Thứ Hai, 26 tháng 7, 2021

CƠN GIÔNG

 Hắn phóng xe vù vù trên quãng đường đê về phía cầu Sông Cái để sang thành phố. Trong đầu hắn lúc này đang ù lên bởi một câu hỏi: “Tiền! Làm sao để có tiền?” Đó là nỗi day dứt ám ảnh hắn từ ngày bị mất việc. Chợt trời tối sầm lại. Gió thổi ngày một mạnh dần, càng mạnh hơn khi hắn chạy xe ngược chiều. Từng nắm cát ném tung vào mắt hắn cay xè. “Quái! Trời đất lạ! Đang nắng đấy lại giông ngay!” Hắn đảo mắt nhìn quanh tìm một quán nước nào đó để vào trú tạm, nhưng cả một quãng đê dài tuyệt nhiên không có lấy một cái. May quá, cạnh bờ đê quãng trước hình như có một ngôi chùa nhỏ dưới mấy gốc muỗm xanh. Hắn phóng nhanh thêm một tí rồi ngoặt xe tạt vào cổng chùa.

Mưa bắt đầu tuôn xối xả. Nước từ cây cau theo cái bẹ lá buộc ngang hông đổ ào ào vào chum nước của nhà chùa. Hắn đứng nép dưới mái hiên với dãy cột xây gạch viết đầy những chữ Nho bằng mực đen. Chắc hẳn những câu chữ ấy cũng có ý nghĩa hay ho gì đó, nhưng bây giờ những người như hắn nhìn vào có khác gì bức vách, chỉ thấy sợ. Trong chùa vọng ra tiếng tụng kinh gõ mõ đều đều, nho nhỏ, nghe càng khắc khoải yết ớt trong tiếng mưa xối gió gào. Nước mưa lạnh ngấm vào da thịt làm hắn so vai, tay ôm lấy ngực. Ghé mắt nhìn vào trong, thấy vài ánh đèn tỏa sáng ấm áp, hắn đánh bạo bước vào. Vị sư già vẫn ngồi chăm chú tụng kinh gõ mõ. Bộ cà sa ông khoác trên người có vẻ cũ kỹ, nhưng thật thanh sạch. Trên bệ cao, mấy pho tượng Phật nhìn hắn với ánh mắt vừa hiền từ vừa nghiêm nghị, khiến hắn phải tự động đưa hai tay chắp trước ngực. Nghĩ đến tình cảnh của mình, việc không, tiền không, hắn thầm khấn nguyện: “Cầu xin đức Phật phù hộ độ trì …”

(Tranh của Lục Nghiễm Thiếu - T.Q)

Trời chưa tạnh hẳn nhưng đã ngớt. Hắn lại tiếp tục phóng xe đi. Bánh xe vùn vụt trên con đường trơn nhoáng, nhớp nháp bùn đất. Bỗng mắt hắn sáng lên: “Ơ tiền!” – Ngay giữa đường là một cuộn tiền xanh buộc dây chun! Hắn phanh gấp, nhưng cái xe theo đà cứ chạy mãi lên một quãng. Hắn vừa lập cập quay xe, vừa nghĩ thầm: “Số đỏ rồi! Đúng là trời phật phù hộ …”

Kia! Cuộn tiền kia rồi! Còn cách một đoạn ngắn nữa thì hắn nhìn thấy hai đứa trẻ chăn trâu đang đứng gần đó. Chợt một đứa kêu to: “Ơ … Tiền! …” rồi lao ngay ra nhặt lấy cuộn tiền chạy xuống dưới chân đê. Hắn quẳng xe vội vã đuổi theo thằng bé. Thằng bé cũng dừng lại không chạy nữa. Hắn chạy đến, miệng thở hổn hển, nhưng vẫn quát: 

-Thằng kia! Trả lại tiền cho tao!” 

-Ơ! Cháu nhặt được chứ! Mà có phải tiền của chú đâu?” “

-Tiền tao đi mua hàng, đút túi chưa kịp mua, vừa mới đánh rơi, quay lại nhặt, mày lại bảo là không phải của tao à? – Hắn quát, vẻ gay gắt.

-Sao chú lại quát thế! Cháu nhặt chứ có ăn cắp đâu?

Thấy thằng bé có vẻ xuôi xuôi, hắn đổi giọng dỗ dành: “Các em đi học ở trường cô giáo vẫn dạy thế nào? Nhặt được của rơi phải trả lại người mất chứ! Thôi trả lại cho anh xin, rồi anh sẽ thưởng cho em. Một trăm ngàn nhé?” Hắn chẳng hiểu vì sao mình lại linh hoạt đến thế, ước chừng chỗ tiền ấy ít cũng phải năm trăm ngàn!

-Thế chú cứ đưa tiền đây! – Thằng bé nói, tay vẫn cầm cuộn tiền giấu ra sau lưng.

-Anh vừa đánh rơi còn gì! – Hắn định rút ví, nhưng kịp nhận ra làm vậy sẽ lộ - Cứ đưa đây rồi anh cho.

-Không! Chả lẽ chú không còn đồng nào trong túi à? – Thằng bé hất hàm nhìn túi quần hắn cứ như là biết rõ.

Hắn móc túi, may quá, có một tờ hai mươi ngàn đút ở đấy. Thằng bé cầm tờ tiền dè bỉu: “Có mỗi thế này thôi á?” Hắn dốc ngược cái túi quần như để chứng minh, vét nốt mấy ngàn đồng lẻ đưa cho thằng bé, bảo: “Đấy nhá, tao không còn đồng nào nữa đâu!”

Thằng bé cầm nốt mấy ngàn, rồi ném trả cuộn tiền xuống đất, ù té chạy. Nhanh như chớp, hắn vội cúi xuống nhặt và kịp nhận ra đó là một cuộn tiền âm phủ! Tức giận, bất ngờ, làm cơ mặt hắn giật giật, đỏ bừng rồi tái nhợt … Ngẩng nhìn lên thì thằng bé đã chạy tít tận đằng xa, phía những cây gạo đang đơm hoa đỏ. Nó ngoảnh đầu, nói với lại: “Cút đi! Đáng đời đồ tham lam!”

Câu nói của thằng bé làm toàn thân hắn chùng nhão. Hắn không đuổi theo thằng bé. Lúc nặng nhọc trèo lên đến lưng đê, cậu bé còn lại quay sang hỏi hắn vẻ thành thực: “Nó có trả lại cho chú không ạ?” Không hiểu cậu bé kia hỏi vậy là ý thế nào, hắn không đáp, chỉ lặng lẽ quay mặt nhìn lên trên đê. Chợt hắn sửng sốt: trên mặt đê vị sư già đang chậm rãi chống cây gậy trúc, tà áo cà sa phấp phới bay trong gió. Đầu ông đội chiếc nón tu lờ. Lần đầu tiên hắn nhìn thấy chiếc nón chỉ được đọc trong truyện cổ tích ấy! Nắng đã lại ấm áp chan hòa sau cơn mưa gió.

                                                                                                                                                                          C.H.Đ

Thứ Bảy, 10 tháng 7, 2021

NGUYỄN SIÊU SỬA THƠ ?

Mới đây, tôi được người bạn là nhà báo Nguyễn Học cho xem một bức ảnh của người Pháp chụp đình Trấn Ba trong khu di tích đền Ngọc Sơn vào năm 1896 với cỡ ảnh khá lớn. Qua bức ảnh ta có thể thấy khi ấy đình Trấn Ba còn nằm sát mép nước chứ chưa lui sâu vào như hiện nay, giữa đình dựng bia, mặt chính quay ra hồ, mặt lưng quay vào trong, có 4 chữ lớn: “Văn Xương miếu bi” - hiện nay đã không còn. Đặc biệt trên phần cổ giữa hai mái đình có mảng điêu khắc nhiều hình trang trí và ở giữa là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt mà nhờ ảnh có size lớn, có thể đọc được dễ dàng nội dung:

一水中浮地;

長流倒載天。

扁舟迎送客;

日午宿花邊。

Nhất thủy trung phù địa;

Trường lưu đảo tải thiên.

Biên chu nghênh tống khách;

Nhật ngọ túc hoa biên.

(Nghĩa là:

Một vùng nước, ở giữa có đất nổi lên;

Dòng (nước) dài mang theo bầu trời soi bóng xuống.

Chiếc thuyền nhỏ đưa đón khách;

Ban trưa đậu ngủ bên hoa.)  

(Ảnh chụp Trấn Ba Đình năm 1896)

Đọc bài thơ, tôi nhận ngay ra đó chính là bài thơ của Phương Đình – Nguyễn Siêu – người khởi xướng và góp công lớn trong việc xây dựng tu bổ di tích đền Ngọc Sơn để có diện mạo như ngày nay, mà tôi nhớ không lầm thì nó có tiêu đề là “Lâu thượng ngẫu đắc” (Ngẫu nhiên làm khi ở trên lầu). Nhưng, hai câu sau của bài thơ thì tôi cứ ngờ ngợ dường như có sai khác gì đó với bài mình đã biết.

Cất công lần dở lại hai quyển “Anh Ngôn thi tập” của Phương Đình ra tìm đọc lại, quả nhiên cảm giác của tôi đã hoàn toàn chính xác. Bài thơ trên là bài thứ nhất trong hai bài ngũ ngôn tứ tuyệt “Lâu thượng ngẫu đắc nhị tuyệt” của Nguyễn Siêu. Và quan trọng hơn, đúng là hai câu thơ đầu thì hoàn toàn thống nhất, nhưng hai câu thơ sau của bài thơ in trong sách có thể nói là khác biệt rất nhiều. Cụ thể bài thơ ấy (tôi xin phép chỉ nói về bài thứ nhất này) trong sách là:

一水中浮地;

長流倒載天。

漁舟春送客;

廽棹宿花邊。

Nhất thủy trung phù địa;

Trường lưu đảo tải thiên.

NGƯ chu XUÂN tống khách;

HỒI TRẠO túc hoa biên.

(Nghĩa là:

Một vùng nước, ở giữa có đất nổi lên;

Dòng dài mang theo bầu trời soi bóng ngược xuống.

Thuyền câu, mùa xuân tiễn khách;

Quay chèo trở về đậu ngủ bên hoa.) 

Mấy chữ tôi viết in hoa, tức là những chữ đã thay đổi so với bài thơ trên cổ mái đình Trấn Ba. Các bạn có thể thấy, hai câu thơ với 10 chữ mà đã sửa lại đến 4 chữ, thì có thể nói là sửa không ít (40%). Vậy bài thơ trên đình Trấn Ba có phải chính xác là thơ của Nguyễn Siêu? Nếu phải, vì sao lại có sự sai khác này? Và, ý nghĩa của việc sửa chữa, nhuận sắc ấy thế nào?

Trước hết, xin nói về bài thơ trên đình Trấn Ba. Chúng ta đều biết, năm 1865, Nguyễn Siêu là một trong những người chủ trì việc hưng công tôn tạo đền Ngọc Sơn và xây dựng mới thêm nhiều hạng mục cho cụm công trình mà nổi bật nhất là: Tháp Bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc, đình Trấn Ba, đồng thời ông cũng để lại nhiều văn chương và bút tích ở đó qua các bài văn bia, các bài minh (trên đài Nghiên), chí (trên tháp Bút), câu đối … Cụm công trình được thực hiện trong thời gian ba năm (1865 – 1868), và bức ảnh của Pháp chụp năm 1896, cách nhau chừng 30 năm, nhìn vào mức độ rêu phong, hư hại ở một số vị trí, thì khả năng đình Trấn Ba trong ảnh vẫn là ngôi đình nguyên bản từ khi mới dựng. Như vậy, với vị trí vai trò chủ chốt của Nguyễn Siêu trong công cuộc xây dựng cụm công trình này, cộng thêm việc bài thơ (dù có xuất nhập vài chữ) được in trong Anh Ngôn Thi Tập của ông, có thể khẳng định bài thơ trên đình Trấn Ba chính là thơ của Nguyễn Siêu, thậm chí có thể nghĩ rằng đó cũng chính là bút tích của ông.

(Hình bài thơ trên đình Trấn Ba)

Vậy vì sao bài thơ in trong Anh Ngôn Thi Tập, hai câu cuối lại có sai khác như vậy? Tất nhiên là vì bài thơ đã được sửa chữa. Nhưng ai làm việc ấy? Sở dĩ tôi đặt vấn đề như vậy, vì tập thơ không được in khi Nguyễn Siêu còn sống, mà lại được in sau khi ông qua đời khá lâu, do các học trò thu thập trước tác của ông in lại. Mà như lời tiểu dẫn do Vũ Nhự  - học trò của ông, viết năm Tự Đức 35 (1882) là: “Hơn mười năm sau khi thầy mất, học trò chúng tôi mới cùng nhau lo việc khắc in tác phẩm của thầy. In được Tùy bút lục 6 quyển, Địa chí 5 quyển, Văn tập 5 quyển, Thi tập 4 quyển …” Đó chính là điểm khó cho chúng ta xác quyết ai đã sửa hai câu thơ trên. Việc biên chép thu thập thơ văn từ xưa đến nay đều không thể tránh khỏi việc vô tình hay cố ý sửa chữa lại một vài chữ. Vì vậy không thể loại trừ khả năng học trò đã sửa lại thơ của Nguyễn Siêu. Nhưng, việc một tác giả sau khi làm thơ rồi, lại suy nghĩ và tự sửa chữa lại thì cũng không hề ít hơn. Khắp cổ kim đông tây đều có rất nhiều, nên mới có thành ngữ “thôi xao” để nói chuyện dụng tâm cân nhắc câu chữ sửa thơ. Vả chăng, hai câu thơ có 10 chữ mà sửa tới 4, trong khi “bản gốc” của thầy vẫn còn nguyên ở đình Trấn Ba kia, thì dẫu thơ có ra sao, cũng không học trò nào dám sửa. (Một minh chứng ngẫu nhiên lý thú là: trong bản sách lưu tại Thư viện quốc gia người đọc trước đây khả năng cũng đã nghe/xem/biết về bài thơ ở đình Trấn Ba rồi chăng, nên đã sửa lại bằng mực son một chữ Nghênh vào cạnh chữ Xuân (xem ảnh). Tuy nhiên, chỉ sửa một chữ này.) Vì vậy, theo thiển ý, tôi cho rằng: chính Nguyễn Siêu đã sửa lại hai câu thơ này của mình trong di cảo để lại. Nhưng bài thơ trên đình Trấn Ba vì được dựng lên rồi nên không thể sửa lại nữa, đành để nguyên như vậy. Có lẽ đó chính là bài thơ mà ông đã ngẫu hứng (đúng như tiêu đề “Ngẫu đắc” của nó) viết ngay trong quá trình xây dựng công trình và đề luôn tại chỗ mà chưa dụng công nhuận sắc kỹ lưỡng. Song cũng chính nhờ đó, mà ta thêm hiểu rõ về nội dung hai câu đầu của bài thơ: “Nhất thủy trung phù địa” chính là nói về đảo Ngọc (Ngọc Sơn) và “Trường lưu đảo tải thiên” chính là mặt nước hồ Gươm, chứ không phải một cù lao trên một dòng sông nào khác. Hơn nữa hình ảnh “con thuyền đưa khách” chính là tình hình thực tế khi ấy, lúc mà cầu Thê Húc còn chưa được xây dựng xong xuôi.

(Bài thơ "Lâu thượng ngẫu
đắc nhị tuyệt" in trong
Anh Ngôn Thi Tập)

Bây giờ ta hãy đọc kỹ lại hai câu thơ để xem trước và sau khi được Phương Đình sửa chữa, để thấy chúng khác nhau thế nào. Câu thơ trước, trên đình Trấn Ba: 

“Biên chu nghênh tống khách; Nhật ngọ túc hoa biên”

(Chiếc thuyền con đưa đón khách; Buổi trưa nằm nghỉ bên hoa).

Câu thơ sau khi sửa, in trong Anh Ngôn Thi Tập:

“NGƯ chu XUÂN tống khách; HỒI TRẠO túc hoa biên.”

(Thuyền câu, mùa xuân tiễn khách; Quay chèo trở về đậu ngủ bên hoa.) 

Hình ảnh chủ đạo cũng là ấn tượng nhất của hai câu thơ trước và sau đều là hình ảnh chiếc thuyền đậu ngủ bên hoa, một hình ảnh đẹp khép lại bài thơ nhỏ này. Xét về cơ bản thì tứ thơ không khác nhau bao nhiêu. Nhưng đọc kỹ ta có thể thấy, hai câu thơ sau khi được sửa chữa giàu hình ảnh hơn rất nhiều. Nếu như câu thơ trước cho ta thấy hình ảnh “chiếc thuyền con đưa, đón khách”, thì câu thơ sau, đó là “chiếc thuyền câu”, vào một ngày “mùa xuân” “tiễn khách” rời đi. Nếu như chiếc thuyền con đưa, đón khách, khiến chúng ta có cảm giác như đó là công việc thường xuyên của nó, và nó, tuy nhỏ, nhưng là chiếc thuyền chuyên làm công việc ấy. Thì câu thơ sau lại cho thấy đó là một cảnh riêng có duy nhất: chiếc thuyền ở đây là thuyền câu, chứ không phải là thuyền đưa đón khách, nhưng việc của nó lúc này được dùng vào việc đưa tiễn người khách rời đi, và về thời gian thì cụ thể hơn: đó là vào một ngày xuân. Chính vì nó chỉ làm công việc tiễn khách lần này thôi, nên sau khi tiễn khách rồi, nó quay chèo trở lại (hồi trạo), và nghé đậu lại liền “bên hoa”, mà không cứ rằng phải là giờ “giữa buổi trưa” như những con thuyền chuyên làm việc đưa đón khách khác.

Con thuyền chuyên đưa đón khách dẫu có “cảm tình” với người khách thế nào, thì cũng không thể bằng “tình cảm” của con thuyền câu đối với người khách duy nhất của nó. Tất nhiên ấy là nói thay cho người chủ thuyền. Có thể nói, hình ảnh “chiếc thuyền đưa đón khách, buổi trưa đậu lại” là một “hằng cảnh” (cảnh thường có), còn hình ảnh “chiếc thuyền câu tiễn khách, quay chèo về đậu lại” lại là một “biệt cảnh” (cảnh cá biệt, riêng có). Hằng cảnh cũng có nét đẹp của hằng cảnh, nhưng trong trường hợp này thì biệt cảnh mới là hình ảnh đặc sắc, bất chợt, mà phải có một con mắt, một tâm hồn tinh tế mới nhận ra.

Bây giờ, xin lại nói lại về chữ “xuân”. Một chữ tưởng chừng như chỉ là để bổ vào khi không có chữ “nghênh” nữa, nhưng theo tôi, đó thực sự là một dụng tâm tinh tế của Nguyễn Siêu. Chữ “xuân” ở câu này có thể nói chính là “nhân” cho chữ “hoa” ở câu tiếp theo. Mùa xuân và hoa, xưa nay đã như một cặp bài trùng, dẫu trong thi văn hay thực tế. Chính vì khi ấy là mùa xuân, nên con thuyền mới sẵn có hoa mà ghé đậu. Và người khách kia hẳn cũng là khách chơi xuân, thưởng hoa không còn nghi ngờ gì nữa. Mùa xuân và hoa, tiễn khách và quay chèo, hai câu thơ sau khi sửa chẳng những có lớp lang, hợp logic mà còn có hiệu quả hô ứng đặc biệt

Việc làm thơ, rồi lại tự mình sửa thơ xưa và cả nay đều có và vẫn luôn tồn tại. Nhưng phần nhiều nó chỉ được kể trong các tập thi thoại, giai thoại văn chương. Có thể nói tư liệu hình ảnh và văn bản chính xác về bài thơ “Lâu thượng ngẫu đắc” của Nguyễn Siêu này là một ví dụ cụ thể trực quan nhất cho chúng ta thấy công việc mài giũa (trác ma) câu từ trong sáng tác của một nhà thơ từng được tôn xưng là “Thần” (Thần Siêu) ấy. Và quả tình phải công nhận rằng, sau khi sửa lại 4 chữ trong hai câu thơ của một bài thơ 4 câu, 20 chữ, thì ý cảnh, tình tứ của bài thơ đã hoàn toàn khác hẳn.

Tiếc rằng, hiện chưa tìm được ảnh cũ chụp mặt khác của đình Trấn Ba xưa, nên không biết ở những mặt ấy, có bài “Lâu thượng ngẫu đắc” thứ hai, hay những bài thơ nào khác của Phương Đình hay không? Nhưng chỉ qua một bài thơ nhỏ này cũng cho ta thấy tài năng và tâm huyết đối với mỗi câu thơ nhỏ của bậc thầy văn chương Phương Đình – Nguyễn Siêu. 

                                                                                                                          Châu Hải Đường

                                                                                                                                 (10-7-2021)

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2021

Phi Lai Thảo Thụ

 

Rằm tháng Tám năm ngoái, tôi nhận được cuốn sách mới của nhà văn Phùng Ký Tài gửi tặng – cuốn “Thế giới Thư phòng”, đọc cuốn sách ấy quả là như được nhà văn mời vào chơi trong thư phòng của mình, được ông kể cho nghe những mẩu chuyện về rất nhiều kỷ vật trong thư phòng của mình (tất nhiên còn rất nhiều “văn phòng chi bảo” khác mà ông chưa kể hết). Nhưng, trong số những câu chuyện ông kể trong cuốn sách, có cả những thứ chẳng phải vốn ở trong văn phòng. Tôi nhớ mãi câu chuyện “Phi Lai Thụ” trong cuốn sách ấy. Trong câu chuyện, Phùng Ký Tài kể: trong bồn cây đã chết ngoài cửa sổ của ông chợt một hôm lại thấy có một cái cây nhỏ xanh tươi mọc lên. Nhà văn không biết đó là cây gì, sau hỏi mọi người, mới biết đó là một cây du: hạt (quả) cây du đã theo gió bay vào bồn đất cũ ấy, nhờ nước mưa, sương đêm, nảy mầm và mọc lên. Ông đã rất vui khi thấy trên mái nhà mọc cây xanh. Rồi đó, vì nhiều công việc bận, không thường ở thư phòng, lắm lúc vài ngày không tưới nước cho nó, khiến cây du nhỏ khi khô lúc héo, thế nhưng nó vẫn lớn dần lên càng ngày càng cao, khiến ông lo rằng không biết nó cao nữa thì thế nào? Cuối cùng ông đã nhờ người chuyển nó đến học viện của mình, trồng xuống đất bên một khối đá. Và cái cây đã được nước được gió, phát triển nhanh chóng, tỏa bóng mát xanh thành một cảnh trí của học viện. “Có người hỏi gọi nó là gì, tôi nghĩ lại thân thế của cái cây: là một trái du khô nhờ gió thổi bây tới, bèn cười bảo: “Gọi nó là Phi Lai Thụ (cây bay tới) đi!”

Đọc câu chuyện, tôi thấy cây du ấy quả thực may mắn. Và chợt nhớ lại chính bản thân tôi cũng từng chẳng phải chỉ một lần có những “Phi Lai Thụ” của mình. Khoảng năm 1996, 1997 khi vừa tốt nghiệp đại học, tôi về Hải Phòng làm việc. Nhà tôi ở trên tầng ba của khu tập thể Kim khí trên đường Máy Tơ. Trên “chuồng cọp” phía sau nhà, tôi cũng trồng mấy chậu cây cảnh. Bỗng một hôm trên chậu hoa loa kèn (bây giờ người ta hay gọi là huệ tây, chứ khi ấy chỉ gọi chung cả là hoa loa kèn) có một cái cây nhỏ mọc lên. Tôi là người thích cây cối từ nhỏ, thậm chí từ khi còn bé tôi chỉ cần nhìn cây non mới nảy mầm cũng biết đó là cây gì, vì vậy tôi nhận ra ngay nó là một cây hoa sữa. Trên quãng phố dưới khu tập thể nhà tôi có mấy cây hoa sữa lớn. Quả cây sữa sau khi già, khô, sẽ tách ra và những cái hạt nhỏ có lông tơ nhẹ sẽ theo gió bay khắp nơi. Đây chắc hẳn là hạt khô của nó bay lên đến bồn đất nhà tôi mà mọc lên. Đến khi cái cây lớn thêm một chút, thì tôi nghĩ chắc phải đưa nó xuống trồng dưới đất mới ổn. Nhân một lần về quê, tôi bèn đem nó về theo, và trước mắt trồng trong vườn nhà, rồi đợi có dịp sẽ trồng ở mé đường nào đó vừa làm bóng mát, vừa để hoa nở thơm xóm thơm làng – bấy giờ ở làng quê tôi chưa có cây hoa sữa ở đâu cả, trồng một cây cũng tốt. Tôi trồng trong vườn được ít lâu thì ông nội tôi đem nó ra trồng trước sân nhà thờ họ, định để cho có bóng mát mà hoa nở cũng thơm cả làng. Tôi vui mừng lắm, được trồng ở đó thì còn gì bằng.

Bẵng đi ít lâu, một bận tôi về quê chợt nghe ông tôi bảo: “Hôm trước, anh T làm dự án trồng cây trang trí ở khu di tích Trạng Trình, có nói cây hoa sữa trồng ở sân nhà thờ họ, ít nữa lớn lên hoa nó nở thì cả xóm chịu không nổi mùi hương, thôi để đem xuống trồng trong khu di tích cụ Trạng.” Tôi nghe xong, chợt bâng khuâng nửa buồn nửa vui. Cây hoa sữa ấy được trồng vào trong khu di tích thì cũng tốt quá, nhưng từ nay tôi sẽ mất “liên lạc” với nó rồi. Bởi làm sao biết cây hoa sữa nào trong khu ấy là “Phi Lai Thụ” của tôi nữa?

("Phi Lai Thảo" - Rau Mương)

Rồi tôi cũng thay đổi công việc, chuyển nhà nhiều nơi khác nhau nữa. Nhưng vốn thích cây cỏ, nên không đi đâu tôi không thể trồng được một vài cái cây, dẫu lớn hay nhỏ. Rồi lại một lần nữa có một cây hoa sữa “phi lai” bồn cây nhỏ của tôi. Tiếc rằng tôi đã cố giữ cây hoa sữa ấy mãi, đến khá lớn rồi, nhưng sau cũng không thể tìm một chỗ tốt đẹp cho nó. Quả thực là buồn khi những cái cây còn đang tràn trề sức sống nhưng lại không thể sống tiếp được. Vì thế với mỗi cái hạt tôi đều muốn nó có thể nảy mầm, với mỗi cái cây tôi đều muốn nó có thể có nơi đi về tốt đẹp, có thể lớn lên xanh tốt hết mình. Một cây quất, hay cây đào ngày tết cũng vậy – Vì thế nhiều khi biết không thể “cưu mang”, nên ngày Tết tôi chỉ mua cành đào, hết tết bỏ cũng không “áy náy lương tâm”.

Gần đây, trong chậu lan mạc xuân lại chợt có một cái cây nhỏ mọc lên, nhìn quen quá, mà chưa nghĩ ra là cây gì. Mấy hôm sau “trí nhớ xưa cũ” của tôi mới nhợt à lên nhận ra đó chính là cây Rau Mương – một loại cây dại mọc hoang thôi, nhưng nghe đâu nó là loại cây có thể làm thuốc chữa dạ dày, mà tôi từng thấy có bạn FB nào đó từng hỏi thăm tìm kiếm không ra. Chợt nhớ lại, hồi mấy nhóc nhà tôi còn bé, mỗi khi bị sốt tôi hay đi ra ngoài đường tìm những cây nhọ nồi mọc hoang hái ít ngọn về giã nát, buộc vào cổ tay để giảm sốt. Khi ấy, có khi đêm tối lang thang mãi mà không tìm được một cây nào. Mỗi khi bắt gặp bên một lối đi hoang vắng có mấy cây nhọ nồi xanh tươi mọc lên lại thấy mừng như bắt được của. Bèn đem cây rau mương trồng vào một chậu đất cũ hiện không trồng cây gì. Chậu đất ấy có thể cho nó đủ sống trọn đời. Và biết đâu, vào một lúc nào đó, nếu có một người nào đó chợt cần đến nó, thì tôi sẽ xin trao lại cái cây ấy để người cần đến có thể tiếp tục chăm sóc nó.

Tuy nhiên, nếu gọi với cái tên Phi Lai thì chắc cây Rau mương này phải gọi là “Phi Lai Thảo” chứ chắc không thể gọi là “Phi Lai Thụ” được nhỉ. Chợt nghĩ, không biết có cái hội “Cứu Hộ Cây Cỏ” như cứu hộ chó, mèo không? Lại chẳng biết liệu có người nào muốn cứu hộ những cái cây “Phi Lai thảo thụ” như mình không nhỉ?

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

Mắt Xanh - Trích "Tục Thế Kỳ Nhân" của Phùng Ký Tài

 

Năm 2020, chùm tác phẩm tiểu thuyết “Quái thế kỳ đàm” với  truyện vừa “Roi thần” (1984), tiểu thuyết “Gót sen ba tấc” (1986), tiểu thuyết “Âm dương bát quái” (1988) và cuối cùng là tiểu thuyết “Ống nhòm một mắt” (2018) của Phùng Ký Tài đã được Tao Đàn và NXB Hội Nhà Văn ấn hành đầy đủ. Những năm qua, cùng với chùm tiểu thuyết trong mạch “quái kỳ” ấy, ông còn hoàn thành một tập truyện ngắn, mà từng truyện trong đó từng được nhiều lần tuyển chọn vào tuyển tập “Vi hình tiểu thuyết” (truyện cực ngắn) của Trung Quốc, cũng như được dịch và giới thiệu ở nhiều nước khác nhau trên thế giới, đó là tập truyện “Tục Thế Kỳ Nhân” – Kỳ nhân giữa đời thường. Tập truyện gồm nhiều câu chuyện về những nhân vật ở vệ Thiên Tân xưa, tất cả đều có nguyên mẫu từ người thực việc thực, nhưng mỗi câu chuyện của họ đều có những điểm ly kỳ lưu lại nhiều dư vị cho người đọc. Phùng Ký Tài từng viết trong lời tựa tập sách rằng: “Vệ Thiên Tân vốn là một bến cảng, cư dân khắp bốn phương đến tụ cư, tính cách hoàn toàn khác nhau. Nhưng nơi đất cũ Yên, Triệu, huyết khí cương liệt, nước mặn đất phèn, thói tục mạnh tợn. Hơn trăm năm nay, phàm những đại tai đại nạn của Trung Hoa, chẳng khi nào không khởi phát từ nơi này trước nhất, vì vậy mà sinh ra vô vàn nhân vật khác lạ, chẳng những ở thượng tầng lớp trên, mà ngay cả ở nơi dân gian thôn quê phố thị” Và những “kỳ nhân diệu sự ấy, nghe mà tưởng chưa nghe, nếu như vứt bỏ qua đi, há chẳng đáng tiếc lắm sao?”  Trên Văn Nghệ Quân Đội số 963, tháng 4/2021 vừa qua, tôi trích dịch và giới thiệu 3 trong số các truyện trong tập “Tục Thế Kỳ Nhân” của Phùng Ký Tài. Nay xin đăng một truyện trong số đó cùng hình minh họa của chính tác giả (trong tập "Tục Thế Kỳ Nhân" này, Phùng Ký Tài - vốn xuất thân là một họa sĩ tài năng - còn tự tay vẽ hình minh họa cho tất cả các truyện của mình) vẽ để các bạn đọc vui. Hy vọng toàn bộ tập truyện cũng sẽ sớm được ấn hành để các bạn thưởng thức. 


MẮT XANH

Trong hàng đồ cổ, có một cặp “kình địch”, đó là kẻ làm tranh giả và người thẩm định tranh giả. Kẻ làm tranh giả, dốc cạn tâm cơ, dùng hết tuyệt chiêu, chỉ cốt làm sao để lừa được qua đôi mắt vừa sắc nhọn vừa tinh quái của người thẩm định tranh giả; Còn người thẩm định tranh thì lại dựa vào đôi mắt của mình để nhìn ra thiên cơ, nhận biết quỷ kế, túm được cái chót đuôi còn chưa giấu được kỹ của tên làm tranh giả ấy, mà lôi được nó giữa cả đống tranh ra, đem phơi bày dưới ánh sáng ban ngày.

Người thẩm định tranh giả ấy tên gọi là Mắt Xanh, làm việc chuyên thẩm định tranh ở tiệm đồ cổ Dụ Thành Công trên phố Hàng Nồi. Mắt Xanh không phải tên thật ông ấy. Ông ấy họ Giang, vốn tên Tại Đường, Mắt Xanh là biệt hiệu của ông ta. Người Thiên Tân thích đặt biệt hiệu, một là dễ gọi, hai là dễ nhớ. Cái tên Mắt Xanh ấy bắt nguồn từ cặp kính cận của ông ta, mắt kính dày như cái đít chai, ánh lên màu xanh lam, nhìn y hệt như một đôi mắt xanh vậy. Nhưng, điểm quan trọng của Mắt Xanh là ở đôi mắt của ông ta. Nghe nói, ông ta dẫu tắt đèn nhìn tranh cũng có thể nhận ra tranh thật hay tranh giả, câu ấy tuy nghe có vẻ huyễn hoặc nhưng tài nghệ của ông ấy thì không hề sai. Đôi mắt xanh của ông ta khi xem tranh đúng thật là rất thần kỳ: khi nhìn tranh giả thì hai mắt không có thần thái gì, nhưng khi nhìn tranh thật, thì lóe lên một luồng ánh sáng xanh biếc.

Hôm ấy, có một người ăn mặc ra dáng học trò bước vào trong tiệm, tay cầm một cuộn tranh, bên ngoài có nhan đề ghi mấy chữ: “Đại Địch Tử hồ thiên xuân sắc đồ” (Tranh “Hồ thiên xuân sắc” của Đại Địch Tử). Mắt Xanh nhìn mà như không nhìn, ông biết rõ rằng bất luận nhan đề bên ngoài có viết thế nào cũng không nghĩa lý gì cả, thực hay giả cứ phải xem tranh mới biết. Nhanh như chớp, soẹt một cát ông ta kéo cuộn tranh ra để lộ chừng nửa thước bức tranh chính. Đó chính là “nửa thước sống còn” nổi tiếng của Mắt Xanh: ông ta xem tranh bất luận là tranh lớn hay nhỏ, chỉ xem nửa thước. Là thật hay giả, thảy chỉ cần dựa vào nửa thước tranh ấy nói chuyện, tuyệt nhiên không cần xem thêm một ly một tấc nào nữa. Mắt Xanh nhìn nửa thước tranh, cặp mắt kính chợt lóe lên một tia sáng xanh. Ông ta ngửng đầu lên hỏi người vừa tới: “Anh định bán bao nhiêu tiền?”

Người vừa đến không vội ra giá, mà nói: “Nghe nói ông ba Hoàng ở phía tây thành cũng từng lâm mô[1] bức tranh này.”

Ông ba Hoàng là một tay cao thủ đệ nhất về làm tranh giả ở Tân Môn. Những người làm trong các tiệm đồ cổ đều sợ ông ta. Chẳng ngờ, Mắt Xanh nghe mà cũng như không nghe, lại nói lại lần nữa: “Trong mắt ta trước giờ chẳng hề có ‘ông ba Hoàng’ nào cả. Anh nói đi, anh định bán bức tranh này bao nhiêu nào?”

“Hai dây!” – Người vừa đến nói. “Hai dây” ông ta nói, tức là hai mươi lạng vàng mười.

Giá ra không thấp, cũng không phải là quá cao, hai bên cùng mặc cả kẻ nâng lên người hạ xuống, cuối cùng thống nhất là mười tám lạng.

Từ hôm ấy, các tiệm đồ cổ ở Tân Môn đều cùng xôn xao chuyện tiệm Dụ Thành Công ở phố Hàng Nồi mua được một bức tranh sơn thủy của Đại Địch Tử - Thạch Đào[2], màu mực đỏ nhạt, vô cùng mướt nhuận, bên trên còn có một đoạn đề bạt, vô cùng hiếm có. Có người nói, món đồ ấy là từ trong phủ một vị vương gia nào đó ở Bắc Kinh lưu lạc ra. Người đến bán tranh không thạo nghề lắm, nên Mắt Xanh mới tóm được món hàng chuẩn như thế. Tiền nào của ấy, bỏ ra nhiều tiền thì món đồ càng quý. Bức tranh vẽ tinh vi như thế của Đại Địch Tử, mười năm nay chưa từng xuất hiện trong các tiệm đồ cổ ở Thiên Tân. Bấy giờ không có báo chí, chỉ có thông tin truyền miệng, càng nói càng thần kỳ, càng truyền càng rộng rãi. Người ta túm năm tụm ba, nối nhau đến xem tranh, khiến tiệm Dụ Thành Công hóa ra một hàng tơ lụa, trưng diễn đủ loại áo quần.

Chuyện ở đời, bên này nói đủ rồi, thì lại bắt đầu nói đến bên kia. Đại khái sau sự việc chừng ba tháng, bắt đầu có người nói, bức tranh của Đại Địch Tử ở tiệm Dụ Thành Công không đáng tin. Mới xem qua thì thực sự khiến người ta phải giật mình, nhưng xem qua mấy lần thì bắt đầu thấy nhạt nhẽo vô vị, không có tinh thần. Phân biệt giữa tranh thật với tranh giả là: tranh thật có thể ngắm mãi được, còn tranh giả thì không thể nhìn lâu được. Sau khi câu đồn đại ấy lan truyền, liền có tin nổi lên rằng: có người nói bức tranh ấy là tranh giả do bàn tay ông ba Hoàng ở phía tây thành làm ra! Câu nói ấy hỏi có khác nào một chậu nước bẩn té vào áo của Mắt Xanh không?

Mắt Xanh có căn cứ của mình, nên chẳng thèm quan tâm. Nhưng càng không thèm quan tâm thì lời đồn lại càng huyễn hoặc. Về sau thành ra nói đến chi li cụ thể, có mắt có tai. Rằng: có người trông thấy hàng thật của bức tranh này trong một nhà ở phố Chợ Kim. Thế là, lại liên tục có từng bọn túm năm tụm ba nối nhau đến tiệm đồ cổ Dụ Thành Công xem tranh, nhưng lần này là họ muốn xem xem ông ba Hoàng đã làm cách nào mà có thể bịt được mắt của Mắt Xanh. Trước nay chuyện xem một kẻ tài năng bị cho một vố bao giờ chả hào hứng thích thú!


Chủ tiệm Dụ Thành Công là ông năm Đồng trong lòng đã hơi lo sợ, bèn nói với Mắt Xanh: “Tôi tin vào nhãn lực của ông, nhưng tôi không chống nổi những lời đồn đại bên ngoài, kéo nhau đến quấy nhiễu khiến cho tiệm chúng ta cả ngày ầm ĩ. Hay là ta nên tìm lấy một người đi dò hỏi xem bức tranh kia ở đâu. Nếu như thực có một bức tranh giống hệt thế này, thì nghĩ cách đem được nó ra, phân biệt rõ ràng thực giả, thì càng cho họ thấy rằng chúng ta mới là cao thủ.”

Mắt Xanh nghe ra sự lo lắng trong câu nói của ông chủ, nhưng những lời đồn thổi nào có chịu ngừng, trừ phi làm theo như lời của ông chủ nói, thực giả cùng đưa cả ra một lượt. Họ gây náo loạn trong bóng tối, mình phải giành thắng lợi giữa ban ngày.

Ông chủ Đồng tìm được thằng năm Vưu. Năm Vưu là một con chuột già thổ địa ở vệ Thiên Tân, chui rúc khắp nơi, chuyện gì cũng có thể bảo hắn đem hai tai mà mò ra được. Họ sai thằng năm Vưu đi nghe ngóng, hôm sau thì liền có tin tức. Hóa ra đúng thực là có một bức tranh khác của Đại Địch Tử, cũng gọi là “Hồ thiên xuân sắc đồ”, hơn nữa đúng là trong nhà một người họ Thôi ở phố Chợ Kim! Ông chủ Đồng và Mắt Xanh đều không biết nhà họ Thôi ấy là ai. Ông chủ Đồng bèn bảo năm Vưu dẫn Mắt Xanh đi xem. Mắt Xanh không thể không đi, đến khi tới nhà ấy vừa nhìn xem, thì đôi mắt kính của Mắt Xanh chợt lóe lên hai luồng ánh sáng xanh biếc! Hỏng rồi!

Tranh thật hóa ra là bức tranh này. Còn bức tranh ở tiệm nhà mới là tranh giả! Kích thước, màu sắc, đường nét tất thảy của hai bức tranh hoàn toàn giống hệt nhau, ngay đến con dấu cũng là được phỏng khắc. Thế nhưng thần khí thì không giống nhau. Nhìn xem, bức tranh thật này mới thần khí thế nào!

Khi trước, mắt ông ta nhìn thế nào, thì cũng không biết được nữa. Nhưng bây giờ đối diện với bức tranh này, thì thực chỉ hận là không có lỗ nẻ mà chui xuống đất. Suốt hai mươi năm trời Mắt Xanh chưa nhìn lầm một bức tranh nào. Mắt Xanh ông ta gần như đã thành một vị thần trong giới đồ cổ rồi, ông ta nói thật là thật, mà nói giả thì chắc chắn là giả, không ai không tin. Nhưng lần này mắt lại nhìn trật, nếu như chuyện lan truyền ra thì danh tiếng sẽ bị hủy hoại hết. Nghề thẩm định tranh giả tranh thật, nhìn đúng cả đời cũng là điều đương nhiên, nhưng chỉ cần nhìn sai một bức là sự nghiệp đổ sông đổ biển sạch cả.

Mắt Xanh không nói một câu. Quay về đến tiệm ông ta nói hết sự thực với ông chủ. Dụ Thành Công và Mắt Xanh là một, nếu đổ thì sẽ cùng đổ cả. Ông chủ Đồng suy nghĩ một đêm, cuối cùng cũng có chủ ý của mình, quyết định phải mua bằng được bức tranh của Đại Địch Tử ở nhà họ Thôi. Có phải trả giá cao thế nào cũng không được tiếc. Hai bức tranh cùng nắm trong tay mình rồi, cái nào thật, cái nào giả đều do mình nói cả. Nhưng để làm việc này thì họ quyết không thể lộ mặt được, bèn lại bỏ tiền nhờ một người đóng giả làm người hỏi mua đi theo thằng năm Vưu đến nhà họ Thôi mua bức tranh ấy. Ai ngờ nhà họ Thôi kia vừa mở miệng đã đòi mức giá trên giời, nếu không được thế thì nhất định giữ lại chứ không bán. Mua bán thứ gì cũng sợ nhất là một bên chẳng bán chẳng sao, còn một bên thì chẳng mua chẳng được. Nhưng người đóng giả đi hỏi mua kia trong bụng đã vững chí, vì lúc đi mua ông chủ Đồng đã có lời với anh ta rằng, “dù có phải phá tan cả cái tiệm này của tôi, anh cũng phải mua bằng được bức tranh cho tôi”. Vậy nên anh ta cứ nhượng bộ hết lần này đến lần khác, cuối cùng phải bỏ ra đến bảy “dây” vàng mười mới mua được bức tranh về tay mình, gấp hơn bốn lần số tiền đã phải bỏ ra mua bức tranh lần trước.

Đến khi mang bức tranh ấy về tới tiệm Dụ Thành Công rồi, ông chủ Đồng mới thở phào một tiếng, tuy trong bụng sót tiền, nhưng còn giữ vững được biển hiệu của tiệm Dụ Thành Công. Ông gọi người làm đem hai bức tranh cùng treo lên tường sóng hàng cạnh nhau, để xem xét cho thật kỹ cho sáng mắt sáng lòng. Đợi hai bức tranh treo xong, Mắt Xanh bước lên xem xét, mắt kính ông ta soẹt soẹt soẹt lóe lên ba luồng sáng. Người đứng như trời trồng ở đó. Một chuyện kỳ quái dưới gầm giời đã hiện ra ngay trước mắt: Hóa ra chính bức tranh mua được lần đầu mới là tranh thật, còn bức tranh vừa mua về kia lại là tranh giả!

Thật giả nếu không để cùng một chỗ mà so sánh, thì căn bản không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả - Đó mới là tài nghệ của kẻ làm tranh giả, và cũng là tài nghệ cao siêu nhất!

Như thế thì đôi mắt của Mắt Xanh là con mắt gì? Mắt thịt chăng?

Mắt Xanh thở dài một hơi nhắm mắt lại. Ba hôm sau, ông đem tất cả mọi việc trước sau sâu chuỗi lại một lượt với nhau, khi ấy mới rõ, hóa ra tất cả những việc này đều là ông ba Hoàng ngầm giăng bẫy ra, rồi từng bước từng bước dụ cho Mắt Xanh chui vào. Người ta bán bức tranh thật cũng không thiệt, mà bán bức tranh giả giá lại càng cao như giời. Ông chợt nhớ lại, kẻ ăn mặc ra vẻ thư sinh đến bán tranh lúc đầu tiên chẳng phải đã nói với ông rằng: ‘Ông ba Hoàng cũng từng lâm mô bức tranh này’ đó sao? Người ta đã có lời nói trước, ngỏ rõ cho biết sớm rằng bức tranh này có thật có giả. Như vậy thì còn oán trách ai? Xem ra, ông ba Hoàng này chẳng phải chỉ là lừa để lấy tiền, mà chính là để thử mình. Người ta cho mình cầm sẵn bức tranh thật trong tay, rồi mới bán bức tranh giả của họ làm ra. Tuyệt làm sao! Đến khi Mắt Xanh hiểu rõ câu chuyện như thế, mới coi như hiểu rõ ngọn ngành, nhận thua thực sự! Sau hôm ấy, Mắt Xanh gói gém tay nải rời khỏi tiệm Dụ Thành Công. Từ đó, chẳng những giới đồ cổ ở Thiên Tân không còn cái biệt hiệu ấy của ông ta, mà khắp thành Thiên Tân cũng không trông thấy bóng dáng ông ta đâu cả. Có người nói, ông ta bị một trận ốm nặng, rồi nằm xuống, không bao giờ dậy nữa. Thua đến thảm thương như thế!

Lại thử nghĩ lại xem, Mắt Xanh lại còn có điểm thảm hơn nữa, đó là: ông ta thua ông ba Hoàng, nhưng chỉ trông thấy nét bút của ông ba Hoàng chứ mặt mũi người ta thế nào cũng không cho ông ta được thấy!

Điều may mắn là, Mắt Xanh cuối cùng cũng nghĩ được ra đó là bàn tay của ông ba Hoàng. Chết cũng hiểu rõ vì sao.

(Châu Hải Đường dịch)

[1] Lâm mô: Thuật ngữ thư họa, chỉ việc viết, vẽ lại theo một bức thư pháp, hay bức tranh của người khác.

[2] Thạch Đào: Danh họa gia đầu đời Thanh, tên thật Chu Nhược Cực, ông có nhiều biệt hiệu, trong đó có biệt hiệu “Đại Địch Tử”. 


Thứ Hai, 8 tháng 2, 2021

THƠ ĐƯỜNG: THỂ LOẠI VÀ THANH LUẬT

Nền thi ca của Trung Quốc đã có lịch sử lâu đời, mà bắt nguồn sớm nhất của thơ ca chính là từ những bài ca dao của nhân dân lao động, mà từ rất sớm, Khổng Tử đã ghi chép và biên soạn thành Kinh Thi với hơn ba trăm bài. Suốt thời gian tiếp theo đó, thơ ca vẫn  luôn được kế thừa và sáng tạo, với nhiều tên tuổi thi nhân xuất sắc từ Khuất Nguyên với tác phẩm “Ly tao” nổi tiếng thời Chiến Quốc, đến các tác giả đời Hán: như Lý Lăng, Tam Tào, Kiến An thất tử cùng thể loại Nhạc phủ, đến đời Tấn với Tạ Linh Vận, Tạ Diểu, Nhan Diên Chi, Bão Chiếu … Và đến đời Đường thì có thể nói, nền thi ca Trung Quốc đã hoàn thiện  đến đỉnh cao và ảnh hưởng tiếp nối suốt thời gian dài sau này. Không những chỉ ở Trung Hoa, mà còn ảnh hưởng chung đến nền thi ca nói riêng cũng như văn chương nói chung của các nước đồng văn lân cận, trong đó có Việt Nam.

1.       Sơ lược diễn tiến phát triển của thi ca đời Đường:

Đời Đường, có thể nói là thời kỳ hoàng kim của thi ca Trung Quốc, “Toàn Đường thi” đời Thanh thu lục tới hơn 50.000 bài thơ cùng gần 3.000 tác giả, trong đó có tới mấy ngàn bài thơ được lưu truyền rộng rãi, cùng nhiều tên tuổi được quảng đại quần chúng biết tới. Thi ca đời Đường có thể chia làm 4 thời kỳ: Sơ, Thịnh, Trung và Vãn Đường.

Thời kỳ Sơ Đường (618 – 712):

Là thời kỳ thơ Đường bắt đầu manh nha và hình thành phong cách thơ Đường. Thời kỳ này, thi ca cơ bản tiếp nối thời kỳ Nam Triều, những nhân vật chủ chốt trên thi đàn phần lớn là cựu thần nhà Trần, nhà Tùy và các văn nhân trong cung đình, như: Ngu Thế Nam, Chử Lượng, Dương Sư Đạo, Lý Bách Dược, Thượng Quan Nghi, Lý Kiệu, Tô Vị Đạo, Thôi Dung, Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn … Tác phẩm phần đa là ứng chế phụng họa. Trong đó có thể kể đến: Thượng Quan Nghi, Thẩm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn – những văn nhân ngự dụng của triều đình - cách luật của thơ cận thể đời Đường đã được hoàn thiện bởi bàn tay của họ.

Nổi bật nhất trong thời kỳ này phải kể đến “Sơ Đường tứ kiệt” và Trần Tử Ngang, với những bài thơ nói nên nỗi lòng mình, cùng cảm thán về nhân sinh và đời sống xã hội. 

Tứ kiệt tức Vương (Bột), Dương (Quýnh), Lư (Chiếu Lân), Lạc (Tân Vương).

Một nhân vật quan trọng nhất của thời Sơ Đường là Trần Tử Ngang. Cống hiến của Tử Ngang là đề ra được lý luận và thúc đẩy sự cách tân một cách hoàn toàn cho Đường thi. Cuộc đời của Trần Tử Ngang có thể dùng mấy chữ “Bất hợp thời nghi”, ông không làm quan chức gì nhưng lại dám dâng thư can gián lên Võ Hậu và cuối cùng bị hại chết trong ngục. Nhưng, điều lớn hơn mà Trần Tử Ngang đã làm là: không theo thói tục theo con đường thi ca đời Lục Triều, mà chủ trương phát huy Kinh Thi cũng như “Hán Ngụy phong cốt” điều ấy đã ảnh hưởng lớn đến con đường trở nên thành thục và lớn mạnh của thơ Đường từ đó về sau.

Thời kỳ Thịnh Đường (713 – 765): chỉ thời kỳ từ niên hiệu Khai Nguyên, Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông đến những năm 50 niên hiệu Đại Lịch đời Đường Đại Tông.

Thời kỳ Khai Nguyên và đầu Thiên Bảo chính trị đời Đường thịnh trị thái bình, kinh tế phát triển, khiến văn hóa cũng phát triển mạnh mẽ, có thể kể đến: thư pháp của Trương Húc, Hoài Tố, Nhan Chân Khanh; Hội họa của Ngô Đạo Tử, Lý Tư Huấn, Vương Duy, âm nhạc của Lý Quy Niên, Đổng Đình Lan, Lý Mô, Hoàng Phiên Xước …

Thi ca Thịnh Đường phát triển trước tiên ở số lượng lớn danh gia xuất hiện, mà trước tiên phải kể đến Lý Bạch, Đỗ Phủ, ngoài ra còn có: Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Cao Thích, Sầm Tham, Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán, Thôi Hiệu …

Thời kỳ này, không thể không nhắc đến loạn An Sử vào năm Thiên Bảo 14 (755) và kéo dài 8 năm. Nó không những là đòn đánh mạnh vào nền chính trị nhà Đường, khiến nhà Đường ngã quỵ khó mạnh lên nổi, mà còn phá tan thi đàn Thịnh Đường, khiến hàng loạt thi nhân phải chịu kết cục bi thảm, nhưng cũng có những tác phẩm (như của Đỗ Phủ) phản ánh sâu sắc đời sống khổ cực của nhân dân, khiến thi ca Thịnh Đường chẳng những không bị chìm lắng, mà còn thêm huy hoàng rực rỡ.

Vương Duy, Lý Bạch, Đỗ Phủ trở thành những đại biểu kiệt xuất không chỉ trong thời kỳ này, mà còn của cả nền thi ca đời Đường.

(Lý Bạch Túy Tửu Đồ - tranh T.Q - Nguồn: Internet)


Thời kỳ Trung Đường (766 – 859):
chỉ thời kỳ 100 năm từ  niên hiệu Đại Lịch đến Đại Trung

Loạn An Sử tuy chỉ kéo dài 8 năm, nhưng lại mang tính hủy diệt đối với đế quốc Đường bấy giờ. Để dẹp loạn An Sử, nhà Đường đã làm hai việc sai lầm là: mượn quân của Thổ Phồn, Hồi Hột, dẫn đến việc ngoại tộc xâm nhập biên cảnh; và ứng sử mềm yếu với phiên trấn, tạo nên hiện tượng phiên trấn cát cứ, khiến nhà Đường khi bước vào thời kỳ Trung Đường đã có những dấu hiệu suy bại. Nhà Đường tuy “Trung hưng” những đã không còn lớn mạnh và hưng thịnh như trước nữa.

Thi đàn thời Trung Đường đối diện với vấn đề: các nhà thơ đời Thịnh Đường đã đạt đến một cảnh giới rất cao, đề tài rất rộng, và thơ viết rất hay, khiến người sau khó mà vượt qua nổi. Vì vậy họ đã lựa chọn một lối đi khác. Các tác giả thời kỳ này như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Mạnh Giao, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn, Lưu Vũ Tích , Lý Hạ đều tìm con đường cách tân thi ca. Phất ngọn cờ lớn nhất trong việc cách tân thi ca phải nói đến Hàn Dũ, Mạnh Giao, và Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn.

Trước Hàn Mạnh Nguyên Bạch một chút phải kể đến: “Đại Lịch thập tài tử”[1] cùng mấy người như: Lưu Trường Khanh, Vi Ứng Vật, Nguyên Kết, Cố Huống đã mở lối cho thời kỳ này.

Đồng thời, trong giai đoạn này cũng phải nhắc đến: Thiên tài đoản mệnh, thi quỷ Lý Hạ - một người nổi tiếng thần đồng khiến Hàn Dũ phải kinh ngạc, cùng Hoàng Phủ Thực đích thân đến tận nhà thăm. Khi ấy Lý Hạ liền viết bài thơ “Cao hiên quá” để tặng, khi ấy ông mới 7 tuổi. Về sau Lý hạ mất khi mới 27 tuổi. Và hai nhân vật Trung Đường hậu kỳ: Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn được gọi là “Tiểu Lý Đỗ” khi so với Lý Bạch và Đỗ Phủ trước kia.

Thời kỳ Vãn Đường (860 – 907): chỉ giai đoạn từ năm Hàm Thông nguyên niên đời Đường Ý Tông cho đến cuối đời Đường.

Thời kỳ Vãn Đường, nhà Đường đã không còn khí tượng phồn thịnh của thời kỳ trước nữa, thi ca thời kỳ này cũng mang đầy tình cảm đau đớn bi ai, nhưng về mặt kỹ xảo, lại có sự phát triển nhất định. Trong “Lục Nhất thi thoại”, Âu Dương Tu đời Tống có nói: “đời Vãn Đường, thi nhân không còn phong cách hào phóng như Lý, Đỗ, nhưng ý tứ tinh tế lại rất cao” chính là như vậy.

Thi ca Vãn Đường có thể chia làm 3 loại hình:

Loại 1: đại biểu là Bì Nhật Hưu, Lục Quy Mông, Nhiếp Di Trung, Đỗ Tuân Hạc, kế thừa Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, vạch trần mặt đen tối của xã hội.

Loại 2: đại biểu là Giả Đảo, Diêu Hợp:, thi ca nội dung bó hẹp, rất ít phản ánh đời sống xã hội, hình thành một phong cách nghệ thuật: Thanh sấu khổ tịch ().

Loại 3: Đại biểu là Vi Trang, Tư Không Đồ, Hàn Ốc, những tác giả này đường hoạn lộ tương đối hanh thông, cuộc sống đầy đủ, thi ca phần nhiều trốn tránh hiện thực, hoặc gửi tình vào sơn thủy, hoặc chìm đắm vào thanh sắc, cách điệu không cao lắm, nhưng thành tựu nghệ thuật rất cao.

Một trong những nhà thơ trọng yếu nhất thời Vãn Đường phải kể đến là Ôn Đình Quân.

2.       Thể loại thơ Đường:

Về thể loại thơ Đường, ở mức độ khái quát nhất, có thể chia làm hai loại lớn: Cổ Thể Thi và Kim Thể Thi (hay Cận Thể Thi). Cổ thể thi: chỉ những thể loại thi ca mà các thi nhân đời Đường kế thừa từ các đời trước đó; còn Kim thể thi chỉ những bài thơ làm theo cách thức mới được sáng tạo từ đời Đường – gọi là thơ Đường luật. Vì sao lại gọi như vậy? Là vì, thể thơ mới này có quy định chặt chẽ về số câu, số chữ, bằng trắc và đối tỉ. (Cụ thể chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn ở các mục dưới đây.)

Cổ Thể thi lại chia thành : Ngũ ngôn cổ thi (cũng gọi Ngũ cổ) – chỉ thể loại thơ mỗi câu có 5 chữ, không giới hạn số câu, ví dụ những bài: “Tam Lại”, “Tam Biệt” của Đỗ Phủ mỗi bài có tới mấy chục câu, nhưng “Du tử ngâm” của Mạnh Giao lại chỉ có 6 câu; và Thất ngôn cổ thi (cũng gọi Thất cổ): mỗi câu 7 chữ và không giới hạn số câu. Ví dụ như: “Trường hận ca” của Bạch Cư Dị có tới 120 câu, nhưng “Ngư ông” của Liễu Tông Nguyên lại chỉ có 6 câu.  Trong Cổ Thể thi, lại có một thể loại gọi là Tạp ngôn, số chữ trong câu dài ngắn khác nhau từ 3 đến 9 chữ. Ví dụ như bài: “Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” Vì trong Tạp ngôn thi số câu có 7 chữ chiếm phần lớn, nên người ta thường xếp nó vào thể loại Thất ngôn cổ thi.

Kim Thể thi (hay Cận thể thi) lại chia thành: Luật thi Tuyệt cú.

Luật thi lại chia ra: Ngũ ngôn luật thi (cũng gọi Ngũ luật): mỗi bài chỉ có 8 câu, mỗi câu 5 chữ. Ví dụ như bài “Sơn cư thu mính” của Vương Duy; Và Thất ngôn luật thi (cũng gọi Thất luật): mỗi bài 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Ví dụ như: “Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc” của Đỗ Phủ. Trong Luật thi, lại có một loại là Ngũ ngôn trường luật, cũng gọi Ngũ ngôn bài luật: mỗi câu 5 chữ, giữ theo thể thức (đối ngẫu) như thơ luật, nhưng số câu dài hơn 8 câu, thường thường là 12 câu, cũng có bài dài hơn. (thể loại này, chủ yếu là ngũ ngôn, rất ít có thất ngôn) Ví dụ bài: “Học chư tiến sĩ tác Tinh Vệ hàm thạch điền hải” của Hàn Dũ có 12 câu.

Tuyệt cú cũng chia làm 2 loại: Ngũ ngôn tuyệt cú (cũng gọi Ngũ tuyệt): mỗi bài 4 câu, mỗi câu 5 chữ. Ví dụ bài “Đăng Quán Tước lâu” của Vương Chi Hoán; và Thất ngôn tuyệt cú (thất tuyệt): mỗi bài 4 câu, mỗi câu 7 chữ. Ví dụ bài “Dạ vũ ký bắc” của Lý Thương Ẩn.

Tuyệt cú xuất hiện sớm hơn so với luật thi, nhưng trước thời Đường thì phương diện dùng vần và bằng trắc của thơ tuyệt cú còn chưa có quy định, không được chuẩn tắc. Vì vậy, người sau này mới gọi những bài tuyệt cú làm tương đối tự do, không có quy định gì là Cổ tuyệt, mà gọi những bài tuyệt cú làm chuẩn tắc theo quy định là Luật tuyệt. Nhưng trong Cổ tuyệt cũng có không ít những câu có thể dùng thông vào Luật tuyệt, vì vậy ranh giới giữa hai thể loại này không thực sự rõ ràng, thường chỉ gọi chung là Tuyệt cú. 

1.       Bằng trắc và niêm luật:

a.      Bằng trắc:

Thanh điệu ngôn ngữ xưa chia ra thành 4 loại: Bình, Thượng, Khứ, Nhập. Trong 4 thanh, thì Bình thuộc về thanh Bằng- âm thanh nhu hòa, kéo dài, bằng phẳng ít lên xuống giọng. Còn lại 3 thanh: Thượng, Khứ, Nhập đều thuộc thanh Trắc – ý nói không bằng phẳng, lên xuống nhiều, ít kéo dài thậm chí không có. Thơ Luật căn cứ theo quy tắc nhất định để sắp đặt bằng trắc, sao cho thanh bằng thanh trắc được điều tiết, hình thành nên sự biến hóa cao thấp trong thanh điệu và sự hài hòa của ngôn ngữ.

Theo cách phân chia dấu thanh hiện đại của tiếng Việt, chúng ta có các thanh: huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã, và không dấu. Nếu chia ra bằng trắc, thì các từ có dấu huyền, hoặc không dấu thuộc về thanh bằng; còn lại: sắc, nặng, hỏi, ngã đều thuộc thanh trắc. Nếu chia kỹ hơn nữa, ta còn có thể chia thanh điệu ra trầm phù, thanh trọc hay âm dương. Tuy nhiên việc này trong Đường thi không quá quan trọng, nhưng đối với thể loại khác (ví dụ Tống từ) thì rất quan trọng. (Ví dụ âm bình: không dấu; dương bình: dấu huyền).

Tham khảo cách phân chia thanh điệu và dấu thanh hiện đại:

 

Bình

Thượng

Khứ

Nhập

Phù, Thanh. Thượng (âm)

Không dấu

Hỏi (?)

Sắc (/)

Sắc (/) (có p, t, ch ở cuối)

Trầm, Trọc, Hạ (dương)

Huyền (\)

Ngã (~)

Nặng (.)

Nặng (.) (có p, t, ch ở cuối)

 

b.      Niêm luật:

Như trên đã nói, những bài thơ làm theo cách thức mới được sáng tạo từ đời Đường – gọi là thơ Đường luật. Sở dĩ gọi như vậy, là vì, thể thơ mới này có quy định chặt chẽ về số câu, số chữ, bằng trắc và đối tỉ. Cụ thể:

1.       Số câu, số chữ cố định: 8 câu, 7 chữ; hoặc 8 câu 5 chữ.

2.       Áp vận nghiêm ngặt (toàn bài 1 vần), vần bắt buộc là vần bằng, và phải áp ở các câu chẵn. Và có thể theo hoặc không ở câu đầu (câu đầu theo vần là chính cách).

3.       Bằng trắc của các chữ trong câu được quy định chặt chẽ. Cụ thể các chữ ở vị trí chẵn trong mỗi câu (tức vị trí thứ 2,4,6) phải luân phiên mang  các thanh bằng – trắc – bằng; hoặc ngược lại.

4.       Yêu cầu đối ngẫu ở 2 cặp câu giữa bài.

Cụ thể rõ hơn về luật bằng trắc trong một bài thơ Đường luật là: 

-          Các chữ thứ 2,4,6 trong mỗi câu luân phiên nhau bằng trắc. Tức là: nếu chữ thứ 2 là thành bằng, thì chữ thứ 4 sẽ thanh trắc, và chữ thứ 6 lại thành bằng. Hoặc ngược lại.

-          Các câu 1-2, 3-4, 5-6, 7-8 bằng trắc ở các chữ vị trí chẵn nói trên phải đối thanh với nhau. Tức là: nếu câu 1 có các chữ thứ 2,4,6 mang thanh bằng trắc lần lượt là: bằng-trắc-bằng; thì câu thứ 2, các chữ 2,4,6 sẽ mang thanh bằng trắc lần lượt là: trắc-bằng-trắc. Hoặc ngược lại. Với các cặp câu còn lại cũng như vậy.

-          Bằng trắc của các chữ vị trí chẵn (2,4,6) ở các câu: 2 và 3; 4 và 5, 6 và 7; và cuối cùng là 8 và 1, phải cùng thanh bằng hoặc trắc. Tức là, nếu các chữ vị trí chẵn của câu 1 là: bằng - trắc - bằng, thì như trên nói, các chữ vị trí chẵn của câu 2 sẽ phải là: trắc - bằng - trắc. Và các chữ vị trí ấy của câu thứ 3 cũng phải là: trắc - bằng – trắc, giống như câu 2. Đây chính là khái niệm “Niêm” mà chúng ta vẫn thường nghe. 

Từ 3 quy định trên, ta sẽ phải xác định bằng trắc của các chữ vị trí chẵn ở các câu tiếp theo cho tới hết bài sao cho đảm bảo đúng luật và niêm.

Quy định bằng trắc của luật thi chủ yếu là với các chữ số chẵn, tức các chữ thứ 2, 4 trong câu đối với thơ ngũ ngôn, và các chữ thứ 2, 4, 6 trong câu đối với thơ thất ngôn. Vì vậy người ta có câu khẩu quyết: “Nhất tam ngũ bất luận; Nhị tứ lục phân minh.”

Đối với thơ Ngũ luật, thì quy định về niêm luật vẫn áp dụng tương tự như thơ thất luật, với các chữ vị trí chẵn tức các chữ thứ 2, 4 trong câu. Và niêm thì cũng tương tự,

Đối với thơ Tuyệt luật, thất ngôn hay ngũ ngôn cũng tương tự như vậy. Chỉ là rút xuống còn 4 câu mà thôi.

Chính vì vậy người ta thường coi, thơ ngũ luật chỉ là thơ thất luật mà giảm bớt đi 2 chữ. Và thơ tuyệt luật cũng là thơ luật mà giảm bớt đi 4 câu vậy.

2.       Vần trong thơ Đường:

Áp vận trong thi từ thơ ca có tác dụng giúp bài thơ có âm điệu hài hòa, giàu nhạc cảm. Mỗi thể loại thơ ca có một quy định về vần (hay áp vận) khác nhau, từ vị trí cho đến sự biến hóa thay đổi. (ví dụ: thơ lục bát, song thất lục bát, hát nói … Từ, thơ..) Chữ có vần (áp vận) được gọi là “vận cước” (韵脚).

Quy định về vần trong thơ cận thể có mấy điểm cần lưu ý như sau:

1.       Các câu áp vận là những câu chẵn cụ thể là các câu: 2,4,6,8. Câu đàu có thể theo vần hoặc không. Ví dụ “Đăng quán tước lâu” của Vương Chỉ Hoán câu đầu không áp vận. “Dạ vũ ký bắc” của Lý Thương Ẩn thì có.

2.       Chữ áp vận bắt buộc phải là thanh bằng, còn chữ cuối những câu không áp vận bắt buộc phải là thanh trắc. (những bài thơ có vần trắc đương nhiên được xếp vào thơ cổ thể)

3.       Bài thơ theo vần nào thì phải theo 1 vần đó cho đến hết bài, không thể đổi vận (trừ câu có thể dùng bàng vận thì các câu khác đều không) (Thơ cổ thể có thể đổi nhiều vần khác nhau, thậm chí chấp nhận 1 vài câu lạc vận)

Đối với  Thơ cổ thể, việc áp vận lại là:

1.       Không cần phải chỉ dùng 1 vần, có thể đổi vần (ví dụ bài “Bạch tuyết ca tống Vũ phán quan quy kinh” của Sầm Tham

2.       Do việc đổi vận, nên không chỉ câu chẵn mới theo vần, mà đôi khi câu lẻ cũng theo vần

3.       Có thể dùng vần trắc.

Tuy nhiên do sự ảnh hưởng của thơ luật, nên trong thơ cổ thể cũng có một số tác phẩm áp vận gần như theo cách thức của thơ luật, có quy tắc nhất định (như bài “Thùy lão biệt” của Đỗ Phủ chẳng hạn.

Việc chia vần để làm thơ thường rất chặt chẽ, vì vậy từ xưa người ta đã có những sách “Vận thư” chuyên biệt về vần để người học làm thơ vận dụng theo, trông đó chia ra những từ thuộc chính vận và bàng vận mà đôi khi chính người xưa còn khó phân biệt một cách rạch ròi được. Hiện nay, các bạn làm thơ, có thể tham khảo thêm từ bộ “Bình Thủy vận”.

 

3.       Đối trong thơ Đường:

Đối (sách Trung Quốc gọi là “đối trượng”) là quy tắc bắt buộc phải tuân thủ trong thơ Đường luật. Thơ Đường  luật, ngũ ngôn, hay thất ngôn đều gồm 8 câu, trong đó 2 câu làm thành 1 cặp (liễn), câu trước gọi là “xuất cú”, câu sau gọi là “đối cú”. danh xưng của từng cặp như sau:

Cặp 2 câu 1 và 2 gọi là: “Thủ liễn” (ta gọi là Đề/khai, khởi)

Cặp 2 câu: 3 và 4 gọi là “Hàm liễn” (ta gọi là Thực/thừa)

Cặp  câu 5, 6 gọi là: “Cảnh liễn” (ta gọi là Luận/chuyển)

Cặp  câu 7, 8 gọi là “Vĩ liễn” (ta gọi là Kết/hợp)

Trong đó 2 cặp giữa yêu cầu là  cặp câu đối nhau.

Vậy đối phải thế nào? Có thể các bạn cũng đã hiểu, nhưng tôi xin nói thêm cho rõ, đối ở đây cần đảm bảo mấy ý là:

 

Một là: từ tính đối nhau. Danh từ đối danh từ, động từ đối động từ …

Hai là: Loại hình kết cấu của từng cụm từ đối nhau. Ví dụ, kết cấu chủ vị, phải dùng kết cấu chủ vị đối lại; kết cấu động tân phải dùng kết cấu động tân đối lại…

Ba là: Nội dung ý nghĩa đối nhau, tên riêng đối nhau, thậm chí hình thức, từ ngữ trong 1 tên riêng cũng phải đối nhau…

Bốn là: Bằng trắc đối nhau.

Tuy nhiên cũng có những bài thơ không theo luật bằng trắc, nhưng được cho là giai tác, nên đặt cho danh xưng là “biến thể thi” mà xếp vào Luật thi, như “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu chẳng hạn: 4 chữ cuối cặp 2 câu 3,4 không hề đối nhau.

 

(Minh họa bài thơ "Thiếu niên hành"của
Vương Duy trong "Đường Thi Họa Phổ")

4.       Mô thức tiêu biểu của thơ Đường Luật:

 

Từ luật bằng trắc ở trên, chúng ta có thể thấy, trong mỗi câu thơ Đường, nếu xét các chữ ở vị trí chẵn thì có hai mô típ kết cấu câu là: bằng – trắc – bằng; hoặc: trắc – bằng – trắc. Những câu khởi chữ thứ 2 là vần bằng, người ta gọi là câu “bằng khởi”, còn những câu khởi chữ thứ 2 là vần trắc, người ta gọi là “trắc khởi”.

Nếu chữ cuối cùng trong câu (tức chữ thứ 7) là vần bằng, thì người ta gọi là “bằng thu”, còn nếu chữ ấy là vần trắc thì người ta gọi là “trắc thu”.

Bây giờ, kết hợp giữa khởi và thu, ta sẽ có 4 kiểu câu bằng trắc tiêu biểu  của thơ Đường luật, đó là:

 

a.       (*)B (*)T (T)BB (bằng khởi, bằng thu)

b.      (*)B (*)T (*)BT (bằng khởi, trắc thu)

c.       (*)T (B)B (*)TB (trắc khởi, bằng thu)

d.      (*)T (B)B (B) TT (trắc khởi, trắc thu)

(Vị trí (*) tức các chữ vị trí nhất tam ngũ bất luận)

Từ 4 câu tiêu chuẩn ấy, kết hợp cùng quy định về đối thanh, ta sẽ có 4 mô thức của một bài thơ luật Đường.

Chúng ta thử xem xét mô thức của thơ thất ngôn luật:

a.       (*)B (*)T (T)BB ;  - Câu mở đầu: bằng khởi bằng thu

(*)T (B)B (*)TB.

(*)T (B)B (B) TT;

(*)B (*)T (T)BB.

(*)B (*)T (*)BT;

(*)T (B)B (*)TB.

(*)T (B)B (B) TT; 

(*)B (*)T (T)BB

Ví dụ bài thơ “Tiền Đường hồ xuân hành” 錢塘湖春行của Bạch Cư Dị:

 

孤山寺北賈亭西,

水面初平雲腳低。

幾處早鶯爭暖樹,

誰家新燕啄春泥。

亂花漸欲迷人眼,

淺草才能沒馬蹄。

最愛湖東行不足,

綠楊蔭裏白沙堤。

 

Cô Sơn tự bắc, Giả đình tê (tây);

Thủy diện sơ bình vân cước đê.

Kỷ xứ tảo oanh tranh noãn thụ;

Thùy gia tân yến trác xuân nê.

Loạn hoa tiệm dục mê nhân nhãn;

Thiển thảo tài năng một mã đề.

Tối ái hồ đông hành bất túc;

Lục dương âm lý bạch sa đê.

 

b.      (*)T (B)B (*)TB ;  - Câu mở đầu: trắc khởi bằng thu

(*)B (*)T (T)BB.

(*)B (*)T (*)BT;

(*)T (B)B (*)TB.

(*)T (B)B (B) TT;

(*)B (*)T (T)BB.

(*)B (*)T (*)BT; 

(*)T (B)B (*)TB.

Ví dụ bài thơ”Vô đề” 無題của Lý Thương Ẩn:

 

相見時難別亦難,

東風無力百花殘。

春蠶到死絲方盡,

蠟炬成灰淚始乾。

曉鏡但愁雲鬢改,

夜吟應覺月光寒。

蓬萊此去無多路,

青鳥殷勤為探看。

 

Tương kiến thời nan, biệt diệc nan;

Đông phong vô lực bách hoa tàn.

Xuân tàm đáo tử ti phương tận;

Lạp cự thành hôi lệ thủy can.

Hiểu kính đãn sầu vân mấn cải;

Dạ ngâm ưng giác nguyệt quang hàn.

Bồng Lai thử khứ vô đa lộ;

Thanh điểu ân cần vị thám khan.

 

c.       (*)B (*)T (*)BT;  - Câu mở đầu: bằng khởi trắc thu

(*)T (B)B (*)TB.

(*)T (B)B (B) TT;

(*)B (*)T (T)BB.

(*)B (*)T (*)BT;

(*)T (B)B (*)TB.

(*)T (B)B (B) TT;

(*)B (*)T (T)BB.

Ví dụ bài thơ ”Thù Lạc Thiên Dương Châu sơ phùng tịch thượng kiến tặng” 酬樂天揚州初逢席上見贈của Lưu Vũ Tích:

 

巴山楚水淒涼地,

二十三年棄置身。

懷舊空吟聞笛賦,

到鄉翻似爛柯人。

沉舟側畔千帆過,

病樹前頭萬木春。

今日聽君歌一曲,

暫憑杯酒長精神。

 

Ba sơn Sở thủy thê lương địa;

Nhị thập tam niên khí trí thân.

Hoài cựu không ngâm văn địch phú;

Đáo hương phiên tự lạn kha nhân.

Trầm chu trắc bạn thiên phàm quá;

Bệnh thụ tiền đầu vạn mộc xuân.

Kim nhật thinh quân ca nhất khúc;

Tạm bằng bôi tửu trưởng tinh thần.

 

d.      (*)T (B)B (B) TT;  - Câu mở đầu: trắc khởi trắc thu

(*)B (*)T (T)BB.

(*)B (*)T (*)BT;

(*)T (B)B (*)TB.

(*)T (B)B (B) TT;

(*)B (*)T (T)BB.

(*)B (*)T (*)BT; 

(*)T (B)B (*)TB.

Ví dụ bài thơ ”Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc” 聞官軍收河南河北của Đỗ Phủ:

 

劍外忽傳收薊北,

初聞涕淚滿衣裳。

卻看妻子愁何在,

漫捲詩書喜欲狂。

白日放歌須縱酒,

青春作伴好還鄉。

即從巴峽穿巫峽,

便下襄陽向洛陽。

 

Kiếm ngoại hốt truyền thu Kế Bắc;

Sơ văn thế lệ mãn y thường.

Khước khan thê tử sầu hà tại;

Mạn quyển thi thư hỉ dục cuồng.

Bạch nhật phóng ca tu túng tửu;

Thanh xuân tác bạn hảo hoàn hương.

Tức tòng Ba Hiệp xuyên Vu Hiệp;

Tiện há Tương Dương hướng Lạc Dương.

 

Từ 4 mô típ này của thơ thất luật, ta có thể dễ dàng tìm thấy 4 mô típ tương tự ở các thể loại thơ ngũ luật, ngũ tuyệt, thất tuyệt. Các bạn có thể tự mình lập lấy các mô thức ấy, và tìm các ví dụ đối chiếu.

 

5.       Thi bệnh – Hay một số vấn đề cần tránh trong sáng tác thơ Đường luật:

Bát bệnh trong thơ xưa mà Thẩm Ước từng đặt ra với thơ ngũ ngôn  là: Bình đầu, Thượng vĩ, Phong yêu, Hạc tất, Đại vận, Tiểu vận, Bàng nữu, Chính nữu, tôi xin không bàn kỹ ở đây. Riêng với việc làm thơ Đường luật, chúng ta nên lưu ý một số lỗi nên tránh như sau:

Lỗi về vần: tránh: xuất vận (lạc vận) – có vần nằm ngoài vận bộ; trùng vận – lặp lại vần; tấu vận – vì gượng theo vần mà dùng chữ không hợp lỹ. Ví dụ bài “Thứ vận đại cửu biệt” (次韻代久別) của Tô Thức: 絳蠟燒殘玉斝飛,離歌唱徹萬行啼。他年一舸鴟夷去,應記儂家舊姓西。(Giáng lạp thiêu tàn, ngọc giả phi; Li ca xướng triệt vạn hàng đề. Tha niên nhất khả Si Di khứ; Ung ký nùng gia cựu tính Tê (Tây)) Bị cho rằng, chữ “Tây” (Tê)  là “tấu vận”. Vì Tây Thi vốn họ Thi, không phải “Tây”. …

Lỗi cô bằng: các học giả như Vương Sĩ Trinh, Triệu Chấp Tín, Lý Nhữ Tương … đời Thanh trong “Luật thi định thể” có nói về lỗi này đại khái trong câu thơ ngoài chữ cuối theo vần, nếu chỉ có một chữ vần bằng thì phạm lỗi “cô bằng”. Ví dụ câu thuộc mô típ: TTBBTTB, thì chữ thứ 3 dẫu là bất luận, nhưng trường hợp này không thể đồi thành thah trắc được. Đó cũng là lỗi “khổ độc” Đối với thơ ngũ ngôn thì câu “BBTTB” chữ thứ nhất cũng không thể là thanh trắc. Trong một phạm vi nào đó, lỗi “khổ độc” mà chúng ta hay nói tức là: nếu chữ thứ 4 là thanh bằng, thì chữ thứ 3 bắc buộc phải giữ thanh bằng, không thể là thanh trắc (trong khi, nếu nó là thanh trắc, thì chữ thứ 3 có thể thanh bằng), chính là lỗi “cô bằng” này.

Lỗi “tam liên bằng”/tam liên trắc: 3 chữ cuối câu cùng vần bằng. Như vậy câu có mô thức “BBTTTBB” chữ thứ năm trắc, tuy là nhất tam ngũ, nhưng cũng không thể đổi sang thanh bằng được. Hay tương tự là câu: TTBBBTT cũng vậy. (Chính vì thế, mà ở 4 mô típ câu trên đây, tôi đã đóng mở ngoặc những thanh ở vị trí bất luận, nhưng không thể đổi thanh.)

Lỗi “Hợp chưởng”: trong các cặp liễn có những từ hay cụm từ gần nghĩa, đồng nghĩa đối nhau. Ví dụ câu: “Mộ thiền bất khả thính; Lạc diệp khải kham văn” của Lang Sĩ Nguyên (chữ Thính, chữ Văn cùng nghĩa là Nghe) …

Lỗi “Tứ bình đầu”: liên tục 4 lần dùng cụm từ, kết cấu từ ngữ tính chất giống nhau ở đầu câu.

Lỗi trùng tự, điệp tự …

 

6.       Một số hình thức đặc thù trong sáng tác thơ Đường:

Trong tiêu đề nhiều bài thơ chúng ta hay thấy nhắc đến các từ như: “họa”, “thứ vận”, bộ vận, phân vận …  hay “liên cú”, “tục cú”. Đó là nói về một số hình thức sáng tác mà tác giả dùng trong bài thơ đó. Cụ thể:

 

-          Họa vần (Phân biệt: thứ vận, bộ vận, y vận, dụng vận): Họa thơ hiện nay hiểu là họa ần, nhưng vốn họa thơ chỉ là làm một bài thơ họa theo ý hoặc đáp lại bài thơ của ai đó mà không nhất thiết theo vần. Nếu họa theo nguyên thứ  tự vần của bài thơ gốc, thì người ta nói là thứ vận hay bộ vận. Nếu chỉ dùng những chữ vần của bài thơ gốc nhưng không lần lượt theo thứ tự thì gọi là “dụng vận”.  Nếu chỉ theo vận bộ (mục vần) của vần bài gốc, nhưng dùng các chữ khác, thì gọi là “y vận”

-          Định vận, phân vận: dùng những chữ nhất định nào đó lấy vần làm thơ gọi là định vận. Thường là dùng câu thơ của tiền nhân, lấy từng chữ theo  vần làm thơ. Nếu dùng câu nào đó, rồi chia ra cho nhiều người, mỗi người một vài chữ để làm thơ thì gọi là “phân vận” (chia vần).

-          Tục cú: từ một câu của ai đó viết hoàn thiện thành một bài thơ.

-          Liên cú: nhiều người, lần lượt mỗi người viết 1 câu thơ, hay  câu thơ.

Ngoài ra, thơ Đường cũng có một số hình thức mang tính chất đặc biệt như: hồi văn, thuận nghịch độc, … đối với thơ Đường của người Việt lại có hình thức đọc xuôi Hán ngược Nôm (ví dụ bài thơ của Phạm Thái, hay thủ vĩ ngâm, vĩ tam thanh …. Thể loại thơ “yết hậu” cũng có cả Hán và Nôm, nhưng nếu xếp loại, có lẽ nó thuộc về thể loại Tạp ngôn - “cổ thi” chứ không phải luật thi. Những hình thức này chỉ là một số ít mang tính chất ‘du hý” nhiều hơn thi ca một cách đích thực. Chúng ta đọc thêm để biết, nhưng nên hiểu đúng rằng, bản chất thi ca nằm trong ý tứ và ngôn từ  mà một bài thơ bắt buộc phải có, đó là: Lập ý và Hành văn, chứ không phải ở những kiểu cách cầu kỳ và khác lạ đó.

Châu Hải Đường (T.H)

[1] Đại Lịch thập tài tử: theo “Tân Đường thư” và “Cực huyền tập” của Diêu Hợp thì 10 người ấy là: Lý Đoan, Lư Luân, Cát Trung Phu, Hàn Hoành, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Miêu Phát, Thôi Động, Cảnh Vĩ, Hạ Hầu Thẩm. Từ đời Tống về sau, thuyết này có một số cách nói khác. Một số người như: Lưu Trường Khanh, Lý Ích, Lang Sĩ Nguyên, Hoàng Phủ Tăng, Hoàng Phủ Nhiễm … cũng được xếp vào “Thập tài tử”.