọi chỗ trên khắp toàn thân tôi,  tựa hồ cùng bị đánh một lúc. Lúc tôi gượng hết sức bò được dậy khỏi mặt đất, mấy đứa trẻ con lại cầm táo ném vào tôi. Những quả táo ném vào đầu tôi vỡ ra, nhưng đầu tôi thì không. Tôi đang định xông tới đánh lũ trẻ ấy thì một cái chân đã đá mạnh vào ngang hông tôi. Tôi chực kêu lên một tiếng, nhưng trong miệng không thốt ra được một âm thanh gì. Tôi ngã bệt xuống đất, không bò dậy nổi nữa, chỉ có thể nhìn bọn họ rối loạn tranh nhau cướp táo. Tôi bắt đầu đưa mắt tìm kiếm người tài xế ô-tô. Lúc này gã ta đang đứng mãi đằng xa nhìn về phía tôi ha hả cười lớn. Tôi liền biết ngay, bộ dạng mình lúc này chắc chắn còn hay ho hơn cái mũi khi nãy rồi.

Lúc ấy đến phẫn nộ tôi cũng không còn đủ sức nữa rồi. Tôi chỉ có thể đưa mắt nhìn xem tất cả những việc đã khiến mình tức giận đến cực độ như thế. Kẻ khiến tôi tức giận nhất chính là gã tài xế kia.

Từ trên dốc lại có một số xe công nông và xe đạp chạy xuống. Chúng cũng nhảy vào tham gia cuộc cướp bóc này. Tôi trông thấy táo trên mặt đất càng ngày càng ít, nhìn xem một số kẻ rời đi và một số kẻ kéo tới. Những kẻ đến muộn bắt đầu ra tay với cái xe ô-tô. Tôi nhìn thấy họ tháo cửa kính xe xuống, gỡ lốp xe ra, rồi lại dỡ hết cả những ván gỗ thùng xe. Sau khi lốp bánh xe bị tháo đi, cái xe ô-tô tỏ rõ dáng vẻ cúi đầu đau đớn đến thảm hại. Nó nằm xệp xuống mặt đất. Mấy đứa trẻ con thì đi nhặt những cái sọt không vừa bị vứt ra. Tôi thấy mặt đất càng ngày càng sạch sẽ, người cũng càng ngày càng ít đi. Nhưng khi ấy tôi chỉ có thể nhìn xem, bởi vì, ngay đến sức lực để mà phẫn nộ tôi cũng không còn nữa rồi. Tôi ngồi bệt trên mặt đất, không thể dậy nổi, tôi chỉ có thể dùng ánh mắt của mình quét qua quét lại.

Bây giờ thì bốn xung quanh đã trống không vắng ngắt, chỉ có một cái xe công nông còn dừng lại bên cạnh chiếc ô-tô đang nằm xệp trên mặt đất. Có một người đang đứng bên cạnh cái ô-tô nhìn nghiêng nhìn ngó, ý chừng muốn xem xem còn gì có thể lấy đi được không. Xem xét một hồi, bọn chúng mới lần lượt từng người một trèo lên xe công nông, nổ máy chạy đi.

Khi ấy, tôi đã trông thấy gã tài xế kia cũng nhảy lên trên công nông rời đi. Sau khi gã ngồi lên chỗ ghế ở đầu xe rồi, còn quay lại phía tôi cười vang ha hả. Tôi trông thấy trong tay gã ôm cái ba-lô màu đỏ của tôi. Gã đã cướp mất ba-lô của tôi đi rồi! Trong ba-lô có quần áo và tiền của tôi, lại còn đồ ăn và sách nữa. Nhưng gã đã cướp mất ba-lô của tôi đi rồi!

Tôi nhìn theo chiếc xe công nông đang leo lên dốc, rồi mất dạng, nhưng vẫn còn nghe thấy tiếng của nó, song chẳng bao lâu đến những âm thanh ấy cũng không còn nữa. Bốn xung quanh thoắt bỗng trở nên tĩnh lặng. Trời cũng bắt đầu ập tối xuống rồi. Tôi vẫn ngồi trên mặt đất. Khi ấy, vừa đói, vừa rét nhưng tôi chẳng còn gì cả.

Tôi ngồi ở đó rất lâu, rồi mới chậm chạp bò dậy được. Lúc bò trở dậy tôi đã rất khó khăn, bởi vì mỗi khi hơi động đậy một chút là toàn thân lại vô cùng đau đớn. Nhưng tôi vẫn đã bò dậy. Tôi tập tễnh dò từng bước lại bên cái xe. Bộ dạng cái ô-tô ấy thật vô cùng thảm hại, nó toàn thân thương tích nằm bẹp ở đó. Tôi biết, mình cũng khắp người thương tích như thế.

Màn đêm đã hoàn toàn tối đen, bốn xung quanh không có một cái gì. Chỉ có cỗ xe thương tích đầy mình, và tôi khắp người thương tích. Tôi vô cùng đau buồn nhìn chiếc ô-tô, cái xe cũng vô cùng đau buồn nhìn tôi. Tôi vươn cánh tay ra vỗ về nó. Toàn thân nó lạnh ngắt. Trời khi ấy bắt đầu nổi gió. Gió rất to. Tiếng cây lá trên núi lay động nghe tựa tiếng sóng biển. Âm thanh ấy khiến tôi sợ hãi, khiến tôi cũng giống như cỗ xe: toàn thân lạnh ngắt.

Tôi mở cửa xe, chui vào bên trong. Ghế xe không bị bọn chúng lấy đi, điều ấy khiến tôi cảm thấy được an ủi trong lòng một chút. Tôi nằm xuống trong buồng lái. Tôi ngửi thấy mùi dầu chảy thoảng tới. Cái mùi ấy giống như mùi máu từ trong người tôi chảy ra. Bên ngoài, gió càng ngày càng to, nhưng nằm trên ghế xe tôi bắt đầu cảm thấy đã hơi ấm áp. Tôi biết, sâu trong đáy lòng mình cũng rất ấm áp. Tôi cứ luôn luôn tìm kiếm quán trọ, không ngờ rằng quán trọ mi rốt cuộc lại ở đây.

Tôi nằm trong trái tim của chiếc ô-tô, nhớ đến một buổi trưa trời trong nắng ấm vô cùng, ánh mặt trời khi đó thật đẹp. Tôi còn nhớ mình đã thích thú chơi nghịch ở bên ngoài suốt nửa ngày, sau đó mới về nhà. Từ ngoài cửa sổ tôi trông thấy bố đang sửa soạn một cái ba-lô màu đỏ trong phòng. Tôi bám lên cửa sổ hỏi: “Bố, bố định đi đâu à?”

Bố tôi quay người lại, ôn tồn bảo: “Không, đây là để cho con đi ra ngoài.”

“Cho con đi ra ngoài?”

“Phải, con đã mười tám tuổi rồi, con nên đi để hiểu biết một chút về thế giới bên ngoài rồi.”

Sau đó tôi bèn khoác ba-lô màu đỏ đẹp đẽ ấy lên vai. Bố vỗ vỗ nhẹ vào sau gáy tôi, tựa như vỗ vỗ vào mông ngựa. Thế là tôi thích thú chạy vụt ra khỏi cửa, giống như một con ngựa tràn đầy hưng phấn phóng đi một cách sung sướng.

Bắc Kinh, 16-11-1986

                                                                                            (Châu Hải Đường dịch)

  (Đăng trên TC Văn nghệ Quân đội số 977, Tháng 11/2021)




Dư Hoa, sinh ngày 03 tháng Tư năm 1960, tại Hàng Châu, Triết Giang. Sau truyện ngắn đầu tay “Ký túc xá đầu tiên” được in năm 1983, năm 1987 Dư Hoa tiếp tục phát biểu các truyện ngắn khác của mình như: “Tuổi 18 rời nhà đi xa”, “Sự kiện mồng 3 tháng Tư”, “Năm 1986” và đã xác lập địa vị là một nhà văn Tiên phong của mình. Cùng năm, ông đến tu học tại Viện văn học Lỗ Tấn – Bắc Kinh. Năm 1990, Dư Hoa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên “Gào thét trong mưa bụi”. Năm 1992, xuất bản tiểu thuyết “Phải sống”, năm 1995 sáng tác tiểu thuyết “Hứa Tam Quan bán máu” và đăng trên tạp chí “Thu hoạch”. Năm 1998, với tiểu thuyết “Phải sống” Dư Hoa đã giành giải thưởng cao nhất về văn học của Italia: Giải Grinzane Cavour.

Năm 2003, bản dịch Anh văn tiểu thuyết “Hứa Tam Quan bán máu” đã giành giải phát hiện mới của Barnes & Noble ở Mỹ. Năm 2004 Dư Hoa được trao Huân chương Hiệp sĩ về Văn học và Nghệ thuật của Pháp. Năm 2005, 2006 ông lần lượt xuất bản hai phần của tiểu thuyết “Huynh đệ”, cuốn sách từng gây tranh cãi ở Trung Quốc vì viết theo chủ nghĩa hiện thực cực đoan. Tám năm sau khi xuất bản tiểu thuyết “Ngày thứ bảy” (năm 2013), năm 2021 này ông mới tiếp tục xuất bản tiểu thuyết mới nhất “Văn thành”, sau một số tập tạp văn in rải rác trong thời gian 2015 – 2018.

Các tác phẩm của Dư Hoa như “Phải sống”, “Hứa Tam Quan bán máu”, hay “Huynh đệ” … đều đã được xuất bản ở Việt Nam. Truyện ngắn “Tuổi 18 rời nhà đi xa” là một trong những truyện ngắn được sáng tác từ sớm của Dư Hoa, và đã góp phần xác định vị trí của ông trong dòng văn học Tiên phong của Trung Quốc. 


Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

Bài thơ Tự thuật tuổi 40 của Đường Dần (Minh)

 

Họa gia nổi tiếng đời Minh - Đường Dần, có bài thơ như sau:

魚羹稻衲好終身
彈指流年到四旬
善亦懶為何況惡
富非所望不憂貧
僧房一局金縢着
野店三杯石凍春
自恨不才還自慶
半生無事太平人

Ngư canh đạo nạp hảo chung thân;

Đàn chỉ lưu niên đáo tứ tuần.

Thiện diệc lãn vi hà huống ác;

Phú phi sở vọng bất ưu bần.

Tăng phòng nhất cục Kim Đằng Trước[1];

Dã điếm tam bôi Thạch Đống Xuân[2].

Tự hận bất tài hoàn tự khánh;

Bán sinh vô sự thái bình nhân.

Tạm dịch:

Áo tăng canh cá trọn đời vui;

Chớp mắt nay đà tứ thập rồi.

Giàu đã không mong, nghèo chẳng sợ;

Thiện làm còn ngại, ác sao đòi.

Kim Đằng một cuộc buồng sư đọ;

Thạch Đống ba ly quán vắng ngồi.

Tự hận bất tài còn tự chúc;

Thái bình vô sự nửa đời người.

Đây vốn là một bài thơ đề tranh của Đường Dần, nên không có tiêu đề.  Sau bài thơ chỉ có lạc khoản: “吴趨唐寅自述不惑之齒於桃花庵,畫並書” (Ngô Xu Đường Dần tự thuật Bất hoặc chi xỉ, ư Đào Hoa Am, họa tịnh thư) – Đường Dần người đất Ngô tự thuật vào tuổi Bất hoặc, ở Đào Hoa Am, vẽ và đề chữ) nên có chỗ thì đặt tên bài thơ là “Tự thuật”, có chỗ thì gọi là “Tứ thập tự thọ”, còn bức tranh thì cũng có chỗ gọi là “Tứ thập tự thọ đồ”.

(Bài thơ trên tranh)


Về sau, Đường Dần có chép lại bài thơ trên tranh cùng một số bài thơ khác của mình và tặng cho người bạn là Tây Châu, có lạc khoản đại khái nói: Sau gần 30 năm chia biệt Tây Châu, ngẫu nhiên gặp lại nên chép mấy bài thơ vụng xin thỉnh giáo, trong khi đang bệnh nên chẳng có giai hứng gì, láo nháo vài ý mà thôi. (bản “Tặng Tây Châu thi quyển” của Đường Dần hiện lưu giữ ở Bảo tàng Thượng Hải).

(Bài thơ Đường Dần chép trong "Tặng Tây Châu thi quyển")

(Dọn máy tính đôi khi tìm lại được những ghi chép, dịch thuật vặt vãnh, nhưng cũng hay hay. Đây là một ví dụ. Thực ra mình cũng quên là đã từng dịch bài thơ này của Đường Bá Hổ, có lẽ đã dịch chơi khi ở vào tuổi Bất Hoặc như ông ấy chăng?) 

C.H.Đ

[1] Kim Đằng Trước, tức Kim Đằng Thất Trước, tên bản Kỳ phổ. Đây chỉ chơi cờ.

[2] Thạch Đống Xuân: tên một loại rượu ngon.

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

MUA VỢ (Nguyên tác: Mễ Hương Lão)

Khoảng niên hiệu Khang Hy, tổng binh Vương Phụ Thần làm phản. Phàm những nơi đi qua đều thả sức cướp bóc. Bắt được đàn bà con gái, không cần biết tuổi tác già trẻ thế nào, dung mạo xấu đẹp ra sao, đều bỏ vào trong túi vải, sau đó ra giá bốn lạng bạc một túi, cho người ta tùy ý chọn mua. Mễ Hương Lão ở huyện Tam Nguyên (nay thuộc Thiểm Tây), tuổi đã hai mươi, vẫn chưa lấy vợ. Bèn một mình mang theo năm lạng bạc đến quân doanh, đem một lạng ra biếu cho người quản sự, hy vọng có thể mua được một mỹ nhân. Người quản sự dẫn chàng vào trong doanh, bảo chàng tự mình chọn lấy. Mễ Hương Lão sờ nắn từng cái túi một, chọn trúng một cái túi sờ thấy eo thon chân nhỏ, bèn vác luôn về. Đến một chỗ quán trọ, mở túi ra xem, thì hóa ra là một bà già, mặt đầy nếp nhăn, tuổi đã gần bảy chục rồi. Mễ Hương Lão hối hận vô cùng, lặng lẽ ngồi trên giường, mặt xám như tro lạnh. Lúc lâu, có một ông già đầu râu tóc bạc, cưỡi trên lưng một con lừa đen, chở theo một người con gái xinh đẹp cũng vào trọ. Ông lão đỡ cô gái xuống, buộc lừa vào tàu, rồi vào trọ trong gian nhà ở mé tây căn buồng của Mễ. Mễ và ông già cùng chắp tay chào nhau, ai nấy hỏi thăm danh tính làng xóm. Ông lão tự nói mình họ Lưu, người ở Hà Mô Oa, tuổi đã sáu mươi bảy. Hôm qua đem bốn lạng bạc mua được một túi người, không ngờ là tuổi tác trẻ quá, lại may là dung mạo cũng xinh đẹp, về nhà có nàng dẫu ở trong căn nhà rách, cũng đủ để vui tuổi già. Mễ Hương Lão nghe xong, lòng như lửa đốt, tiếc nuối muôn phần. Ông già Lưu thì vô cùng đắc ý, kéo Mễ ra phố uống rượu. Mễ nghĩ mượn chén rượu của người để vơi bớt phiền lão của mình, cũng là rất phải, bèn theo ông lão đi ra.

Bà già đợi bọn họ đi xa rồi, chậm rãi bước sang phòng bên tây, vén rèm đi vào. Thấy cô gái đang lấy tay áo che mặt mà khóc. Trông thấy bà già, nàng mới đứng dậy chỉnh đốn y phục chào hỏi, đôi mắt đẹp ngân ngấn lệ, trông dung nhan như hoa đào dầm mưa. Bà già hỏi cô vì sao mà khóc, cô gái đáp: “Tiểu nữ là người huyện Bình Lương, Cam Túc, họ Cát, tuổi mới mười bảy. Cha mẹ anh em đều bị bọn phản tặc sát hại, chỉ có tiểu nữ bị chúng cướp đi, định cưỡng bức dâm ô, tiểu nữ khóc lóc chửi rủa, đám giặc tức giận, cho nên mới đem tiểu nữ bán cho ông già kia. Nghĩ lại chẳng bằng chết đi cho rồi, cho nên mới buồn mà khóc.” Bà già than thở nói: “Đúng là trẻ tạo hóa làm chúng sinh rối loạn, khiến người ta thực không thể nghĩ bàn. Lão đây già rồi mà chẳng chết đi, để gặp phải cảnh loạn ly thế này, lại còn không đâu bị một tên tiểu tử mua phải, trong lòng còn gì đáng buồn hơn thế? Vừa nãy trông thấy ông lão già nhà cô, già nua lọm khọm, tuổi tác cũng ngang tầm như lão đây. Huống chi, hai người chồng già vợ trẻ, chưa hẳn đã xứng đôi. Bọn họ một người vui mừng, một người sầu muộn, chưa uống say thì chưa về đâu. Hai người chúng ta, làm sao không lấy mận thay đào, đổi chỗ mà ngủ. Đợi đến canh năm ngày mai, cô và chàng thiếu niên nhà tôi dậy sớm đi nhanh. Cứ mặc tôi với lão già kia cùng sống chết với nhau. Cô không cần phải đau buồn nữa!” Cô gái còn do dự không chịu bằng lòng ngay. Bà già lại nghiêm giọng nói: “Đó chính như người ta nói, đôi bên mua bán đều vừa ý rồi, thì ai đi đường nấy, ấy là cách nhất cử lưỡng tiện vậy. Cô mau rời khỏi đây đi, để đến tối thì chuyện này không xong được nữa rồi!” hai người bèn cởi y phục đổi cho nhau. Cô gái bái tạ bà già, bà già dẫn cô vào phòng của Mễ Hương Lão, lấy chăn đắp lên người cẩn thận, rồi dặn dò cô không được nói năng gì. Còn mình thì sau đó lại về đến buồng phía tây, trùm chăn kín mà ngủ.



Quá canh hai, ông lão và Mễ đều say túy lúy trở về, vì đi đường vất vả, nên cũng ai về buồng nấy mà ngủ. Sau canh ba, Mễ đang mơ màng, chợt nghe thấy có tiếng gõ cửa, dậy khoác áo ra xem, thì hóa ra là bà già. Mễ Hương Lão kinh ngạc hỏi: “Bà đi đâu thế?” Bà già cắt ngang lời Mễ, bảo chàng chớ nói gì nữa, rồi vội vàng vào buồng, đóng chặt cửa lại, đem tình thực nói cho chàng biết. Mễ vừa mừng vừa sợ, nói: “Tuy rằng được bà bỏ công sắp đặt, nhưng hại người lợi mình làm sao mà được?” Bà già cười nhạo bảo: “Vậy là cậu không nghe lời lão đây, muốn vứt bỏ một tiểu nương tử, mà lại làm hại một kẻ già cả! Với người có chỗ nào tốt, mà với mình thì không hại gì ư?” Mễ cho rằng bà già nói cũng phải. Bà già bèn vén chăn, giục cô gái dậy, lại dặn đi dặn lại bọn họ. Mễ Hương Lão và cô gái khóc mà bái tạ bà già. Bà ngăn lại, nhủ bảo: “Đi sớm đi, e là ông lão kia sẽ dậy sớm đấy, lão tôi xin được bái biệt từ đây.” Rồi lập tức ra khỏi cửa đi. Mễ vội vàng thu thập hành lý, cô gái lấy tấm khăn lụa xanh che mặt, Mễ dìu nàng ra khỏi quán trọ. Chủ quán trông thấy nói: “Hai người sao đi sớm thế?” Mễ tiện miệng đáp: “Đi sớm một chút, cho khỏi nắng.” Rồi hai người cùng trốn chạy đi.

Hôm sau, ông lão trông thấy bà già thì vô cùng kinh ngạc. Hỏi rõ duyên do rồi, ông ta vô cùng tức giận, vung nắm đấm đánh bà già. Không ngờ bà già tuổi cao mà còn mạnh khỏe, cũng vung tay đánh lại, không chịu nhún chút nào. Tất cả mọi người trong quán trọ đều vây lấy xem, đứng chật như tường. Ông lão phẫn uất kể lại nỗi oan uổng của mình, muốn cưỡi lừa chạy đuổi theo họ. Ai nghe thấy cũng buồn cười. Chủ quán khuyên bảo: “Hắn đã dắt được thiếu nữ mà trốn đi, làm sao lại còn đi đường lớn cho ông truy đuổi nữa? Huống chi từ canh tư họ đã đi, đến giờ cũng phải đi được mấy chục dặm đường rồi. Người ta sợ nhất là không sáng suốt tự biết mình, nếu như có thể biết an phận giữ mình, thì hãy dẫn theo bà già kia về nhà. Vợ chồng già cùng sống với nhau, chớ có nghĩ rằng thế là không xứng.” Ông lão đứng lặng hồi lâu, dần nguôi cơn giận, ngẫm nghĩ lại câu nói của chủ quán, cảm thấy rất có lý, bèn dẫn theo bà già lên đường. Đến giờ, người khắp một vùng Thiểm Tây, Cam Túc vẫn còn nhớ rõ chuyện này.

(Trích "Dạ Đàm Tùy Lục" - Hòa Bang Ngạch)

Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

ĐÔI ĐIỀU VỀ TRUYỆN CỰC NGẮN - Uông Tăng Kỳ


Truyện cực ngắn (hay Truyện ngắn mini) vốn vẫn có từ xưa. Nước ngoài cũng có. Nhưng ở Trung Quốc mấy năm gần đây truyện cực ngắn đặc biệt phổ biến, diện độc giả cũng rất rộng, vì vậy truyện cực ngắn lại trở thành một hiện tượng mới đáng chú ý, và truyện cực ngắn trên thực tế cũng hình thành một khái niệm mới. Truyện cực ngắn là gì? Khái niệm này bao gồm những nội dung gì? Tìm hiểu một chút về vấn đề này sẽ giúp ích cho sự phát triển trong sáng tác truyện cực ngắn.

Truyện cực ngắn thịnh hành, không chỉ là vì tiết tấu khẩn trương của cuộc sống hiện nay, khiến cuộc sống trở nên gấp gáp, thiếu thời gian rảnh rỗi. Nếu đúng như thế thì những tiểu thuyết dài ắt hẳn sẽ không có ai đọc nữa. Nguyên nhân quan trọng hơn chính là yêu cầu của độc giả đối với hình thức của tiểu thuyết ngày càng nhiều hơn. Họ đòi hỏi có những sản phẩm mới, hình thức mới, hương vị mới. Thừa nhận điểm này, thì truyện cực ngắn mới có thể thực sự chiếm được một chỗ ngồi trong bàn tiệc văn học, tác giả của truyện cực ngắn mới có thể có những tìm kiếm đặc biệt riêng có của mình.

(Nhà văn Uông Tăng Kỳ)

Truyện cực ngắn không phải chỉ là một câu chuyện ngắn. “Ngắn” không phải là đặc trưng bên ngoài duy nhất của nó. Truyện cực ngắn vẫn có thể được coi là một nhánh của truyện ngắn, nhưng nó lại đứng bên lề của truyện ngắn. Truyện cực ngắn nên có đầy đủ những tính chất bình thường của truyện ngắn. Truyện cực ngắn và truyện ngắn xét về bản chất vừa tương cận lại vừa có những khác biệt. Nói một cách đại thể: trong truyện ngắn có nhiều thành phần tản văn hơn, còn trong truyện cực ngắn thì nên có nhiều thành phần thơ hơn. Truyện cực ngắn là một sản phẩm kết hợp hòa trộn giữa truyện ngắn và thơ. Nó không có sự hoành tráng của thơ tự sự, cũng không có tính âm nhạc mạnh mẽ như thơ trữ tình. Có thể nói, nó là một sản phẩm được viết bằng tản văn, mờ ảo hơn so với thơ tự sự, và có tính tình tiết hơn thơ trữ tình. Nó lại không phải là thơ tản văn, bởi vì rốt cuộc nó vẫn là một truyện ngắn. Truyện cực ngắn có “bốn cái không giống” ấy, vì vậy nó mới có ý nghĩa, mới “hay ho”, mới khiến người ta thích thú.    

Truyện cực ngắn thì phải “ngắn”. Ngắn thì là ngắn thôi: từ ngoài vào trong đều ngắn. “Trong nhỏ thấy lớn” là câu cửa miệng của những nhà bình luận, nhưng những ai có một chút kinh nghiệm sáng tác truyện cực ngắn thì đều biết, trên thực tế điều đó không thể làm nổi. Ai cũng không thể thực sự từ một giọt nước mà nhìn ra biển lớn được. Hình thế lớn, vấn đề lớn, đề tài lớn đều là những cái mà truyện cực ngắn không thể dung nạp được. Yêu cầu truyện cực ngắn phải có cảm súc lịch sử to lớn dày nặng, khái quát cả một thời đại, thì không khác nào ép một con lừa đi kéo một đoàn tàu hỏa cả. Điều mà tác giả truyện cực ngắn phát hiện, suy nghĩ, thể hiện chỉ có thể là một phiến đoạn, một mảnh ghép nho nhỏ trong cuộc sống. Mảnh ghép ấy người khác chưa từng thể hiện qua, chưa từng suy nghĩ đến, chưa từng phát hiện ra. Quan trọng nhất là phát hiện. Phát hiện tất nhiên là đi cùng với suy nghĩ, cùng với đó cũng sẽ khá dễ dàng tìm thấy một hình thức biểu hiện thích hợp một cách tự nhiên. Văn học vốn đều là sự phát hiện. Nhưng, tác giả truyện cực ngắn càng cần phải có “mắt nhìn” hơn, bởi những điều thu hút sự chú ý của tác giả truyện cực ngắn thường là những chuyện nhỏ mà người bình thường dễ dàng bỏ qua. Chuyện nhỏ ấy phải là nguyên liệu tự nhiên cho một truyện cực ngắn. Một nguyên liệu như vậy, không phải cứ cúi xuống nhặt mà được, tiện tay vơ là có thể vơ được. Có được nguyên liệu cho một truyện cực ngắn thường là việc mang tính ngẫu nhiên, thiên duyên kỳ ngộ, chẳng hẹn mà gặp. Hơn nữa, thường thường phải lưu giữ một thời gian, tác giả mới có thể hiểu ra được ý nghĩa của chuyện nhỏ ấy một cách đại khái. Viết truyện cực ngắn quả thực cần phải có một chút “thiền cơ”.

Truyện cực ngắn không có nhiều khả năng có tư tưởng gì quá sâu sắc, và cũng không nên có tư tưởng sâu sắc gì. Truyện cực ngắn có thể có một chút triết lý, nhưng không thể tiến hành một tư biện triết học nghiêm túc gì trong đó (truyện vừa, và trường thiên tiểu thuyết thì có thể). Đặc điểm của truyện cực ngắn là tư tưởng sáng rõ. Nửa mẫu mặt hồ, một vụng nước khe, nông mà chẳng lộ. Truyện cực ngắn nên phải có tính mờ ảo ở một trình độ nhất định. Mờ ảo không phải là thủ pháp, mà chính là tư tưởng của tác giả vốn không phải là quá rõ ràng. Có một chút ý tứ như vậy, nhưng hoàn toàn không hề thấu triệt. “Trong đây có chân ý; Muốn nói đã quên lời” (Câu thơ của Đào Uyên Minh – N.D). Trên thế giới không có một ai thực sự hiểu rõ một cách triệt để và toàn diện về thế giới cả, mà họ chỉ có thể hiểu về phần thế giới mà họ cảm biết được. Hemingway nói, những tiểu thuyết gia thế kỷ 19 tự coi mình là thượng đế, họ cái gì cũng biết. Balzac thì cho là cái gì ông cũng biết, độc giả chỉ cần nghe ông nói. Vì vậy, độc giả liền trở thành một kẻ thật thà nghe thế nào thì biết như thế, còn bản thân ông ấy thì đã nói rất nhiều cái mà kỳ thực ông cũng không biết. Cái gọi là hàm súc, hoàn toàn không phải là tác giả biết rất nhiều điều, nhưng cố ý không nói nhiều, mà chỉ là anh ta không nói những điều mà mình còn chưa biết. Tác giả truyện cực ngắn phải thực sự thành khẩn thể hiện cho độc giả biết rằng: về câu chuyện nhỏ này, ý nghĩa của nó, đến nay tôi vẫn mới chỉ có thể nghĩ được đến mức độ này thôi. Một thiên truyện cực ngắn được viết ra, thì quá trình sáng tác vẫn còn chưa kết thúc. Tác giả vẫn còn có thể suy nghĩ tiếp, độc giả cũng sẵn lòng cùng tác giả tiếp tục suy nghĩ. Như vậy, độc giả mới có thể vừa có được khoái cảm thưởng thức, vừa có được khoái cảm của suy tưởng. Tìm tòi, là vẫn còn chưa đạt được. Tìm tòi là việc của tác giả, cũng là việc của độc giả. Truyện cực ngắn không cần nhiều nhiệt tình quá, thậm chí không cần nhiệt tình. Hô hào, hò hét, hoa tay múa chân, sẽ khiến độc giả chán ngấy. Tác giả truyện cực ngắn trước mảnh ghép cuộc sống mà anh ta phát hiện, tốt nhất hãy vượt lên trên một chút, giữ một thái độ khách quan, hết sức để không thể hiện lên tiếng bày tỏ riêng gì. Truyện cực ngắn luôn có thái độ của nó, nhưng phải hết sức thu gọn. Có thể thể hiện sự mến mộ đối với một người, nhưng không thể khoa trương thành một đóa hoa; Có thể châm biếm đối với một sự việc, nhưng không sâu cay. Điều mà một tác giả truyện cực ngắn cần là: thông minh, an tĩnh, thân thiết.

(Thư pháp Uông Tăng Kỳ)

Truyện cực ngắn là một dây hoa anh đào, là một cành bạch lan đượm sương, bản sắc thiên nhiên, đầy đặn hoàn mỹ. Truyện cực ngắn không phải là một cái bánh lương khô ép nhỏ, không phải rau sấy khô, không thể đem một truyện ngắn vắt khô hết nước đi, ép chặt lại trong khuôn khổ nhỏ nhoi, để biến thành một thiên truyện cực ngắn. Tất nhiên, cũng chẳng có ai đi làm một việc ngốc nghếch không ai nghĩ đến ấy. Truyện cực ngắn không thể viết một cách quá khô khan, quá bó chặt, quá chật hẹp. Càng trong một khuôn khổ có hạn, càng cần phải ung dung thoải mái. Truyện cực ngắn tự thành một kiểu, với kỹ năng riêng. Truyện cực ngắn giống như một bức tranh khổ nhỏ hình vuông, hình quạt, hay sách gấp. Cách vẽ bức tranh với khuôn khổ như thế, khác hẳn với cách vẽ một bức tranh lớn hay cuộn dài. Bố cục,  dùng mực, bố trí màu sắc cũng hoàn toàn khác nhau. Một bức tranh sơn thủy hoành tráng rất khó thu nhỏ lại vẽ vào một bức tranh nhỏ. Đời Tống từng có vẽ những khung cảnh lớn như tranh đua thuyền rồng – “Long chu cạnh độ đồ”, tranh núi non lầu gác – “Tiên sơn lâu các đồ” vào những chiếc quạt lụa, dụng bút tuy cực kỳ tinh tế kỹ thuật, nhưng nhất định phải để lại những khoảng trống lớn, chứ không thể vẽ chen chúc đầy kín vào đó được. Khoảng trống, là đặc điểm của truyện cực ngắn. Có thể nói, truyện cực ngắn là nghệ thuật của khoảng trống. Trung Quốc họa coi trọng việc cân đối giữa hình vẽ và khoảng trống. Bao Thế Thần (Nhà thư pháp đời Thanh – N.D) luận về thư pháp, lại cho rằng nên làm sao để “trên dưới tả hữu mỗi chữ đều có chữ”. Vì vậy, chú ý đến việc “để trống”, thì không gian của truyện cực ngắn sẽ vô cùng rộng rãi dư thừa. Cái gọi là “để trống”, nói một cách giản dị chính là viết ít. Truyện cực ngắn không phải là cắt bỏ bớt mà thành. Một câu truyện mà cắt bỏ quá tàn nhẫn thì có thể nhìn ra được ngay, thường nó sẽ không thuận, không hài hòa, không “tròn”. Nên ngay trong lúc viết khống chế ngòi bút của mình, mỗi khi viết một câu đều phải suy nghĩ xem: câu này có thể không cần viết hay không? Hết sức viết ít, để những gì viết ra đều là những cái cần phải viết, một câu là một câu. Những cái không viết ra cũng vẫn có mặt, có ở “trên dưới tả hữu” của mỗi một câu. Như thế mới có thể đạt đến việc mỗi câu có dư vị, mỗi truyện có dư ý.       

Những bức tranh nhỏ thì càng cần phải chú ý “bút mặc tình thú”. Còn truyện cực ngắn thì cần phải chọn lựa ngôn ngữ. Người xưa luận về thơ rằng: “Thơ thất ngôn tuyệt cú như hai mươi tám hiền nhân, lẫn một kẻ đồ tể, hàng rượu vào là không thể được.” Viết truyện cực ngắn cũng nên như vậy. Truyện cực ngắn tốt nhất chớ để có khí vị của bình sách, của tấu hài, chớ nên dùng lối văn chương nhờn nhã, nửa sống nửa chín. Truyện cực ngắn nên có cảm xúc hóm hỉnh, nhưng không phải là văn chương bỡn cợt. Truyện cực ngắn không nên dùng những câu hiểm hóc kỳ quái, như người đời Tống nói là “lời khù khoằm”. Ngôn ngữ của truyện cực ngắn phải giản dị, bình đạm, nhưng có vận vị.

Dẫu không thể hoàn hảo, song lòng phải luôn hướng tới vậy.

Châu Hải Đường dịch

(Bài trên báo Văn Nghệ số 43, 23/10/2021)


Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

KẺ ĐÒI NỢ - (Tàn Tuyết)

 Cuối cùng tôi cũng tống được con mèo của mình ra khỏi nhà. Tôi nghĩ từ nay có thể bắt đầu cuộc sống mới rồi. Tôi ngồi trước bàn nhắm mắt suy tư, muốn sắp xếp lại một chút những suy nghĩ đang rối như tơ vò trong đầu mình. Nhưng tôi đã tính toán nhầm, nó đã quay về rồi và đang không ngừng cất lên những tiếng kêu gào đáng sợ. Tiếng kêu ấy chẳng những không có một chút ý vị cầu xin gì, mà ngược lại đầy oán hờn, thù hận đến mức uy hiếp. Nó còn lấy móng cào, dùng răng gặm vào cánh cửa nhà của tôi. Hết cắn một hồi, nó lại kêu gào một hồi, khiến tôi chợt không lạnh mà run, nghĩ bụng: nếu như tôi để cho nó vào nhà, không chừng nó sẽ thừa lúc tôi không đề phòng mà cắn chết tôi mất.

Đó là một ngày đông lạnh giá, khi tôi nhìn thấy con mèo trong rãnh nước thải trước cửa nhà: một con mèo nhỏ bé, bộ lông màu nâu vàng trên có hai đám trắng, trong mắt ngân ngấn lệ, toàn thân run lên bần bật. Nó còn nhỏ như vậy, có lẽ cũng không hiểu vì sao mẹ nó lại bỏ rơi nó, không hiểu vì sao thế giới này không có chỗ cho nó dung thân, nhưng cũng rất có thể là nó đã làm ra bộ dạng đáng thương ấy để tôi phải thu nhận cho nó ở lại. Khi ấy, tôi cảm thấy có một sự xúc động khó nói nên lời, tựa như muốn thực hiện một điều mới lạ, lại tựa như muốn chống lại những quy tắc sống trước nay của mình. Tôi đã giữ nó ở lại, bế nó vào nhà để xuống bên lò sưởi, lấy sữa, bánh quy và súp cá cho nó ăn. Nó ăn rất nhanh, với một điệu bộ bặm trợn hùng hổ, ăn xong lại còn đạp chân đổ cả bát và đĩa, sau đó đi một vòng khắp quanh nhà, rồi chạy lại ôm chặt lấy chân tôi tiếp tục đòi ăn. Tôi cho nó ăn một miếng thịt, nó ăn hết lại đòi tiếp, như vậy lặp đi lặp lại bốn năm lần, bụng nó đã căng tròn như cái trống rồi mới thôi. Khi ấy tôi muốn giỡn chơi với nó một chút, nên lại vê một nắm giấy, lấy dây treo lên, nhử nhử qua lại trước mặt nó, có ý muốn làm thân với nó. Nhưng nó lạnh lùng đưa mắt nhìn tôi một cái, rồi uể oải đi ra chỗ khác, nhảy vào trong chiếc thùng gỗ đựng giấy loại không ra nữa, một lát sau thì nó ngủ. 

Thời gian trôi đi, ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, ngày nào tôi cũng cho nó ăn những thức ăn ngon, kiên trì lấy lòng nó không biết mệt mỏi. Kết quả của việc ấy là nó mỗi ngày một thêm to béo, bộ lông cũng ngày càng bóng mượt, lượng thức ăn cũng mỗi ngày một nhiều hơn. Nhưng đối với tôi, nó vẫn không hề tỏ ra thân thiết gần gũi một chút nào cả, vẫn cứ làm theo như những gì nó vốn đã làm, đói thì kêu đòi ăn, lấy cho nó chậm một chút là nó liền ôm lấy chân tôi mà cắn, may mà nó cắn cũng không mạnh lắm, chỉ để lại hai dấu răng mà thôi. Bình thường nó chỉ thi thoảng dạo mấy bước trong phòng, mi mắt hơi cụp xuống, ngốc nghếch nặng nề, dáng vẻ lười nhác chẳng thèm quan tâm tới những gì xung quanh, tựa như đang ở nhờ trong nhà của người khác vậy, còn phần lớn thời gian thì nó ngủ lì ở trong chiếc thùng gỗ.

Một hôm, tự nhiên tôi cảm thấy có vẻ thời cơ đã chín muồi rồi, bèn nảy ra một ý tưởng khác thường, muốn cho nó ngủ trên giường của tôi, định dùng cách ấy khiến nó cảm động, để quan hệ giữa tôi và nó phát triển theo hướng thân thiết hơn. Lúc tôi bế nó lên giường, nó chẳng đồng tình chút nào, ra sức chống cự, cào rách cả tay tôi chảy máu đầm đìa, tôi vừa buông tay ra, nó liền nhanh như trộm lủi mất, trốn dưới gầm giường, hai mắt lóe ánh hàn quang, miệng phát ra những âm thanh đe dọa nghe không rõ ràng. Tôi tức giận điên tiết, lấy cái chổi lông gà định đuổi nó ra, nhưng nó bỗng trở nên hành động vô cùng mau lẹ, thoắt cái đã nhảy lên đầu cái tủ đứng, thoắt cái lại chui xuống dưới gầm bàn viết, rồi không chịu ra nữa. Tôi toát dã mồ hôi, trong bụng than thầm: Cuối cùng con súc sinh ấy cũng vẫn có chút cảm tình với căn nhà này. Nghĩ như vậy rồi thì cũng thấy bớt giận đi nhiều. Không ngờ đúng lúc ấy, thì nó đã nhảy lên trên vai, cào mạnh một nhát vào má tôi, làm thành hai vệt rách tứa máu, rồi lại trốn vào dưới gầm giường. Tôi giật mình kinh hãi, ngồi bệt xuống giường , như một quả bóng da bị xì hết hơi. Tôi nghĩ kỹ trước sau, tựa hồ hiểu ra điều gì, lại tựa hồ chẳng hiểu gì cả. Cuối cùng, tôi vứt cái chổi lông gà đi, vờ như đã quên hết những chuyện này.

Bề ngoài tôi không chú ý gì đến con mèo nữa, hàng ngày chỉ lặng lẽ làm công việc của mình. Tất nhiên, tôi vẫn lấy cho nó đồ ăn, và không can thiệp vào hành động của nó, song cũng không còn ảo tưởng gì với nó nữa. Trong lòng tôi xác định nó chỉ là một con mèo hoang bình thường, chỉ là chính tôi đã quá đa tình, muốn phức tạp hóa vấn đề lên. Nhưng thực là như vậy ư? Tôi chẳng phải đã nhận ra một điểm khác lạ nào đó của nó rồi ư? Ví dụ như, trước nay nó chưa từng ra khỏi nhà gặp gỡ một con mèo hoang nào khác cả, nó chỉ ở lì trong nhà, tỏ ra vô cùng cô đơn; Lại nữa, sức ăn của nó cũng rất đáng kinh ngạc, còn ăn nhiều hơn cả tôi.

Như thế ba ngày, con mèo bỗng nhiên nổi đóa lên vì sự lạnh nhạt của tôi, cũng vì tôi đã làm lơ nó. Điệu bộ của nó cho tôi thấy: nó quyết không chấp nhận kiểu làm lơ ấy của tôi, tôi sẽ phải đền bù tất cả. Nhân lúc tôi không có ở nhà, nó nhảy lên bàn viết của tôi, cào tan nát cả thư từ giấy tờ, rồi lại còn đái một bãi lên giường tôi nữa.

Vừa bước vào phòng đã ngửi thấy mùi khai, tôi tức điên lên, đến nỗi ngồi phịch xuống ghế bất động và cảm thấy buồn nôn. Nhưng tôi không nghĩ sẽ trừng phạt nó. Tôi biết làm thế là trúng kế của nó. Thử nghĩ coi, nếu như tôi đánh nó, nhất định nó sẽ kêu gào như hóa rồ, mà càng trả thù tôi hung ác hơn, nham hiểm hơn. Tôi cứ để mặc cho nó đái trên giường, làm loạn trên bàn viết, chỉ cần đem những giấy tờ quan trọng khóa kỹ lại. Thế là cả ngày tôi sống trong cảnh ngửi mùi khai nước đái mèo, hơn nữa còn đem theo cả mùi khai ấy đến văn phòng làm việc, may mà không có ai chú ý. Tôi nghĩ, thực ra con người ta cái gì cũng có thể quen được, nghĩ đã thông rồi thì có thể làm được chẳng khó khăn gì. Con mèo của tôi thấy việc phá hoại của nó chẳng có tác dụng gì, nên đã ngồi im lìm trong thùng gỗ. Đang khi tôi dương dương tự đắc với thành công của mình thì tai họa lại giáng xuống đầu.

Một tối, khi tôi vừa chợp mắt, liền bị một tiếng kêu kỳ quái đánh thức dậy. Tiếng kêu ấy không hề giống tiếng mèo kêu, mà nghe âm u tựa như tiếng ma quỷ đang gào khóc. Không còn nghi ngờ gì nữa, âm thanh ấy là ở trong phòng. Tôi bật đèn, nhỏm người dậy nhìn, thì thấy con mèo của tôi đang ngủ, thế là tôi bắt đầu run lên. Tôi cầm cái đèn pin soi dưới gầm giường hết bên trái lại bên phải rất lâu, lại soi lên trần nhà, soi bên trong tủ đứng, soi tủ bát, kiểm tra chốt cửa đại và cửa sổ, xem xét hết tất cả những nơi có thể cho một con thú hoang nào ẩn nấp, rồi mới thấp thỏm không yên lên giường tắt đèn. Tôi suy nghĩ mông lung, than dài thở ngắn, lăn bên nọ trở bên kia, khó khăn lắm cuối cùng mới chập chờn đi vào giấc ngủ. Nhưng đúng vào lúc tôi vừa thiu thiu ngủ, thì cái âm thanh ấy lại kêu lên. Đích xác là ở một chỗ nào đó trong phòng! Tôi lại vùng dậy bật đèn, chạy thẳng đến chỗ cái thùng gỗ mà con mèo của tôi đang ngủ. Tôi trông thấy nó đang ngủ say sưa, giơ cả bốn chân lên trời vẻ lười nhác. Có phải là nó đang giả vờ không? Nhớ lại hành vi của nó khi trước, tôi càng nghĩ càng cảm nhận rõ ràng chân tướng của nó, nhận ra loại động vật này không thể nuôi được, bèn đưa tay túm lấy nó, định ném ra ngoài cửa. Lúc tôi túm nó lên đi ra cửa, thì nó chợt cắn một miếng thật mạnh vào hổ khẩu[1] trên bàn tay tôi. Tôi kêu ối lên một tiếng, buông tay ra. Nó liền nhanh chóng chui ngay vào gầm giường.

Đêm ấy, vết thương trên tay tôi đau buốt đến tận tim. Trong cơn đau ấy, tôi lại tiến thêm một bước chứng thực rằng: chính là nó! Chính nó đã giả làm tiếng quỷ khóc để dọa tôi. Con súc sinh đáng chết, nếu như nó đã oán hận tôi, cơ hồ muốn đẩy tôi vào chỗ chết như thế, thì làm sao nó lại cứ đòi ở trong nhà không đi? Phải chăng nó muốn chiếm cứ căn nhà này, mà đuổi tôi đi? Không thể nào. Phải chăng nó rất hiểu cá tính của tôi, mà nảy sinh niềm hứng thú với tôi? Dường như cũng không phải. Tôi chỉ có thể nói, nó cứ ở lại đây, là vì ở đây có thể tránh được gió mưa lại có cơm ăn, là vì ở đây nó đã được nuôi ăn đến béo mượt. Nhưng tất cả những điều đó vẫn chưa đủ, nó còn muốn tôi phải từng giờ từng phút quan tâm nó, trọng vọng nó, chỉ cần hơi sơ nhãng là nó liền oán hận, liền tìm cơ hội trả thù. Ngoảnh đầu lại nghĩ, nếu như hồi đó tôi không thu nhận và giữ nó ở lại, thì chẳng phải sẽ không có những phiền phức này ư? Nhưng ai dám đảm bảo rằng cả đời mình không bao giờ có một lần phát tâm từ bi? Và, trong lúc phát tâm từ bi ai có thể dự liệu hết được những điều phiền phức từ đó về sau? Hơn nữa, lúc ấy tôi giữ nó lại thuần túy là xuất phát từ lòng từ bi ư? Có khi nào chính bản thân tôi trong tình hình cùng đường tận lối lúc ấy, đã có ý thức tìm kiếm một thứ để gửi gắm tinh thần không? Tóm lại, tôi hoàn toàn phải tự chịu hậu quả của chính mình.

Cắn tôi rồi, tối ấy nó bèn không kêu nữa. Nhưng vết thương thì sưng tím, tấy lên, không lâu thì tôi bị sốt cao, uống bao nhiêu thuốc cũng chẳng tác dụng, chỉ còn cách vào viện truyền nước, thiếu chút nữa thì biến chứng thành viêm thận cấp gì đó. Coi như tôi đã lĩnh giáo được sự lợi hại của nó! Lúc nằm trong phòng bệnh, tôi nghĩ: Bây giờ ở nhà không có ai, cũng không có gì ăn, nó không được ăn gì cũng chẳng thể trách tôi được, tất cả là do nó gây ra hết. Bây giờ tôi không cần đuổi, nó cũng chỉ còn cách tìm chỗ ở khác thôi, nếu không thì chỉ có chết đói. Không chừng bây giờ rủi lại hóa may, từ nay tôi có thể được yên lành rồi. Nghĩ được như thế rồi, bệnh tình của tôi tự nhiên cũng thuyên giảm đi rất nhiều. Tôi yên tâm nằm trong viện, mỗi một ngày qua lại thấy đó như là một sự trả thù đối với tội ác của nó. Mười ngày sau, cuối cùng tôi cũng được ra viện trở về nhà.



Tôi nhìn thấy con mèo trong căn buồng phủ đầy bụi của mình. Nó gầy đến không thể nhận ra, tập tễnh từ gầm giường chạy lại, không kêu một tiếng, chỉ lượn quanh chân tôi một vòng, rồi lại chui vào gầm giường. Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng, tất cả vẫn y nguyên như cũ không hề suy suyển, chỉ có cửa tủ lạnh là mở ra. Tôi không biết nó đã cậy cửa tủ lạnh ra bằng cách nào. Nửa túi xúc xích trên góc tủ lạnh đã biến mất. Xem ra mấy ngày qua, nó đã sống được nhờ vào chút thức ăn đó. Nghĩ đến bộ dạng tham ăn của nó, nước mắt tôi chợt trào ra. Tôi gọi nó ra, lấy cái bánh bao mới mua cho nó ăn, vừa vuốt ve, tôi vừa cất tiếng an ủi cưng nựng nó. Nó ăn xong rồi lại nhảy vào trong thùng gỗ ngủ.

Trong lòng tôi tràn đầy ân hận. Là ân hận vì hành vi của tôi? Ân hận vì những ý nghĩ độc ác đã nảy ra khi tôi nằm viện? Hay là ân hận vì khi trước đã thu nhận và giữ nó lại? Tôi không biết nữa, cũng có thể tôi đã rơi vào cái bẫy mà chính tôi giăng ra rồi.

Tôi quyết tâm phải làm hòa với con mèo của mình. Tôi mua đồ ăn về, ngày nào cũng chăm chút cho nó ăn. Nó thích ăn cái gì thì tôi cho ăn cái ấy. Chưa đầy mười ngày, nó lại trở nên béo tốt đẫy đà, bộ lông trơn mượt, và dáng vẻ của nó lại bắt đầu lộ rõ vẻ nặng nề chậm chạp và tự phụ ấy. Nó chỉ thi thoảng mới đi ra một lúc, còn đại bộ phận thời gian đều giữ vẻ trầm mặc cao ngạo trong thùng gỗ.

Ngày nào tôi cũng ngồi bên cạnh cái thùng gỗ, đưa vết thương trên tay tôi ra cho nó nhìn, không ngừng nói chuyện, kể về dụng tâm gian khó của tôi với nó, về sự báo đáp của nó với tôi, cho tới ý nghĩ báo thù ngẫu nhĩ manh nha trỗi dậy của tôi, và cả muôn vàn ân tình cũng như mong mỏi của tôi với nó. Những điều ấy đều là những điều tôi chưa bao giờ có đối với con người. Vì sao vậy? Vì tôi đã mất hứng thú với con người, tôi cần một tri kỷ như nó, một tri kỷ không phải là đồng loại của mình, cùng nhau quấn quýt, làm bạn bên cạnh tôi trong cái thế giới như một cánh đồng hoang này. Tôi đã vì nó mà thay đổi cuộc sống của mình, trong khi trước nay chưa từng vì bất kỳ ai mà thay đổi bản thân cả. Vì tôi bản tính ương ngạnh, chẳng để ai vào mắt mình cả. Lại có ai giống như tôi, ngày nào cũng làm việc trong mùi khai của nước đái mèo không? Tôi nói ra những điều này, không phải vì muốn nó báo đáp tôi, tôi không cần báo đáp, chỉ là muốn nó và tôi đối xử hữu hảo với nhau, đừng nên nhìn tôi như kẻ thù thế, chỉ cần có một chút lòng thương cảm với tôi cũng được. Lùi thêm một bước nữa mà nói, nếu như nó không quen với việc có lòng thương cảm, thì cứ chung sống hòa bình với tôi cũng được, chỉ cần nó không làm khổ tôi như trước đây nữa. Trong thế giới này, tôi chỉ có một thân một mình, chẳng có gia đình cũng chẳng có họ hàng bè bạn. Mối duyên gắn bó ngẫu nhiên giữa tôi và nó tựa hồ đã trở thành tất cả cuộc sống của tôi. Có thể nghĩ được rằng, nếu như mối quan hệ này trở thành quan hệ đối địch vĩnh viễn, thì trái tim tôi sẽ băng giá thế nào! Hơn nữa, không gian của chúng tôi nhỏ bé thế này, tất cả chỉ có một gian phòng này, nếu như đôi bên tiếp tục coi nhau như kẻ thù, thì kết cục sẽ như thế nào đây? Tôi cứ lải nhải kể lể như thế, nói đến cuộc sống đơn điệu nhạt nhẽo của tôi, nói đến những khổ nạn mà tôi phải chịu trên thế giới này, cuối cùng cơ hồ vừa nói vừa khóc. Tôi hy vọng khơi dậy từ nó dẫu chỉ một mảy may lòng trắc ẩn, cũng mong muốn dẫu chỉ một chút chuyển biến trong quan hệ giữa tôi và nó. Kết quả như thế nào? Đại khái các bạn cũng chẳng thể nghĩ đến: kết quả là tất cả vẫn y như cũ. Muốn cảm động nó, cũng chẳng khác gì chạch đẻ ngọn đa vậy. Không thể. Trong khi tôi đang nói chuyện, thì nó ban đầu là mở một mắt, nhắm một mắt lắng nghe, lộ rõ vẻ coi thường, rồi chẳng bao lâu liền duỗi chân ngủ thẳng cẳng. Đó chính báo đáp của nó với tôi! 

Một tuần sau khi tôi về nhà, thì nó trở nên vô cùng bồn chồn bất an. Mới đầu, nó ở trong thùng gỗ cất tiếng gào nho nhỏ, tựa như bị dồn nén cực độ, sau đó là suốt đêm nó dùng móng cào chân giường của tôi. Những âm thanh ấy rất khó nghe đã đành, lại còn khiến tôi liên tục nằm mơ thấy ác mộng. Tôi nghi ngờ rằng nó đã đến thời kỳ động dục rồi, vì nó là một con mèo đực. Thông thường mà nói, thì kết quả tất nhiên là nó sẽ bỏ đi, trong khi ngoài cửa lại có rất nhiều mèo hoang đang gọi bạn tình. Tôi trở dậy, cầm cái que tre, định đuổi cho nó ra ngoài tìm nơi vui vẻ, cũng để thả lỏng không khí căng thẳng trong phòng. Chẳng ngờ, nó cứ ở lì dưới gầm giường không chịu đi, đánh nó cũng không động. Trước những tiếng kêu gọi đầy kích thích ngoài cửa nó cứ như bịt tai không nghe thấy, tựa hồ nó chẳng phải là đồng loại với lũ mèo ấy vậy. Tôi vừa lên giường, thì nó lại cào. Qua mấy hôm, chân giường xước nát đến không nhận ra nổi nữa, phía trên có hai chỗ bị cào sâu hoắm. Còn tôi, lại tiếp tục với những cơn ác mộng trong tiếng cào móng chân của nó, ngày nào cũng đi làm với nét mặt bợt bạt.

Có lẽ nó cảm thấy cào chân giường vẫn không đã, vào một đêm, trong cơn ác mộng, tôi bỗng nhiên cảm thấy bàn chân mình bị một vật sắc cứa vào. Giật mình tỉnh dậy, tôi nhìn thấy con mèo từ trên giường vụt chạy đi nhanh như bay. Lòng bàn chân tôi đã bị nó cào một vết rách dài.

Sức nhẫn nại của mình đã đến cực điểm rồi ư? Mình nên tiếp tục nhẫn nại tiếp ư? Tôi tự hỏi chính mình. Câu trả lời là: nên tiếp tục nhẫn nại. Còn làm sao nữa? Hiện giờ con mèo đã chiếm lĩnh toàn bộ tâm trí tôi rồi, nếu như tôi mưu giết nó, thì khoảng trống khổng lồ trong tâm trí nhất định sẽ khiến tôi sụp đổ. Cho nên bây giờ, dẫu thân thể chịu một chút thương tổn, thần kinh chịu một chút phiền nhiễu đều không có gì đáng nói cả. Hơn nữa, kiểu gì chả có cách, tôi có thể đi giày mà ngủ, lấy chăn quấn chặt lấy người. Nếu như nó “tập kích” vào mặt tôi, thì tôi sẽ đội mũ bảo hiểm. Kiểu gì cũng có cách giải quyết.

Tôi thực sự đã mặc nguyên quần áo, đi tất, giày, đội mũ bảo hiểm đi ngủ rồi. Hơn nữa, ban đêm cũng không dám tắt đèn, chỉ lấy tờ báo che chắn bớt ánh đèn đi. Làm như thế, thì nó không đến cào tôi nữa, nhưng nó không thích tôi bật đèn ban đêm, có lẽ nó bị kích thích thần kinh vì việc ấy. Tôi không tắt đèn, thì nó đi moi rương, lục tủ trong phòng, hất đổ vỡ cả bình trà, gương soi. Sau khi gây rối loạn hai đêm, nó lại nhảy lên giường ghé sát bên tai tôi mà kêu, cào vào mũ bảo hiểm của tôi, hung hăng như muốn lại cắn bị thương tôi một lần nữa. Tôi sợ hãi, chỉ còn cách tắt đèn đi.

Đêm đầu tiên tắt đèn không xảy ra chuyện gì cả. Đêm thứ hai thì nó chạy ra ngoài dẫn theo hai con mèo hoang quay về. Hai con mèo ấy đuổi đánh nhau trong phòng, cắn lộn lẫn nhau, rối loạn tưởng đổ đình đổ chùa, trong phòng không ngớt phát ra những tiếng kêu thảm thiết. Tận đến bình minh, hai con mèo ấy mới rời đi. Đêm thứ ba, màn kịch ấy lại tái diễn.

Tôi nghĩ: hơn một năm nay, con mèo của tôi luôn chỉ có một mình mình biết, một mình mình hay, đã không tơ tưởng xuân tình, cũng không bước chân ra ngoài, tựa như một kẻ theo chủ nghĩa cấm dục. Bây giờ, nó lại dẫn bọn mèo hoang về nhà làm loạn, nhưng bản thân mình không hề đắm chìm vào đó mà theo bọn chúng cao chạy xa bay. Như thế xem ra, đúng là “lão say nào bởi rượu đâu”, mục tiêu của nó chỉ là cốt gây phiền nhiễu cho cuộc sống của tôi, phá đám tôi mà thôi. Nó muốn biến nhà tôi thành nơi tụ họp của lũ mèo hoang, mà bản thân nó thì không nhập bọn vào với lũ chúng, mà chỉ đứng bên cạnh sung sướng xem người khác gặp họa.

Qua mấy hôm, số mèo hoang từ hai con đã tăng lên đến năm con. Tắt đèn rồi, vẫn thấy khắp phòng đầy những bóng đen đi lại nhảy nhót không ngừng, vô cùng đáng sợ. Lúc ấy, còn mèo của tôi lại không đứng trên bàn, hay trên giường nữa. Nó quay vào trong chiếc thùng gỗ, ngủ như không hề có chuyện gì xảy ra. Nhưng tôi thì không cách nào nghỉ ngơi được, vì lũ mèo hoang thấy tôi không đuổi chúng đi, thì càng ngày càng thả sức không kiêng nể gì cả, cuối cùng kéo nhau lên tận giường của tôi mà đánh nhau, con nọ cắn bị thương con kia, phát ra những tiếng kêu gào thê thảm, phải nói là kinh thiên động địa. Trước tình thế thực sự không còn cách nào khác, tôi vùng dậy khỏi giường bật đèn, vớ lấy một cái búa sắt, nhắm đầu một con mèo đen trong bọn chúng lấy hết sức táng xuống. Nó ngã lăn xuống đất, giật giật mấy cái rồi chết. Những con còn lại đều hoảng sợ chạy trốn biệt cả. Tôi sợ run tận trong dạ, nhặt con mèo chết lên, đem ném nó ra bãi rác cách đó hơn trăm mét. Quay về đến phòng, tôi cảm thấy đầu mình căng phồng như quả bí ngô, chỉ muốn đập mạnh đầu vào tường mấy cái. Con mèo của tôi nằm trong thùng gỗ nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng, nó đã chứng kiến tất cả mọi việc từ đầu đến cuối. Tất cả. Nó đang cười nhạt trong lòng.    

Sáng hôm sau, dĩ nhiên tôi lại mang bộ mặt tái xám đi làm. Mấy hôm nay, mọi người đều bàn luận xôn xao, bảo tôi gầy đi đến không ra hồn người nữa. Thậm chí có người còn nói đùa ngay trước mặt, bảo rằng tôi bị hồ li tinh ám rồi. Tôi làm sao có thể nói cho họ biết những chuyện này được? Nếu như tôi nói ra, mọi người lại không cho tôi là người ngoài hành tinh, hay là bị bệnh tâm thần ư? Nhưng, trong văn phòng có người cứ nhất quyết bám lấy tôi, bắt tôi phải khai báo chuyện hồ li tinh bằng được, còn bảo là mọi người đều đang nóng lòng muốn nghe, tôi không thể phụ lòng mong mỏi của mọi người được. Tôi mặc xác hắn ta, hắn bèn ngồi lì trên bàn làm việc của tôi, còn ôm chặt lấy cổ tôi, khiến tôi vô cùng mất mặt. Lúc ấy, khuôn mặt tôi chắc chắn đã xám xịt như miếng gan lợn. Nghĩ đến cái căn nguyên gây ra sự hổ thẹn này cho mình, tôi càng uất hận con mèo. Tôi nhất định phải đuổi nó đi, cho nó vĩnh viễn không thể quay về nữa. Tôi sẽ không tránh né trạng thái tâm lý của mình nữa, trống vắng thì trống vắng, dầu sao cũng còn hơn bị sỉ nhục thế này.

Tôi thầm định sẵn một kế hoạch trong lòng, ngoài mặt không để lộ ra chút gì cả. Lúc về nhà, tôi mua sẵn món cá chiên dầu mà nó thích ăn, rồi nhân khi nó đang ăn một cách sung sướng thì dùng cái túi gai chụp lấy nó, buộc chặt miệng túi, xách trên tay, bắt xe buýt đi ra ngoại ô. Có lẽ nó đã hiểu rõ tâm tư của tôi như lòng bàn tay chăng, mà suốt dọc đường đi nó chỉ nằm im không phát ra một tiếng động, khiến tôi lại cảm thấy do dự. Nhưng nghĩ đến nỗi sỉ nhục đó, ý chí tôi lại kiên định trở lại. Giống như một kẻ độc ác trong chuyện đồng thoại, tôi đem con mèo treo lên một cành cây bên đường, rồi chạy biến mất như một tên tội phạm bỏ trốn. Tôi nghĩ, những người qua đường sẽ cởi nó xuống thôi.

Vì vậy mà đã có câu chuyện đầu tiên ở trên. Tôi yên tĩnh được hai ngày thì nó lại quay về rồi! Như các bạn đã biết, tôi không cho nó vào nhà. Tiếp theo sẽ thế nào đây? Các bạn có thể nói cho tôi biết, sau đây sẽ thế nào không? Tôi thì chỉ biết, tất cả mọi việc từ nay về sau sẽ chẳng thể tưởng tượng được./.

Châu Hải Đường dịch
(TC Văn Nghệ Quân Đội số 973 tháng 9/2021)


[1] Hổ khẩu: Khoảng mở giữa ngón cái và ngón trỏ trên bàn tay.

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

Hiếu Nữ (Người con gái hiếu thảo)

 Khu phố Hoa Viện ở ngoài cửa Sùng Văn kinh thành, có mấy ngàn nhà dân, đều sống bằng nghề trồng hoa cảnh. Có một thiếu nữ, phụng dưỡng cha già sống ở khu phố ấy, cũng sinh nhai bằng nghề đó.  Cha cô mắc bệnh hen suyễn, hàng năm đến kỳ lại mắc bệnh. Năm ấy, bệnh tình của ông phát nặng hơn, chỉ nằm trên giường, kêu rên không dậy được, thầy thuốc đến xem bệnh cũng không chữa trị được. Người con gái mất ăn mất ngủ, ngoài mặt thì an ủi cha già, nhưng trong bụng thì riêng vô cùng buồn khổ.

Gặp dịp có một bà lão hàng xóm tụ tập một đoàn đàn bà con gái, định đến núi Nha Kế hành hương. Cô gái bèn hỏi lỏm rằng: “Vì sao phải vào núi hành hương?” Bà lão nói: “Có người là vì thường bị đau ốm, có người là vì không có con, ai nấy đều cầu mong được như tâm nguyện của mình. Thánh mẫu trên núi rất linh thiêng, chẳng gì cầu không được.” Cô gái hỏi: “Từ đây đến núi Nha Kế bao nhiêu dặm?” Bà lão nói: “Hơn một trăm dặm.” Cô gái nói: “Một dặm là bao nhiêu dài?” Bà lão nói: “Ba trăm sáu chục bước.” Cô gái ghi nhớ lấy trong lòng. Đến tối đợi người cha ngủ yên, cô gái bèn lẻn ra ngoài sân, tay cầm một nén hương, thầm ghi nhớ lấy số dặm đường, rồi đi vòng quanh sân, vừa đi vừa bái lạy, trong bụng thần khấn: Con là một đứa con gái thân thể yếu đuối, cha già bệnh nặng, trong nhà lại không có một ai, nên không thể lên núi hành hương được. Bây giờ con xin ở nơi đây, tính toán số dặm đường, số bước chân, kính cẩn mỗi bước bái lạy một vái, cũng coi như mình đến trước núi báu, đích thân bái vọng  thánh tượng, phù hộ cho cha con được lành bệnh nặng, trường thọ khỏe mạnh. Con xin nguyện rằng từ nay sẽ thêu hình Phật, ăn chay trường, trọn đời đỉnh lễ bái Phật.” Cứ như vậy, cứ có thời gian rảnh rỗi là cô gái lại ra sân đi quanh, nhất bộ nhất bái, ngày đêm không nghỉ, đến hơn nửa tháng.

(Tranh vẽ Bích Hà Nguyên Quân)

Truyền rằng trên núi Nha Kế có thờ vị thần Sơn Đỉnh Bích Hà Nguyên Quân, nổi tiếng linh ứng khắp một dải kinh kỳ. Trên từ hậu phi trong cung cấm, đại thần trong triều cùng các vương công quý tộc, dưới đến bách gia trăm họ, vào tháng tư hàng năm, ai cũng lên núi hành hương lễ bái, xe ngựa đến dự hội đông như nước chảy. Từ lúc gà gáy canh năm thì người ta bắt đầu vào điện thắp hương, gọi là “dâng nén hương đầu”. Nén hương đầu nhất định phải do sứ giả trong cung vua và đại thái giám đốt, còn những người khác, không một ai dám tranh đốt trước. Khi ấy có một đại thái giám họ Triệu, phụng ý chỉ của Hoàng thái hậu, đến đốt hương đầu. Vừa mới mở cửa đại điện, đã trông thấy có hương cắm trên bát nhang, hương hỏa đã được thắp đầy đủ. Ngụy thái giám đại nộ, trách mắng người thủ nhang, nói: “Hương của lão Phật gia vẫn còn chưa thắp, sao lại cho người khác thắp hương đầu trước?” Thủ nhang vô cùng kinh hãi nói: “Một khi Ngụy gia ngài còn chưa đến, thì đại điện này đâu có dám mở. Tiểu nhân thực sự không hiểu hương hỏa này là từ đâu ra.” Ngụy công thầm nghĩ: “Lúc mình đến, thì đại điện mới được mở khóa, trông trong lư hương thì tro hương vẫn còn chưa đầy một thốn. Chuyện này thực là kỳ quái đáng sợ. Ngày mai ta sẽ đến sớm hơn một chút nữa vậy, xem xem thế nào.” Bèn vội dặn dò với thủ nhang rằng: “Chuyện đã rồi, ta cũng chẳng truy cứu nữa, ngươi phải đặc biệt cẩn thận, sớm ngày mai, ta sẽ lại đến để dâng hương đầu.” Nói xong liền đi.

Thủ nhang sợ phạm tội, bèn cùng những người trong miếu cả đêm trực ban tuần phòng. Mới canh tư, Ngụy thái giám đã đến. Vừa bước vào cửa điện, lại đã thấy trên bát hương hương hỏa đã thắp đầy đủ cả, có một người con gái đang quỳ lạy dưới đất. Tất cả mọi người đều kinh hãi vô cùng. Người con gái kia nghe thấy tiếng người, thì giật mình đứng dậy, bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Mọi người ai cũng cho đó là ma. Ngụy công nói: “Lẽ nào trước mặt thần phật mà ma quỷ dám công nhiên xuất hiện chứ? Nhất định là có nguyên do gì khác, ta sẽ có cách đối phó chuyện này.” Bèn dâng hương thứ hai. Rồi thái giám xuống dưới cửa đền, kê ghế ngồi, cho tụ tập hết khách hành hương lại, kể lại rõ thực tình, đồng thời mô tả kỹ lưỡng cô gái, từ tuổi tác đến dung mạo, áo quần. Khách hành hương đều lấy làm ngạc nhiên. Cuối cùng, có một bà lão, sau khi nghe Ngụy thái giám mô tả, cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói: “Cứ như những gì Ngụy gia ngài vừa nói, thì lẽ nào đó là đứa con gái hàng xóm nhà con? Làm sao nhất nhất từng lời ngài mô tả lại đều giống hệt với nó như thế?” Ngụy công hỏi: “Đó là đứa con gái hàng xóm thế nào, mà lại có thể biến hóa như thế?” Bà lão nói: “Con bé ở khu phố Hoa Viện, vốn là một đứa con gái rất hiếu thảo.” Ngụy thái giám vỗ đùi nói: “Thế thì chẳng có gì kỳ quái cả!”

Ngụy thái giám vội vàng phi ngựa về cung, phục mệnh hoàng thái hậu. Rồi ông bí mật tìm đến nhà người con gái, vào thăm, thấy quả nhiên chính là cô gái ở trên đại điện đền thờ bữa trước. Ông thử hỏi han, cô gái cứ tình thực mà đáp lời rằng: “Con tuy không ra khỏi cửa, nhưng cứ thấy tựa hồ như thân trải qua nơi ấy. Bệnh tật của cha già nay được khỏi hẳn, cũng là nhờ bồ tát linh ứng phù trì.” Ngụy thái giám cảm thán nói: “Lòng chí thành có thể cảm động thần linh, đúng là lòng hiếu thảo tột bực.” Ông bèn nhận cô gái làm nghĩa nữ, coi như con đẻ của mình. Cha già của cô lại được an hưởng thêm ba chục năm no ấm, sống đến trăm tuổi mới qua đời. Cô gái sau lấy chồng họ Trương ở Đại Hưng, của hồi môn rất nhiều, trị giá đến mấy ngàn lạng bạc, đều là một mình Ngụy thái giám lo lắng cho. Nhà người con rể vì vậy cũng đời đời là nhà phú thương.

(Trích "Dạ Đàm Tùy Lục")