Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

Trúc Lâm tiểu hòa thượng tam sinh ký

(Chí Thiện huynh nhã chính!)

Khoảng niên hiệu Hưng Long đời Trần, có nhà họ Giả ở phủ Ninh Vân, cả hai vợ chồng đều đã lớn tuổi mà chưa có con. Hai ông bà phát tâm tạc tượng Quan Âm tống tử cung tiến lên chùa trên Thúy Sơn, lại nhất tâm ăn chay cầu xin ban cho một mụn con. Một hôm bà nằm mơ thấy đức Quan âm Đại sĩ đến trao cho một đứa con trai, lại dặn về sau hãy cho nên chùa hầu hạ tam bảo thì hậu vận mới tốt. Quả nhiên Giả phu nhân sau đó có mang, kịp đủ chín tháng mười ngày sinh được một trai, đặt tên là Xích Văn. Xích Văn lớn lên dung mạo uy nghi phúc hậu, tính tình hào sảng, nhưng rất nghịch ngợm, nhiều khi khiến ông bà Giả phát phiền. Nhớ lại câu Quan âm nói trong giấc mộng năm xưa, tuy chỉ có một trai, nhưng lo cho con, bà cũng bảo ông hay là cho Xích Văn lên chùa hầu hạ tam bảo một thời gian.
Bấy giờ ở xứ Đông nổi lên ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm, nối nhau trụ trì trên núi Yên Tử, danh vọng vang khắp cửu châu, ra tận hải ngoại. Đến lúc ông bà Giả tính cho Xích Văn lên chùa thì đã là đời vị tổ thứ ba là Huyền Quang.
Nghe tiếng tam tổ đã lâu, thấy cha mẹ nói cho lên chùa học tập, Xích Văn bèn xin được lên Yên Tử tầm sư. Vào được sơn môn rồi, Xích Văn được giao cho việc hàng ngày quét dọn tự viện và kê cấp bậc đá lên xuống từ chùa trên đỉnh mây xuống mãi chân núi.
Một bận tam tổ đi vân du về, thấy lối lên xuống bụi bám lá rụng, gọi Xích Văn bảo sao không quét dọn, Xích Văn thưa một câu: “Thạch kính hữu trần phong tự tảo” (Lối đá có bụi, gió tự quét). Huyền Quang  thấy câu ấy có ý thú, gật gù khen, rồi bảo: “Ngươi biện bạch thật hay. Vậy ta giao cho ngươi viết nốt câu thơ đối lại cho thành một cặp. Nếu đối được thì ta tha tội trễ nải cho, bằng không thì phải đòn.”
Xích Văn lĩnh ý, hẹn tối sẽ trình câu đối lên.
Quá giờ Tuất, sư vẫn chưa thấy Xích Văn đến, cho người ra ngoài gọi vào, thì thấy Xích Văn đang nằm ngủ, mà cổng chùa cũng không đóng. Người ấy quay về bẩm lại với sư, sư thân hành xuống xem thực hư ra sao, thấy đúng như vậy, liền gọi Xích Văn dậy hỏi. Văn đáp: “Bạch thầy! Đó là câu đối của con làm như lời thày bảo đó ạ!” Sư hỏi: “Đối thế nào?” Văn đáp: “Thiền môn vô tỏa nguyệt thường lâm.” (Cửa thiền không đóng, trăng thường vào)
Sư giật mình khen ngợi, nghĩ thầm: Xưa kia, Lục tổ cũng là kẻ nấu bếp không biết chữ. Nay ta gặp đứa quét dọn này, thực cũng gần như vậy. Nhưng xem ra trong văn khí chốn thiền quan, mà không dứt được phong nguyệt, khó mà tu thành. Vậy hãy cho lên hầu cận nơi ta, để ta dạy bảo thêm.
Từ ấy Xích Văn được thầy Huyền Quang cho lên ở gần bên mà dạy bảo cho chữ nghĩa phật pháp. Vốn là người thong minh, nên Văn học hành tấn tới, chữ viết rất đẹp, lại giỏi thư pháp, chữ ai cũng bắt chước được y như chính người đó viết ra.
Bấy giờ, có kẻ xiểm nịnh, đưa lời gièm pha lên đức Anh Tông, nói xấu tam tổ. Anh Tông liền bảo cung nhân là Điểm Bích lên Yên Tử thử lòng Tam Tổ. Tuy nhiên, Điểm Bích lên chùa đã gần nửa năm vẫn không thể thử được lòng sư, lo buồn lắm. Một bận, Xích Văn nhân rảnh rỗi đi vòng quanh dạo chơi, chợt thấy người con gái vô cùng xinh đẹp đang ngồi khóc bên bụi trúc cạnh sườn non, Văn chợt động lòng, tiến lại hỏi han, nàng kể lại sự tình, đoạn ôm chầm lấy Văn xin được giúp cho, nếu không e khó tránh khỏi tội chết. Xích Văn lần đầu tiếp xúc với nữ nhân, chợt tâm thần rạo rực, bao nhiêu lời kinh sách bay đi đâu hết, cũng ôm lấy Điểm Bích mà nói: “Chuyện ấy không khó gì, để ta giúp cho. Nàng định thử sư thế nào cứ chiều ta thế ấy, tất được như ý …”
Điểm Bích không còn bấu víu vào đâu đành phó thác vào một tay Văn. Nhưng một mực không cho Văn động đến, bảo cứ giúp xong rồi tất đền ơn. Văn bèn ngẫm nghĩ, rồi theo tình ý của mình mà làm một bài thơ nôm, lại bắt chước chữ của sư mà viết rằng:

Vằng vặc trăng mai ánh nước;
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.
Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ;
Mâu Thích Ca nào thuở hữu tình.

Điểm Bích được thơ, được chữ, bèn mang ngay về dâng lên Anh Tông. Lập tức triều đình cho sứ giả đến mời Huyền Quang về kinh. Xích Văn thấy thầy bị bắt đi, ân hận thời đã muộn, chạy theo ra mãi xa, rồi sau không làm sao được đâm đầu xuống vách núi tự vẫn …
Bỗng Văn thấy ngã lộn dưới gốc tùng già, rồi bỗng đâu xuất hiện liền hai tên quỷ đầu trâu mặt ngựa, cùng lôi đi. Đến một tòa thành, thấy biển đề hai chữ “Phong Đô” mới biết là mình đã xuống âm ti rồi. Quỷ lại dẫn Văn vào một tòa điện, nhìn lên thấy một vị vương mặt đen dữ tợn, hai bên có các phán quan đứng hầu.
Vương đập bàn hặc tội, cho lôi đi trừng trị. Sau mấy vòng tra khảo, quỷ sứ lôi Văn rã rượi xác xơ về trước điện, một vị phán quan đứng bên liền tâu: “Tên Giả Xích Văn này vì lòng tà dâm đã phạm giới luật, lại làm hại đến thầy mà không biết. Nhưng xét ra cũng chưa được Điểm Bích kia cho biết nỗi xuân tình. Xin đại vương hãy cho y lên làm kiếp rận để thỏa lòng nhìn ngắm.”
Vương gật đầu. Bọn quỷ sứ lôi ngay Văn ấn vào một cái túi đen kịt. Chớp mắt lại thấy sáng lòa, nhìn quanh thấy toàn những rận mà con nào con nấy to như mình. Nhìn rộng hơn nữa, thấy toàn những cây gì nhẵn trơn đen bóng, lớn bằng cổ chân. Mới biết mình đã thành kiếp rận mà đang ở trên đầu một vị lão nhân nào rồi.
Hóa ra đó là một viên quan án sát. Lão quan tuổi đã sáu ba nhưng còn tráng kiện. Xích Văn giờ đây là rận, chợt giận viên phán quan ăn nói hai lời, bảo cho mình được ngắm nhìn mỹ nữ, mà rốt cuộc lại tống lên đầu một lão già thế này thì có ức chết được không? Văn cũng tỉnh táo, sợ rằng cắn lão già nhiều thì tất phải chết sớm, nên thường tối đến mới cắn, còn thường biết nằm im, hoặc có đi lại cũng nhẹ nhàng. Chính vì vậy nên có bận chu du lên tận chòm râu của lão mà lão không biết.
Một hôm đang núp trong chòm râu quan ngài thì chợt có mấy kẻ đồng liêu kéo đến chuyện trò hệ toàn những chuyện nào tên lái buôn Dương Mãnh ở ngoài bờ bể, lại đến chuyện quan thị lang Phạm Bảo Ngự ở trong triều đường. Rận nghe không hứng thú gì. Bỗng lại nghe mấy quan rủ nhau ra chơi phố Bình Khang, không biết có gì hay mà mấy quan ngài hào hứng lắm, thành thử rận cũng tò mò nằm im nhìn xem.
Đến nơi, mới biết đó là chốn thanh lâu kỹ viện, từ xa đã nghe mùi phấn sáp thơm tho, tiếng nói cười rổn rảng. Rận thầm lấy làm mừng, bỗng một mỹ nhân chạy đến bá vai án sát đại nhân kéo vào phòng kín. Rận càng luống cuống cuối cùng rơi tuột khỏi chòm râu quan lớn, rớt thẳng xuống một quả đồi tròn trịa nhẵn trơn như bôi sáp mà mềm hơn nhung.
Rận đành lần mò xuống dưới. Hóa ra vị phán quan đã không lừa mình. Đây chẳng phải cơ hội cho mình thooar sức mà ngắm mỹ nhân ư? Trong bóng tối nhờ nhờ, nó len lỏi giữa bờ khe hẹp của hai quả đồi, đi mải miết. Đi mãi, tới một bình nguyên rộng. Nơi đây đã khá yên tĩnh, nhưng cả một khoảng mênh mông trống trải, không bụi cây ngọn cỏ. Chỉ độc một bờ giếng cạn nằm chơ vơ.

Rận tiếp tục lê bước, nó không dám mạo hiểm nơi miền đất lạ. Cuối khoảng mênh mông, ngay khi vừa vượt qua một sườn dốc nhỏ, một ốc đảo um tùm đột ngột hiện ra. Dọc hai bên khe lạch nhỏ xâp xấp một thứ nước ánh lên trong ánh sáng mờ ảo, um tùm một loài cỏ lạ, được xén tỉa kỹ càng. Một nơi trú ẩn tuyệt vời như nó từng có. Quá mệt, Rận chỉ kịp vạt đám cỏ êm mượt như nhung ra lấy chỗ nằm rồi thiếp đi trong nồng nàn hương cỏ…

Bỗng ánh sáng chói choang lên làm nó thức giấc. Vươn vai, Rận định bụng mò ra bờ lạch vục nước đánh răng rồi tắm nhẹ một chút. Nhưng nó đứng chết trân. Nó dụi mắt, lần 1, lần 2, rồi lần 3 nữa … Nó còn cấu vào đùi mình xem nó tỉnh hay mê. Điều kỳ lạ bậc nhất từ khi cha sinh mẹ đẻ tới giờ nó chưa bao giờ từng gặp, đang hiển hiện rõ mồn một, như không thể rõ ràng hơn: nó lại thấy mình vẫn ở nơi xưa chốn cũ, nơi đám râu ria rậm rạp của lão đại nhân đáng kính! Hận quá, nó nhảy luôn xuống lạch nước tự vẫn.

Chớp mắt, rận lại thấy mình là Xích Văn đã đang quỳ mọp trước công đường ở Phong Đô. Xích Văn oán hận bẩm trình lên vị vương giả và các phán quan, rằng tuy đúng như lời phán quan nói, nhưng kiếp rận thì thực không thể thấy gì.

Vị vương giả quay sang phán quan lần trước cười ha hả bảo:  “Ngài thực là làm khó nó quá! Tô Tử Chiêm ở nước Tống có câu thơ rất hay rằng: “Bất thức Lư sơn chân diện mục, Chỉ duyên thân tại thử sơn trung”. Ngài cho nó làm rận mà đi ngắm mỹ nhân, thì khác nào đứng trong hang mà ngắm núi Lư Sơn chứ? Thôi đã có nhã ý như vậy, thì cho hắn lại làm kiếp người vậy.”
Vị phán quan lại bảo: “Xin tuân mệnh đại vương, có điều, chẳng phải chỉ để hắn biết “Lư sơn chân diện mục” thôi đâu, cái nợ phong nguyệt, cái duyên thiền môn hắn vẫn còn phải đeo đẳng đấy ạ!”
Vị vương giả gật đầu, tức thì quỷ xứ lại lôi Văn quăng vào cái túi đen như lần trước.

Lần này Xích Văn đã được giáng sinh làm người, làm con nhà họ Phi ở trấn Sơn Nam, lấy tên là Chí Thiện. Vì có căn duyên xây bậc chùa khi xưa, nên từ nhỏ đã thích việc xây đắp, lớn lên thạo nghề thổ mộc, có thể giám sát chỉ đạo hàng trăm người cùng lúc. Vẫn nhớ niềm mong mỏi thổ lộ với Phán quan nên lần này, mới quá tuổi thành niên, Phi đã lập tức đòi cha mẹ hỏi cho cô nương nhà họ Vi ở Bố Hải Khẩu, nhanh chóng có liền hai con, một trai một gái.

Nhưng vì túc duyên phong nguyệt cùng nợ thiền môn nên Phi không ở yên được ở quê nhà, dù vợ một mực cản ngăn vẫn nhất quyết lên kinh dựng thêm một cơ nghiệp ở bên sông Tô Lịch. Phủ đệ của Phi ở đó rộng rãi to lớn, đi xe từ ngoài cổng vào phải qua mấy lớp cửa, cầu thang ngoắt nghéo mấy lớp mới đi hết các tầng. Trong dinh lại đặt riêng một chỗ gọi là Lê Hương Viện để cho các ca nương cầm khách luyện rèn ca múa.
Một bận nhàn hạ, dạo chơi ngắm cảnh Tây Hồ, Phi vô tình sải bước qua cửa chùa Linh Sơn, hốt nhiên rùng mình như nhận ra điều gì, dấn bước đi vào, thấy mấy tên đồ gàn đang nghịch mực, Phi cũng len vào nghịch chơi, bỗng nhiên chữ nghĩa thơ phú ở đâu như dồn vào trong đầu, không cần học mà thông thạo chữ nghĩa. Từ ấy lại tự động cạo hết tóc trên đầu không khác gì một vị thầy tăng.
Tính ưa phong thú, lại sẵn chữ trong bụng, nên Phi cũng thường hay đề vịnh, mà thường là trêu chọc bỡn cợt không kiêng ai. Khi xây lại cổng phủ, Phi tự đề đôi câu đối rằng:

Kim cổ đồng chinh, triêu mộ càn khôn khai hạp;
Ngọc tiêu dao sắt, thần hôn vân vũ hòa ca.
(Trống vàng, chiêng đồng, sớm tối càn khôn đóng mở;
Đàn dao, sáo ngọc, chiều hôm mây mưa hòa ca)

Kim cổ đồng chinh ý nói mặt trăng mặt trời, mà cũng là nói cảnh viện Lê Hương đàn sáo trống chiêng vui vẻ cả ngày, song cái ý nghịch ngợm đọc qua đã thấy rõ vậy.
Hay khi xuân về, tân khách đến chúc tụng, bạn chữ nghĩa thơ văn cũng có, bạn thổ mộc tượng ngõa cũng nhiều, Phi lại đề đôi câu đối rằng:

Thư sử lâu đài trường kiến trúc;
 Văn chương để trụ cửu bồi đôn.
(Thư sử lâu đài xây dựng mãi;
Văn chương nền móng đắp bồi lâu)
Khiến ai đến xem được cũng đều thấy lý thú.

Lại có bận, có vị nhạc sư đến thăm viện Lê Hương, biết tiếng thư pháp của Phi liền xin được tặng cho hai chữ. Phi liền viết luôn hai chữ “Lạc Đạo” (Vui với đạo) Chữ Hán Lạc với Nhạc đồng một chữ, đạo (lý) với đạo (chích) đồng âm. Vị nhạc sư đi rồi, Phi mới quay sang tả hữu nói: Ấy “Lạc Đạo”, cũng như là “NHạc Đạo” vậy! Khiến ai nấy đều bật cười. Ấy phàm những chuyện phong thú của Phi là như thế …

Khoảng niên hiệu Phú Trọng, chính sự nhũng nhiễu, lòng dân rối loạn, không biết quy về đâu, thành thử trò tà ma đồng cốt nổi lên, con người chỉ biết gửi niềm tin vào đấng tối cao, thánh thần ma quỷ. Tự viện đình đền miếu mạo mọc lên khắp nơi. Triều đình cũng dựng lên không biết bao nhiêu là tự viện quy mô cực kỳ to lớn. Các trấn Sơn Nam, Yên Quảng, Tam Đới đều có các đại thiền viện. Phi vì có tài thổ mộc, nên được triều đình trưng vời ra đốc sát việc dựng đại bảo tháp ở Thiền viện Trúc Lâm ở Tam Đới.

Thiền viện dựng trên đỉnh non, rộng hàng ngàn mẫu, kiêm mấy quả núi, trên đó tụ tập hàng trăm tăng ni đến tu hành. Phi đốc công dựng tháp cũng phải ở trên tự viện ăn chay, nằm mộng, sớm trống chiều chuông, nghe kinh thính pháp, âu cũng là túc trái tiền duyên từ kiếp trước vậy. Ban đầu Phi còn giữ ý cẩn thận, sau ở lâu dần quen tính hay trêu bỡn mọi người, giờ ở trên núi cao, chỉ có sư sãi, nhưng cũng không từ.

Có bận xuống núi về kinh, dong chơi qua tận bờ bắc Đức Giang, đến lúc lên thiền viện, trò chuyện với các vị tăng trẻ, có người hỏi: “Bác về kinh có chuyện gì hay, xin kể cho nghe?” Phi ngẫm nghĩ rồi bảo: “Nhân đi đường làm được bài thơ đọc cho các ngài nghe. Thơ rằng:

Yên viên cô tịch cô liêu các;
Thiếu nữ đơn sầu mộng cố nhân.
Môn ngoại hốt văn như hữu khách;
Khai cầu chỉ kiến vũ liên xuân.

Các sư tăng vốn không biết bên bờ bắc Đức Giang có chỗ gọi là Yên Viên, vốn lắm kỹ nữ, nên đều trầm ngâm khen ngợi. Riêng Phi lấy làm thú, cứ cười ngặt nghẽo mãi.

Trên thiền môn ăn chay lâu ngày, Phi không chịu được. Nên thỉnh thoảng lại trốn xuống dưới núi đi chơi bời ăn uống. Xứ Tam Đới nổi tiếng lắm trâu, nên Phi thường cứ xuống núi là tìm đến nơi có quán thịt trâu mà ăn. Có bận ăn thịt uống rượu ngà say, đến lúc trăng tà, Phi mới ngất ngưởng cầm theo bầu rượu trèo lên núi mà về. Dưới ánh trăng thấp thoáng, Phi chợt thấy như có vị sư đi lướt qua nói: “Chốn cửa phật từ bi, ông chớ có làm ô uế mới được!” Phi ngẩng lên nhìn thì lại chẳng thấy ai cả, cho là say quá tai ù, liền về nhà đi ngủ.

Được ít hôm, thèm thịt, Phi lại nhân đêm hôm, mò xuống núi. Lần này mới đến lưng núi, bỗng thấy một quán hàng hình như mới mở ra, dựng dưới gốc cây thị lớn. Trong quán, đèn đuốc ấm áp, rượu thịt ngon lành, Phi liền vào ăn uống say sưa, đến khuya mới về. Về đến phòng rồi, Phi mới hay là quên mất chìa khóa, ngẫm nghĩ lại, hình như để trên đầu bàn ăn. Đành bấm bụng quay lại quán để tìm. Leo hết nửa dốc, mới trông thấy quán hàng thấp thoáng bên gốc cây thị cổ, Phi đã hơi mừng, cố đi nốt quãng đường. Cách một đoạn, chợt nghe thấy có tiếng gà rừng gáy sớm. Phi ngoái cổ sang bên tiếng gáy nhìn, đến lúc quay lại, thì đã không thấy quán hàng đâu nữa. Bên gốc cây thị cổ chỉ còn mấy tảng đá hộc. Phi đi đến nơi, thì chìa khóa của mình đúng là trên một tảng đá. Chợt Phi thấy bụng đau quằn quại, nôn nao khắp người, vội chạy ra bên mé rừng móc họng nôn mửa. Chỉ thấy từ trong họng nôn ra, không phải thịt trâu mà toàn sâu bọ, giun dế! Phi hãi quá biết là bị ma trêu, vội chạy thẳng lên núi, trốn vào phòng mình.

Từ ấy Phi không dám xuống núi nữa, chỉ quanh quẩn ở trên Thiền viện. Một hôm, đi vòng ra phía quả đồi sau núi chơi, Phi chợt thấy mấy mảnh vườn rau, đồi chè do sư ni trên Thiền viện tự trồng lấy cái ăn. Thơ thẩn dạo quanh, chợt trông thấy xa xa một ni cô đang hái chè, Phi lượn lại gần bắt chuyện, thấy ni cô mặt hoa da phấn, trong bộ quần áo nâu xồng giản dị càng lộ vẻ thanh tân kiều diễm. Bàn tay nhỏ mềm, dài như măng ngọc, khiến búp chè hái trong tay cũng như ánh sáng hẳn lên. Hỏi ra mới biết vốn là con nhà khuê các, chỉ vì hận tình đời đen bạc duyên phận hẩm hiu, nên mới đến Thiền viện chưa lâu. Phi thầm nghĩ, người trông thế ấy, tình bởi thế kia, chắc gì đã dứt được duyên phàm mà yên thân cửa Phật? Nghĩ xong chợt nổi ý muốn được gần gũi, nhưng chưa kịp nói thêm thì ni cô đã từ biệt đi khuất.


Phi về ngẫm nghĩ, tính kế lại được gặp ni cô. Dò hỏi mới biết thường sáng sớm ni cô ấy đã phải ra sau đồi hái lá chè để dùng cả ngày trong viện. Vì vậy bèn định sẵn một kế trong đầu.

Sáng hôm sau nữa, Phi thức dậy từ gà gáy, ra sau suối tắm, rồi ngồi gần đồi chè rình xem. Ít lâu quả thấy ni cô đeo gùi đi lên, Phi bèn mặc quần áo ướt, chạy lên trước lối vào vườn chè nằm vật xuống. Ni cô đi tới, thấy có người bất tỉnh, quần áo ướt cả, cho là đã nằm đó từ đêm, lại nhận ra là người hôm trước bèn xốc dậy đỡ vào lều canh phía trên. Đoạn đặt Phi nằm xuống mà ủ cỏ khô, rồi lại cởi quần áo của Phi ra rồi lấy một lần áo của mình thay cho. Đang mặc cho Phi thì Phi chợt bừng dậy, giả vờ bảo: “Thôi chết, sao cô lại cởi quần áo của tôi ra như thế? Kẻ tu hành mà lại một mình cởi quần áo dị phái, không sợ ư?” Chỉ thấy ni cô mỉm cười nói: “Phật dạy, cứu một người phúc đẳng hà sa, há tôi lại giữ đạo hạnh không đâu, mà để ngài nằm chết ở đấy ư? Vả chăng, chấp sắc thì có sắc, chấp tướng thì có tướng, không chấp vào sắc tướng, thì sắc tướng còn có thấy nữa không? Xưa quỷ vương đưa người con gái ra trước mặt đức Phật, mà Phật chỉ thấy như cái túi da đựng máu huyết. Nhà nho các ngài lại cũng hay nói chuyện ông Liễu Hạ Huệ ôm nữ nhân cả đêm, mà không sợ bẩn thanh danh. Ngài không nghe chuyện ấy ư?”

Phi nghĩ thầm, dưới vỏ văn tự bóng bẩy ấy, lòng vả hẳn như lòng sung thôi. Bèn cầm lấy tay ni cô mà ôm lấy, nhưng ni cô chỉ bảo nằm im sưởi ấm, khỏe rồi hãy về phòng.

Nghĩ trêu gợi trần tâm ni cô như vậy không được, mấy hôm sau nữa, Phi lại cuộn một bức tranh xuân cung, rồi cũng lựa khi ni cô ra đồi chè, tiến đến trò chuyện. Xong từ biệt rồi, đưa cuộn tranh nói: “Có bức tranh đẹp, tặng ni cô xem chơi.” Ni cô giở ngay ra xem. Phi đứng phía trước, đợi xem sắc diện ý tứ thế nào, chỉ thấy ni cô nói: “Tranh này đẹp lắm, truyện Tô Tử Chiêm có bảy người thiếp, mà Phật Ấn đến chơi bước qua bảy lò lửa, tưởng chỉ có trong sách, hóa lại có người vẽ nên tranh.” Rồi vẫy Phi lại xem, Phi khấp khởi đến gần thì thấy tranh ấy lại là tranh vẽ Phật Ấn đang bước trên mấy lò lửa! Phi lấy làm ngạc nhiên, giận kẻ nào đã đánh tráo tranh của mình.

Một bận, có vị Lạt-ma từ phương tây đến đàm đạo giao hữu ở ngôi chùa lân cận, Thiền sư viện chủ dẫn chư tăng ni đi bái phỏng, số tăng ni ở lại cũng ít. Biết ni cô mới đến, không được đi lần này, Phi mừng lắm. Đến tối, bèn lẻn đến dưới cửa sổ gõ cửa, nói là đêm trăng sáng muốn mời ni cô ra ngoài đàm đạo. Ni cô nói: “Nếu ngài đoán được tục danh của ta thì ta sẽ ra.” Đoạn đưa giấy và bút ra cửa. Phi liền viết ba chữ: “Thạch Bất Tùy” (Họ Thạch, chẳng theo ư?) Ni cô cười bảo: “Ngài cũng tài thật, ta đúng họ Thạch. Vậy hãy lên chòi canh trên đồi đợi ta.”

Phi lên đồi trước, lát sau thấy ni cô đến. Ánh trăng trung tuần sáng tựa ban ngày. Nhìn vẻ đẹp ni cô dưới ánh trăng mờ càng thêm hư ảo, như hư như thực, tựa Hằng Nga mới giáng trần, như Lạc Thần trên sóng nước. Phi chẳng chần chừ gì, lôi luôn vào lòng mà ôm ấp, ni cô chẳng nói chẳng rằng chỉ để mặc cho Phi thỏa chí. Vuy vầy suốt đêm, đến tận lúc Phi thiếp đi lúc nào không hay.

Sáng hôm sau, có bọn trẻ lên sau đồi chùa lấy củi, chợt trông thấy một người không quần không áo, đang nằm ôm lấy tảng đá mà ngủ. Nhìn lại thì hóa là Phi. Bèn lay mãi, Phi mới dậy. Chúng hỏi: Sao một mình ông lại ôm phiến đá nằm đây thế này? Phi ngơ ngác không biết nói sao, vơ quần áo mặc lại về phòng, trong lòng nghi hoặc, không biết chuyện hôm qua là thế nào? Lúc sờ đến túi áo, chợt thấy có một tờ giấy viết rằng: “Ta đã mấy lần khuyến cáo, mà ông lòng dục ý tà vẫn không dứt bỏ được? Có còn nhớ Điểm Bích xưa chăng? Ta nay đã sửa tâm mấy kiếp theo về chính pháp rồi, sao ông vẫn ngàn năm không dứt tính cũ vậy? Chỉ vì có chút duyên hội ngộ xưa kia, vả còn chút nợ nần, nên mới giúp nốt lần cuối này thôi.” Lại có một bài thơ dài …hai câu cuối là:
“…Phải qua mấy vạn lỗi lầm;
Thời ta mới chạm uyên thâm cõi thiền.”

Phi hốt nhiên giác ngộ, từ bấy giờ chuyên tâm thành kính mà dựng Phật tháp. Quả đến mùa xuân năm sau thì tháp xây xong. Phi trở về kinh sư, dọn dẹp phủ đệ, giải tán cả viện Lê Hương, dời hết ca nương cầm khách đi nơi khác.

(Hết)

Tào Tháo - Thiện Tai Hành (Kỳ nhị) 曹操-善哉行 (其二)

Đọc thơ Tào Tháo mới thấy thật khó hiểu. Cố gắng tự dịch một bài thơ mà thấy lâu bằng dịch 1/3 chương sách. Hiii ..... Dịch xong đọc lại mới thấy Tào Tháo rất trọng tình cảm gia đình, và trong thơ cũng rất đậm chất nho giáo đấy chứ ... Quả không hổ là người nhờ thông hiểu Kinh Thi mà được vào làm chức Nghị lang. :D



自惜身薄祜,夙賤罹孤苦。

既無三徙教,不聞過庭語。

其窮如抽裂,自以思所怙。

雖懷一介志,是時其能與!

守窮者貧賤,惋嘆淚如雨。

泣涕於悲夫,乞活安能睹?

我願於天窮,琅邪傾側左。

雖欲竭忠誠,欣公歸其楚。

快人由為嘆,抱情不得敘。

顯行天教人,誰知莫不緒。

我願何時隨?此嘆亦難處。

今我將何照於光曜?釋銜不如雨。



Phiên âm:



Tự tích thân bạc hỗ;

Túc tiện ly cô khổ.

Ký vô tam tỷ giáo;

Bất văn quá đình ngữ.

Kỳ cùng như trừu liệt;

Tự dĩ tư sở hỗ.

Tuy hoài nhất giới chí;

Thị thời kỳ năng dữ!

Thủ cùng giả bần tiện;

Uyển thán lệ như vũ.

Khấp thế ư bi phu;

Khất hoạt an năng đổ?

Ngã nguyện ư thiên cùng;

Lang Nha khuynh trắc tả.

Tuy dục kiệt trung thành;

Hân công quy kỳ sở.

Khoái nhân do vi thán;

Bão tình bất đắc tự.

Hiển hành thiên giáo nhân;

Thùy tri mạc bất tự.

Ngã nguyện hà thời tùy?

Thử thán diệc nan xử.

Kim ngã tương hà chiếu vu quang diệu?

Thích hàm bất như vũ.






Dịch thơ:



Thương thân phúc mỏng hơn người;

Phận mồ côi khổ tự thời ấu thơ.

“Tam thiên”  (1) vốn đã thưa tiếng mẹ;

“Quá đình” (2) thêm vắng vẻ lời cha.

Khốn cùng gan ruột xót xa;

Hằng luôn nhớ đến cha già mà thương.

Chút chí khí tuy mang trong dạ; 

Lúc bấy giờ nào đã lập nên.

Vận cùng người lại nghèo hèn;

Đớn đau ta thán lệ tràn như mưa.

Thảm thiết những mau thưa lệ chảy;

Đường sống nay trông cậy vào đâu?

Mong hoàng thiên giúp phép màu;

Lang Nha mé trái đổ nhào một khi.

Hết dạ tận trung tuy vẫn nguyện;

Mừng vui thiên tử vẹn quay về.

Hân hoan người cứ hát đi;

Trong lòng hoài bão biết thì cùng ai.

Muốn vương hóa khắp nơi dân chúng;

Có ai hay việc cũng khó lòng.

Khi nào mới thỏa ước mong?

Thở than này cũng khó trông bề nào.

Lấy gì ta sánh trăng sao?

Có khi mưa hết, khi nào hết lo.



Chú thích:



(1) Tam thiên: ba lần dời chỗ ở. Ở đây Tào Tháo nhắc đến tích Mạnh mẫu khi xưa ba lần dời đổi chỗ ở của mình để dạy con phải học hành. 

(2) Quá đình: Đi qua sân. Câu này Tào Tháo nhắc đến chuyện con trai của Khổng Tử là Khổng Lý, đi qua sân, gặp Khổng Tử đang đứng ở đó. Khổng tử liền hỏi Khổng Lý về việc học Kinh Thi, và bảo: “Không học Kinh thi thì không có gì để nói.” Lại lần khác như vậy, Khổng Tử lại hỏi con về việc học Lễ, lại bảo: “Không học Lễ thì không có gì để lập thân. Qua 2 câu thơ trên, Tào Tháo muốn nói việc mình không còn mẹ, cha để được dạy bảo)

Giới Lộ Hành - Tào Tháo (Nhân dịch "Tào Tháo - Thánh nhân đê tiện")

Trong Tiểu thuyết Lịch sử “Tào Tháo – Thánh nhân đê tiện” Vương Hiểu Lỗi đã căn cứ vào các cứ liệu lịch sử để mô tả lại một cách chân thực nhất con người với nhiều mặt tính cách của Tào Tháo. Có những chuyện về Tào Tháo ta đã rất quen trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, nhưng tác giả không tìm thấy cứ liệu lịch sử, thì hoàn toàn không cho vào tác phẩm của mình. (Ví như chuyện Tào Tháo dâng dao thất bảo cho Đổng Trác – một tình tiết những ai đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa đều rất nhớ khi nói đến Tào Tháo) Bên cạnh đó một thi nhân Tào Tháo – mà Văn học sử Trung Quốc đánh giá ông và các con Tào Phi, Tào Thực (Tam Tào) rất cao trong Kiến An Văn học – cũng được tác giả rất chú ý. Nhiều bài thơ của Tào Tháo cũng được nhắc đến trong “Tào Tháo – Thánh nhân đê tiện”.
Bài “Giới Lộ Hành” của Tào Tháo, được tác giả nhắc đến sau khi Tào Tháo cùng các vị mục thú khởi binh thảo phạt Đổng Trác và thua trận ở Huỳnh Dương. Trong bài thơ ấy Tào Tháo đã nhắc lại chuyện từ khi Hà Tiến nhậm quyền mà bất tài nhu nhược dẫn đến bản thân bị giết, vua (Lưu Biện) cũng bị hại, rồi Đổng Trác chuyên quyền, sau lại đốt phá Lạc Dương và dời đô sang phía tây đến Trường An.


Nhân dịch lại bài thơ theo lối thơ lâu lắm không có ai làm (Song thất lục bát), kính chư quân phủ chính:

惟漢二十世,所任誠不良。
沐猴而冠帶,知小而謀强。
猶豫不敢斷,因狩執君王。
白虹為貫日,己亦先受殃。
賊臣持國柄,殺主滅宇京。
蕩覆帝王業,宗廟以燔喪。
播越西遷移,號泣而且行。
瞻彼洛城郭,微子為哀傷。

Duy Hán nhị thập thế;   
Sở nhậm thành bất lương.
Mộc hầu nhi quan đới;  
Tri tiểu nhi mưu cường.
Do dự bất cảm đoạn;     
Nhân thú chấp quân vương.
Bạch hồng vi quán nhật;               
Kỷ diệc tiên thụ ương.
Tặc thần trì quốc bỉnh;  
Sát chủ diệt vũ kinh.
Đãng phúc đế vương nghiệp;     
Tông miếu dĩ phần tang. (táng)
Bá việt tây thiên di;        
Hiệu khấp nhi thả hành.
Chiêm bỉ Lạc thành quách;
Vi Tử vị ai thương.

Dịch thơ:

Kìa đời thứ hai mươi Hán thất;
Kẻ trọng thần rõ thật tệ thay.
Đười ươi mặc áo mũ người;
Mưu toan thì lớn trí thời được bao.
Do dự mãi không sao dám quyết;
Để gian tà giữ bắt quân vương.
Mống mây mờ mịt thái dương;
Còn mình thì đã tai ương chịu đầu.
Đứa tặc thần nắm thâu quyền nước;
Giết chúa rồi bạo ngược thần kinh.
Đế vương cơ nghiệp tan tành;
Muôn đời tông miếu cũng thành tro bay.
Xa xôi vội sang tây dời đổi;
Dân oán than theo mỗi bước đi.
Lạc Dương thành quách xem kia;
Đớn đau Vi Tử nay thì khác đâu!

(CHĐ)

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

CHẠY BỘ BUỔI SÁNG – Truyện ngắn Phùng Ký Tài (Châu Hải Đường dịch)

I.
Thế giới ngày nay, không hút thuốc, chống ô nhiễm và chạy bộ buổi sáng đã dần dần trở thành ba việc xếp trong danh mục các mối quan tâm hàng đầu trong cuộc sống nhân loại. Xưa nhờ có họ Toại Nhân(1), con người mới không còn là động vật ăn lông uống máu nữa, nhưng giờ chỉ mong là khói thuốc trước khi bước sang thế kỷ tiếp theo sẽ bị cấm tiệt. Không khí trên thế giới cũng sẽ hồi phục lại sự trong sạch thuần khiết như thời đại cuộc sống điền viên hồi trung thế kỷ, có dưỡng khí dồi dào, cho người ta yên tâm mà hít thở thoải mái. Còn chạy bộ buổi sáng – thói quen tốt có thể giúp mạnh khỏe sống lâu này, trở thành sở thích chung của mọi người, thì mới nở rộ thành phong trào trong thế kỷ này … vì thế bây giờ càng ngày càng nhiều người dậy sớm, sắm đồng hồ báo thức, mua giày chạy, người cao người  thấp, người béo người gầy, trong màn sương sớm mịt mù, họ có mặt khắp đường to ngõ nhỏ, trên quốc lộ thẳng tắp ngoại ô, hay xung quanh các công viên. Người ta ôm những kỳ vọng khác nhau: sống lâu, khỏe mạnh, hay giảm béo …bước chân chạy cũng đủ tư thế, chẳng ai quan tâm đến ai. Những tiếng bước chân ấy phá tan sự tĩnh lặng của buổi sáng, dẫn trước sự huyên náo của thành phố.
Hôm ấy, trên con đường dưới bóng rặng cây xanh ngắt bên ngoài công viên Thắng Lợi, mà các nhà thơ nơi này tôn vinh là “hành lang thiên nhiên”, xuất hiện hai người chạy bộ khiến người khác phải chú ý: một người là đàn ông, cao gầy đeo kính mắt, mặc chiếc áo sơ mi trắng, cổ hồ cứng; một người là đàn bà, to béo phốp pháp, với một bộ ngực đồ sộ, no căng, trông như hai con bồ câu đang nhảy nhót trước ngực. Hai người họ đều ở tuổi quá trung niên. Trông họ giống như chú Ống Sậy và bác Cà Chua trong một bộ phim hoạt hình cho trẻ em. Hai người sánh vai cùng chạy, tốc độ rất chậm, trông như cảnh quay chậm trong phim. Họ chưa chạy được mấy đã mồ hôi đầm đìa, thở hổn hển như trâu, có thể thấy rõ đó là hai người mới tập chạy. Trong con mắt những người bên cạnh, họ giống như một đôi vợ chồng đang hạ quyết tâm cùng rèn luyện.
Thực ra không phải thế. Hai người họ chỉ là ngẫu nhiên sánh vai nhau chạy chưa được ba phút đồng hồ. Người đàn ông gầy gò ấy là kỹ sư ở viện nghiên cứu công nghiệp hóa chất, họ Đào, từng làm kỹ sư trưởng cho một nhà máy chế biến muối, nên người ta thường quen gọi ông ấy là “trưởng Đào”. Trong thời kỳ mười năm tai họa(2) ông “được cách mạng” đến độ thân tàn ma dại, tuy mới sắp sáu chục tuổi đầu, mà da dẻ đã hằn sâu đầy những nếp nhăn, khắp cơ thể chỗ nào cũng có thể nhìn thấy hình thù những khúc xương dưới da, cái đầu đã trụi mất một nửa càng lộ rõ dấu hiệu suy kiệt sớm. Nhiều năm rồi ông không dám lộ diện trước mặt mọi người, rất ít ra phố. Năm ngoái ông được “giải phóng”, rồi được khôi phục công tác, từ trong nhà bước ra ngoài, bước đi chập chững như trẻ con mới tập đi. Mắt nhìn giấy tờ chỉ được mười phút đồng hồ là chữ nghĩa nhòa nhoẹt hết, chẳng còn nhìn rõ cái gì với cái gì nữa. Nhưng ông đã có một kế hoạch lớn vô cùng mạnh mẽ, ông muốn làm một công trình nghiên cứu có mức độ khó cao. Thời gian có thể phải mất bảy năm, mà phải là bảy năm với thể lực và tinh thần sung mãn. Thế mà tinh thần và thể lực ấy đã được dùng để ứng phó với các kiểu đe dọa và uy hiếp hết cả rồi, giờ tìm ở đâu?
Ông có một người bạn cũ, ông Lý, là một bác sĩ, có cặp lông mày vừa đen vừa cứng. Nếu như anh đứng từ xa và chưa nhìn rõ mặt mũi ông ta thế nào, thì vẫn có thể nhìn thấy hai vệt ngắn màu đen trên mặt ông ấy, y như hai đốm đen trên mắt gấu trúc vậy. Ông ta hay nói đùa, miệng lưỡi nanh lọc, nhưng tâm địa lại tốt vô cùng. Nhiều năm nay, ông trưởng Đào có nỗi đau đớn về thể xác cũng như tinh thần gì, đều nói với ông ấy để mong xin một liều thuốc chữa. Vừa rồi, trưởng Đào đã trình bày những nỗi khổ đau mới của mình với bác sĩ Lý. Bác sĩ Lý nghe xong, liền đe ngay:
-         Anh mà như thế này, thì chả làm gì cả, cũng chỉ sống được nhiều lắm là năm năm nữa thôi.
-         Thế tôi phải làm sao? – Trưởng Đào nói, trong lòng dường như có một cái khóa đã sập lại.
-         Trước hết anh phải cai tiệt thuốc lá!
-         Điều này không vấn đề. Anh có thể đảm bảo tôi sống được bảy năm nữa không? Tôi cần bảy năm là đủ rồi.
Đôi lông mày dày đậm của bác sĩ Lý giật nhướng lên vẻ tinh nghịch, trên khóe môi nhíu một nụ cười, hai mắt liếc bên nọ lại bên kia, trong lòng dường tính toán điều gì, tựa hồ bây giờ ông đang khống chế cửa ải chính cho sinh mệnh trưởng Đào vậy. Ông bảo:
-         Anh dậy sớm chạy bộ đi!
-         Chạy bộ? Mỗi ngày chạy bao lâu?
-         Khoảng một tiếng rưỡi gì đó. Nhưng ngày nào cũng phải chạy đều.
-         Có thể sống thêm được mấy năm? – Ông dường như đang mặc cả với bác sĩ Lý.
-         Mười năm đấy! – Bác sĩ Lý nói đùa như thật.
-         Mười năm?! – Trưởng Đào kinh ngạc kêu lên, rồi dùng ngay bộ óc nhanh như máy tính điện tử của mình tính toán, miệng nói ra thành lời – Mỗi ngày dùng mất một tiếng rưỡi chạy bộ, chiếm khoảng hai phần mười thời gian có thể dùng để làm việc. Bác sĩ nói, như thế có thể sống được mười năm. Trong mười năm thì chạy bộ mất đi hai năm, vẫn còn lại tám năm. Hà hà, thế là thừa đủ rồi! Rồi ông cũng nói vẻ đùa cợt nhưng lại vô cũng chân thật như bác sĩ Lý – “Được rồi, tôi sẽ chạy bộ buổi sáng!”
Thế là ông dậy sớm, xỏ đôi giày đá bóng cũ của con trai, đến đây chạy bộ. Hôm nay là ngày mở màn đầu tiên, mới chạy được mấy chục bước, ông đã vô tình cùng chạy sánh đôi với người đàn bà hồng hào béo tốt này.
Đời người ta, có được cái gì, mà không phải trả một cái giá nào đó. Muốn sống thêm mấy năm càng khó khăn hơn nhiều. Trưởng Đào chạy tổng cộng được hai trăm bước đã cảm thấy toàn bộ số sức lực ít ỏi của mình hết sạch, hai cổ chân như đeo hai khối đá, lết đi cũng không lết nổi. Cổ họng cũng trở nên bé như sợ dây thép, mỗi một hơi hít vào, vừa mới đến cuống họng lại bị chặn lại bật ngược trở ra, trong phổi dường không có chút không khí nào, mệt như chết đến nơi. Ông đứng lại, y như một con cá ngớp lên mặt nước, mắt trợn tròn, miệng há to, cố hết sức mà thở.
Bà béo kia đứng lại bên cạnh ông, khuôn mặt đỏ như quả dưa hồng chín nục. Hai tay bà ta chống hai bên nạnh sườn vừa to vừa tròn như cái bom bia, hổn hển thở ra thành tiếng. Giá như miệng bà ta để trước cái van bơm hơi ở bánh ô-tô, thì đảm bảo có thể thổi căng nó lên được. Nhưng bà ta cười, cứ y như vớ được cái gì vậy, vô cùng đắc ý, chứ không khốn khổ như trưởng Đào thế.
Hai người họ đứng nhìn nhau thở hồi lâu, chẳng ai cất lời nói gì cả.
-         Anh lần đầu chạy hả? – Bà béo ưỡn ngực, hơi lấy lại được trạng thái bình thường trước ông.
-         Ờ …vâng, dạ vâng. – Trưởng Đào vẫn chưa hoàn toàn lấy lại tình trạng bình thường, giọng nói còn bị át đi bởi hơi thở từ khí quản dồn ra.
-         Tôi cũng mới chạy lần đầu – Bà béo lại hỏi – Anh mệt không?
-          Mệt thì mệt rồi. Nhưng … nghe nói là có thể sống lâu mạnh khỏe. – Trưởng Đào thở hổn hển gượng nói.
-         Tôi thì chả mong sống lâu trăm tuổi. Chỉ cần có thể sống thoải mái bảy năm nữa là hài lòng thỏa dạ lắm rồi! – Bà béo vừa lau mồ hôi vừa nói.
Trưởng Đào vừa gật gật đầu đáp lại chợt sững người ra. Sao, bà ấy cũng muốn cuộc đời dài thêm bảy năm nữa ư? Người bạn chỉ vừa mới cùng chạy với ông chưa đầy một trăm mét, hóa ra lại có mong ước về quãng đời sắp tới dài ngắn y như ông vậy?
II.
Từ đó bọn họ kết bạn với nhau, có lẽ là bởi họ đều là người mới chạy. Bà béo khắp người chỗ nào cũng có mỡ thừa, và những khối thịt nung núc mềm nhũn. Chỉ cần cử động người là toàn thân rung rinh lay động, y như một chiếc túi ni-lon đựng đầy dầu ăn, đứng lại rồi vẫn còn lay động mãi không dừng. Điều đó trở thành một gánh nặng khi bà chạy bộ, nó khiến tốc độ của bà ta vừa vặn phù hợp với tốc độ sức suy lực kiệt của trưởng Đào.
Kết bạn cũng có cái hay, có thể thúc giục, lôi kéo, và đốc thúc lẫn nhau. Họ hẹn nhau mỗi ngày đúng năm giờ sáng thì cùng có mặt ở đầu phố. Gặp mặt rồi, cười với nhau một tiếng cho biết, rồi tiếp tục chạy mươi bước, lại gật đầu với nhau lần nữa, giống như hai búp bê đồ chơi đã vặn cót cùng chạy lật đật. Nhưng lần nào người đến đầu phố đợi đối phương trước cũng luôn là bà béo. Bà béo thích mặc chiếc áo thể thao màu xanh mực, đứng đó trông rất giống một cái bục bưu chính. Còn trưởng Đào? Thường là ông đến muộn. Về sau càng buổi đực buổi cái, ba ngày đánh cá, hai ngày phơi lưới. Hai người quen nhau rồi, bà béo mới phê bình ông một câu khách sáo:
-         Ông thiếu quyết tâm.
Trên khuôn mặt khô xác, không có mỡ của Trưởng Đào nở một nụ cười ngượng nghịu. Thực ra, ông đến muộn hoàn toàn không phải do lười nhác, mà chính là do chạy bộ kích thích sự hứng thú và mong muốn làm việc, đã khiến ông thức khuya làm việc, cho nên thường thường buổi sáng không bò dậy nổi. Đối với ông, cái ông mong muốn là sức lực và thời gian cần cho dự án đó. Một khi đã có sức khỏe rồi, sao lại không dùng? Cho đến lúc sức lực đã hết, mệt mỏi không gượng được nữa, ông mới lại nhớ đến lời bác sỹ Lý, nhớ đến chuyện chạy bộ. Khi đó ông mới lại đến với con đường dưới tán cây, gặp bà béo như mặt trời ngày ngày đúng giờ nhô lên ấy, ngượng ngùng nói một câu tỏ ý xin lỗi:
-         Từ nay trở đi, nói gì thì nói, tôi cũng phải kiên trì!
Ông vẫn chưa thực hiện được lời thề của mình. Còn bà béo ấy thì đúng giờ như một chiếc đồng hồ chạy tốt, giống như một người máy cứ thao tác theo đúng lập trình không sai một li, nghiêm túc thực hiện ý chí của mình. Trừ những ngày mưa to hay gió bắc từ cấp sáu trở lên, còn không một ngày nào mà bà ta bỏ qua. Trưởng Đào khâm phục nghị lực của bà ấy, đồng thời cũng lấy làm khó hiểu vô cùng về khởi nguồn của nghị lực ấy, cứ đoán mò đủ kiểu. Đặc biệt là, việc bà béo ấy nói với ông, cũng muốn kéo dài cuộc sống thêm bảy năm. Kỳ quái thật! Bảy năm ấy đối với bà ta có ý nghĩa đặc biệt gì không?
Một hôm, trưởng Đào ở nhà, tay kẹp điếu thuốc ngồi trên chiếc ghế song có tay vịn, suy nghĩ về một vấn đề khó trong công trình nghiên cứu chưa hoàn thành của mình. Bỗng có người gọi, vợ ông ra mở cửa. Qua câu chuyện của vợ với người khách đến nhà, ông nhận ra đó là bác sĩ Lý đến chơi, liền vội vã dụi điếu thuốc vẫn còn quá nửa, ném vào trong cái ống nhổ, bước ra cửa phòng đón bác sĩ Lý vào.
-         Thế nào rồi, bác trưởng Đào? Chạy bộ có hiệu quả không? – Bác sĩ Lý vừa bước vào vừa nói.
-         Tốt lắm, tốt lắm, thực sự có hiệu quả rõ ràng, tinh thần sức khỏe đều tiến triển, đến ngủ trưa cũng không muốn ngủ nữa. - Trưởng Đào cười hớn hở nói.
Bác sĩ Lý liếc nhìn đống sách vở, bản vẽ, tài liệu chất cao như núi trên cái bàn lớn bên cạnh và con mắt thiếu ngủ thâm quầng của trưởng Đào, đôi lông mày đậm của ông ta lại nghịch ngợm nhảy nhướn lên, trêu chọc bảo: “Không ngủ trưa thì tôi tin. Nhưng e là có chút sức khỏe rồi, đến ngủ tối cũng không chịu ngủ ấy chứ! Tôi còn ngờ rằng anh chạy bộ cũng chỉ là kiểu tùy hứng thôi. Thuốc cũng chưa cai hẳn!” Bác sĩ Lý cố ý hít hít cái mũi mấy cái, biểu thị ông có chứng cứ xác đáng từ hơi thuốc nhận ra trong phòng.
-         Không, không! – Trưởng Đào cuống lên xua xua cẳng tay gầy dài nghêu nói – Tôi công nhận, thi thoảng cũng có hút mấy hơi, nhưng chạy bộ thì tôi kiên trì rồi.
Vợ trưởng Đào đứng bên cạnh bảo: “Ông nghe bác ấy nói chưa! Một tuần chạy ba ngày cũng đã tốt lắm rồi.”
Bác sĩ Lý bật cười. Mặt trưởng Đào đỏ bừng lên, vội nói như chữa ngượng: “Bác Lý này, bác đừng nghe bà ấy. Tôi có một người bạn, đã hẹn ngày ngày gặp nhau ở đầu con đường chỗ vườn cây ngoài công viên Thắng Lợi để cùng chạy với nhau. Không tin, bác cứ ra đấy mà xem.”
-         Thật à? Là ai thế?
-         Vô tình gặp nhau ở đấy ấy mà. Một bà béo lắm.
-         Ồ?! – Bác sĩ Lý như nhận ra người quen – Có phải là bà Dương không?
-         Đúng rồi! Bác biết bà ấy?
-         Vô tình biết thôi – Giọng điệu bác sĩ Lý bỗng trở nên khắc bạc – Thân hình như cái vại nước đúng không? Nhưng nói vại nước cũng chưa chuẩn bằng nói thùng dầu, vì là toàn thân bà ta chỗ nào cũng là mỡ. Đó cũng là tôi khuyên bà ấy chạy bộ đấy! Nếu không sớm muộn bà ấy cũng bị mỡ dìm chết.
Câu nói của bác sĩ Lý khơi dậy sự tò mò của trưởng Đào. Ông không đừng được phải hỏi:
-         Bác đã biết bà ấy, vậy có chuyện này không rõ bác có biết không. Bà ấy nói với tôi, bà ấy chạy bộ không phải để sống lâu trăm tuổi, mà chỉ cần sống được bảy tám năm nữa là đủ. Mà tôi cũng giống thế, chỉ cần sống bảy tám năm. Bác nói xem có trùng hợp không, kỳ lạ không! Chỉ tội là tôi không biết bà ta cần sống bảy năm nữa là vì việc gì?
Bác sĩ Lý bỗng cười vang ha hả vẻ thích thú, cười đến nỗi hai bên má cũng như cái cằm ông rung lên bần bật, đôi lông mày đậm giống như hai con sâu róm đen nhảy nhót. Rồi nụ cười dần dần thu cả lại vào góc miệng đang ẩn chứa một ý vị khắc bạc. Ông đưa ra lời giải cho câu hỏi lý thú này của trưởng Đào:
-         Bà ấy nói bà ấy chạy bộ để có thể “sống thêm bảy tám năm nữa” cũng là tôi nói với bà ấy thế. Vừa hay là, tôi cũng nói với anh như vậy. Ai mà biết rằng hai người lại gặp nhau! Ông chồng bà béo ấy trước giải phóng có mở một xưởng sơn dầu, nhiều tiền lắm. Bà béo ấy chả phải làm gì, chỉ ngồi ăn không. Hồi đầu Cách mạng Văn hóa, tài khoản bị ngân hàng phong tỏa. Năm ngoái có chính sách mới ra, tất cả được trả lại cho bà ấy, có tới bảy tám ngàn đồng. Chồng bà ấy chết rồi, không con không cái, có mấy nhà họ hàng, quan hệ cũng không tốt. Bà ấy mới muốn tự mình tiêu cho bằng hết số tiền đó. Bà ta vốn đã không phải là gầy, đến lúc có tiền tiêu pha, lại càng phát phì thêm lên, béo đến nỗi buộc dây giày cũng khó. Đấy có lẽ đúng là loại người mà như Lê-Nin nói là “béo đến phát buồn”. Bà ấy đến tìm tôi, hỏi tôi xem phải làm thế nào. Tôi bảo, bà phải ăn kiêng, ít dùng dầu mỡ. Bà ấy không nghe, bảo: “Thà là sống ít đi mấy năm, chứ cứ phải ăn cho ngon lành. Đến ăn ngon mà cũng không được ăn, thì hỏi sống còn có ý nghĩa gì?”. Tôi nói: “Nếu bà cứ như thế, tất sẽ làm cho tim  mạch phải gánh gánh nặng, may ra chỉ sống được bốn năm năm nữa.” Bà ấy cuống lên, nói mình phải sống được bảy năm nữa trở ra, nếu không sẽ phải để tiền thừa lại cho người khác, nhưng bà ta lại chẳng muốn để lại cho ai cả. Tôi liền nghiêm giọng nói với bà ấy: “Thế thì bà phải dậy sớm chạy bộ đi! Chạy bộ có thể giúp bà tiêu hao mỡ thừa trên người, lại có thể giúp ăn ngon miệng. Nếu như bà kiên trì ngày nào cũng chạy, thì chuyện sống thêm bảy tám năm không thành vấn đề. Bà không cần phải lo về khoản tiền ấy nữa, chắc chắn sẽ sử dụng hết!” Thực ra chỉ là câu tôi nói đùa thế, ai ngờ bà ấy lại chạy thật! Hà hà …”
Vợ chồng trưởng Đào nghe xong, cười đến phát sặc. Vợ trưởng Đào nói với bác sĩ Lý:
-         Bác tệ quá, để cho bà béo ấy ngày ngày phải dậy từ gà gáy.
-         Không, không. Bà ấy chạy thế, thực sự sẽ có ích cho sức khỏe.- Bác sĩ Lý nói.
Trưởng Đào nhấc cái kính mắt xuống, lấy cái khăn tay mềm bằng sa trắng lau một lượt nước mắt cười văng xung quanh kính, bảo:
-         Nhưng phải nói bà ấy có nghị lực hơn tôi. Ngày nào cũng rất đúng giờ có mặt, tôi phải phục bà ấy.
-         Điều đó tất nhiên rồi! – Bác sĩ Lý bỗng trở lại vẻ nghiêm túc, dường như ông muốn nói mấy câu thật trịnh trọng, ngữ điệu cũng trầm lắng xuống. Ông quay mặt lại phía trưởng Đào nói – “Một người sống vì người khác, thì thường sẽ quên đi chính mình. Một người sống vì chính mình, thì thường muốn đặt mình lên vị trí hàng đầu trong cuộc sống. Ở phương diện đối xử với bản thân, tất nhiên anh không so được với bà ấy.”
Bác sĩ Lý thường ngày vốn thích nói bông đùa, bỗng lại thốt ra những câu nói đầy triết lý như vậy, khiến trưởng Đào nghe rất nhập tâm, cứ gật đầu liên tục để tán đồng. Vợ trưởng Đào ở bên cạnh bảo:
-         Bác sĩ Lý, lời ông nói rất đúng. Nhưng mà ông Đào nhà tôi dễ lại vin vào câu này của ông, mà không chịu rèn luyện mất.
Bác sĩ Lý nghe xong, quay mặt sang nhìn ông kỹ sư già đã trải qua nhiều năm bị thời cuộc hiểm nguy chà đạp mà vẫn còn nguyên chí lớn trong lòng, khiến người khác phải kính nể, nói với tất cả sự ấm áp, chân thành:
-         Anh trưởng Đào, chúng ta cũng nên yêu quý bản thân mình, đó đâu phải là vì chúng ta. Đúng không?
III
Một năm sau, một ngày chủ nhật đầu xuân, bác sĩ Lý đang ngồi ăn cơm sáng ở nhà. Từ ngoài cửa sổ mở hé, một làn gió xuân thổi tới, mang theo hơi thở của những mầm non mới nhú, khơi gợi niềm hứng thú làm việc của ông. Ông dự tính ăn sáng xong, sẽ dùng thời gian cả một ngày hiếm có này, phiên dịch một chương khá dài trong cuốn sách ngoại văn về y học. Lúc ấy chợt có người đến thăm, ông lật đật mở cửa, đứng chặn trước cửa là một người đàn bà to khỏe chắc chắn, mặt mũi hồng hào. Ông vẫn còn chưa kịp nhận ra là ai, thì người đàn bà ấy đã nói oang oang:
-         Tôi là Dương đây ạ! Ông không nhận ra tôi à?
Ồ, hóa ra đó là bà béo dậy sớm chạy bộ ấy. Ông mời bà ấy vào phòng, cùng ngồi đối diện với nhau. Nhìn ngắm khắp một lượt, bà béo ấy so với ngày xưa đúng là thay đổi khiến người ta phải kinh ngạc, giống như một con gà mái béo đã luộc qua nước sôi sùng sục, thịt trên người đều co săn cả lại, cái bụng căng tròn ra cũng đã gọn hơn, không còn cảm giác núng na núng nính nữa. Cái cằm trước kia tròn xoe xệ thành hai lớp, giờ cũng bớt đi một lớp, hiện rõ hình cái cằm. Hai con mắt sáng sủa có thần, như người đời Tống vẽ mắt chim, dùng sơn sống điểm mắt, vừa đen vừa bóng vậy. Chân bà ta đi một đôi giày đá bóng màu xanh lam, cánh tay vắt một chiếc áo gió, một tay cầm chiếc túi lưới bên trong là một tảng thịt bò tươi rất lớn. Nhìn dáng vẻ, chắc là bà ấy mới chạy bộ trở về, tỏa ra một khí thế và sức sống của gốc cây già xanh tươi trở lại. Bà ấy hào hứng nói với bác sĩ Lý: “Tôi nghe lời bác sĩ, dậy sớm chạy bộ, đúng là rất tốt! Khỏe khoắn cả người, ngồi cũng không yên, phải dậy đi ra chợ, đi một lần cả nửa ngày mà chẳng mệt mỏi gì. Tì vị cũng rất tốt, ông xem tảng thịt bò trong túi này, tôi một bữa có thể ăn hết bay. Mà này, ông nhìn xem, xem bắp chân tôi này …” – bà vừa nói vừa kéo ống quần, để lộ ra bắp chân to chắc, cổ chân vừa hơi động đậy, thì bắp chân đã cuộn lên khối cơ bắp hình trái xoan rắn câng câng. Bà ấy nhìn thấy trong ánh mắt bác sĩ Lý một sự kinh ngạc, rất đắc ý và tự hào, lại khoe tiếp: “Tôi luôn kiên trì ngày nào cũng chạy. Ông có biết không, rất nhiều người không kiên trì, chạy được một thời gian lại không chạy nữa. Tôi không thế. Tôi chạy!”
-         Tôi biết. Có một người cùng chạy với bà được mấy tháng rồi không chạy nữa!
-         Ai?
-         Kỹ sư trưởng Đào. Một ông cao gầy, đeo kính mắt ấy. Không biết bà còn nhớ không?
-         Nhớ, nhớ rõ lắm! Ông cũng biết ông ấy à? Ông này kém lắm. Chưa từng bao giờ chạy liên tục được ba ngày trở lên, cứ bữa đực bữa cái. Gần một năm nay, chẳng thấy bóng dáng ông ấy đâu nữa. Loại người này ý chí kém cỏi, không có quyết tâm, chẳng làm nên được việc lớn gì cả! – Bà ta khinh miệt bĩu môi – Tôi không coi loại người ấy ra gì!
Bác sĩ Lý ngó khuôn mặt béo tốt của bà ta, nhờ có dinh dưỡng và chăm sóc tốt nên sắc mặt càng sáng láng, nở một nụ cười châm chọc:
-         Nhưng theo như tôi biết, ông ta đã hoàn thành một việc lớn rồi đấy!
-         Việc gì thế?
-         Ông ta nghiên cứu ra một phương pháp chế biến muối mới, lại tự động hóa toàn bộ, làm sản lượng nâng cao kinh người, gấp mấy chục lần.
-         Vâng – Bà béo chẳng có vẻ gì rung động, tiện mồm lại hỏi – Ông ấy vẫn khỏe chứ ạ?
-         Không! Ông ấy làm việc suốt ngày suốt đêm, quỵ rồi. Vừa hoàn thành công trình nghiên cứu thì bị tắc mạch máu não, phải vào nhập viện, e là ngay cả việc muốn bình phục lại cũng còn khó!
-         Thế nghiên cứu ra rồi để làm gì, người thì hỏng rồi! Tôi thì ngược lại chả tội gì đày đọa thân xác mình.  Sức khỏe tốt cũng là một sự hưởng thụ. Nếu như ông ấy cũng chạy bộ với tôi, thì đã không đến nỗi quỵ, ông ấy phải chạy mới đúng! – Bà béo nói. Khí lực bà ta rất tốt, nói chuyện cứ oang oang như quát.
-         Bà nói cũng phải. Năm kia, khi ông ấy bắt đầu công trình nghiên cứu này, sức khỏe kém lắm. Mà nghiên cứu công trình này, phải cần thời gian bảy năm ….”
-         Sao cơ? Cũng là bảy năm? – Bà béo sững người, liên tưởng đến bản thân mình, cảm thấy thật là trùng hợp.
-         Vâng! Bảy năm, cũng giống như bà, cũng cần đến bảy năm. Tất nhiên, bảy năm ấy dùng làm gì thì hoàn toàn khác. Tôi khuyên ông ấy chạy bộ, cũng nói với ông ấy, “kiên trì chạy hàng ngày, có thể sống thêm bảy tám năm trở nên.” Thế là ông ấy chạy. Nhưng sau đó, công trình nghiên cứu của ông ấy có bước đột phá, không cần phải mất bảy năm, chỉ cần khoảng một năm là đủ rồi. Thế là ông ấy không chịu bỏ ra mỗi ngày hơn một tiếng đồng hồ để chạy bộ nữa, sợ không thể đưa ra kết quả nghiên cứu một cách nhanh nhất. Ông ấy không chạy nữa, bò ra bàn, làm liền một mạch bốn trăm ngày, làm đến kiệt sức!”
-         Cái kiểu người thật không thể hiểu nổi …  - Bà béo lắc đầu chán ngán.
Bác sĩ Lý cảm thấy lời nói của bà béo chỉ biết coi việc tiêu hóa thức ăn làm mục đích cuộc sống kia, chẳng phải chỉ là sỉ nhục riêng trưởng Đào, mà còn sỉ nhục cả chính mình. Ông không đừng được bảo:
-         Thế đấy! Có rất nhiều người mà thái độ ứng xử với mạng sống của mình, thật sự khiến người khác không thể hiểu nổi. Đó là do nhận thức khác nhau của mọi người đối với giá trị của cuộc sống. Đúng không?
Bà béo nghe xong, tuy mơ hồ nhưng cũng cảm thấy được trong lời nói và ánh mắt của đối phương, đều lộ rõ một sự giễu cợt với mình. Bà ta cáo từ ra về trong tâm trạng không được vui vẻ.
Cho đến hôm nay, mỗi sáng sớm, trên con đường ướt đâm sương đêm dưới tán cây bên ngoài công viên Thắng Lợi, vẫn có thể thấy một đàn bà béo tốt đang chạy bộ như hồi nào. Tất nhiên bà ta là một người chạy lão luyện rồi. Hai bắp chân đã được rèn luyện lâu ngày to chắc như chân trâu đực, sải những bước chạy nhẹ nhàng, mềm dẻo, lại có tiết tấu. Sau lưng áo phông một vầng mồ hôi thấm ướt to như cái bánh đa. Hơn thế nữa, không có một ngày nào là bà ta gián đoạn. Trong màn mưa bay bay mịt mù, bà ta còn cầm cả cái ô cán nhựa vải đen để chạy, dù rằng hình ảnh ấy trong con mắt những người đi đường nó thật buồn cười./.

(Châu Hải Đường dịch)

Chú thích:
(1) Họ Toại Nhân: tức Toại Nhân thị, theo truyền thuyết cổ Trung Quốc là người tìm ra lửa, dạy người cổ đại biết ăn đồ ăn chin.
(2) Mười năm tai họa: chỉ thời gian mười năm Cách mạng Văn hóa Trung Quốc từ 1966 đến 1976.



Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

VĂN HỌC TRONG LÒNG TÔI - Phùng Ký Tài

                                                                                                           (Châu Hải Đường dịch)


Văn học chân chính cũng giống như tình yêu chân chính, là đi tìm hạnh phúc trong sự khổ đau.

I.

Có người nói tôi là kẻ may mắn trong văn học, có người nói tôi có phúc tướng, có người nói tôi gặp thời vận tốt. Những bạn nói các câu này, tất nhiên còn ẩn chứa bên trong một thâm ý khác nữa.
Tôi thì tin rằng, ai từng là người bất hạnh trong cuộc sống, thì người đó đã có điều kiện để trở thành kẻ may mắn trong văn học. Ai từng phải đầm mình lặn lội trong dòng sông tai họa của cuộc sống, thì người đó có thể trở nên một kẻ có phúc tướng sáng láng. Sau khi cuộc đời cướp bóc bạn một trận thỏa thuê, nó mới đem văn học tặng lại cho bạn. Văn học là kết quả khổ đau của cuộc sống, cho dù thứ quả ấy có một hương vị thật ngọt ngào.
Tôi lớn lên trong thời gian mười năm đại động loạn. Cuộc sống rất khắc nghiệt, nó không đùa với tôi. Bởi vì không có con đường gập ghềnh của cuộc sống, không có hoạn nạn mài dũa, không có hi sinh, thì cũng sẽ không có văn học với sức sáng tạo chân chính, có phát hiện, có giá trị. Ngược lại, tôi thường oán trách cuộc sống quá ưu ái và khoan dung đối với mình. Nếu như nó đẩy tôi đến những tầng sâu hơn nữa, tôi có thể đã tìm thấy chân lý thực sự của cuộc sống một cách sâu sắc hơn. Giữa hưởng lạc và khổ đau, người thực sự có chí hướng ở văn học, nhất định sẽ sẵn sàng lựa chọn điều thứ hai.
Vì thế, tôi lại thừa nhận rằng, mình là người may mắn.
Cuộc đại động loạn và đại biến cách ấy, khiến xã hội từ hình phẳng trở thành hình lập thể, từ đơn nhất trở nên rối loạn, trong cái vỏ đã nẻ toác như mai rùa, lộ rõ màu sắc từ tận tầng đáy. Màu sắc dưới đáy thường là màu cơ bản. Sông hồ biển cả chỉ trong những cơn sóng to gió lớn mới lộ ra tất cả những gì ẩn chứa bên trong mình. Phàm người ta khi trải qua những sự biến lớn, lại được nhận thức đến cùng, chắc chắn có thể có được những tài sản tinh thần quý báu không gì so sánh được. Bởi vì giá trị giáo huấn của nó không hề thua kém kinh nghiệm của sự thành công. Từ trong đó, tôi đã học được những thứ mà hàng trăm năm thái bình thịnh trị chưa chắc có thể học được. Cho nên khi chúng tôi cầm bút lên, chẳng cần phải tự cho là kẻ đa tình, làm bộ làm tịch, để viết lên thơ gượng nói sầu. Nội tâm sung túc và no đủ, cái cần thiết chỉ là ngôn ngữ giản dị sáng sủa và chính xác. Chúng tôi dường như chỉ cần nói ra một chút về sự thật những gì tai nghe mắt thấy, đã làm cảm động lòng người hơn cả những gì mà một tác giả có sức tượng tưởng giỏi nhất thời xưa hư cấu ra. Trước tiên, cái tôi thu hoạch được là trách nhiệm xã hội nghiêm túc, và phát hiện ra thứ tôi có thể dùng để thể hiện trách nhiệm với xã hội là giấy và bút. Tôi rót trách nhiệm ấy vào bầu mực trong quản bút, cây bút trở nên thật nặng nề, nếu tôi đem tất cả những gì trong quản bút ấy dốc ra trang giấy – đó chính là cái mà tôi mong mỏi, cái mà tôi tìm kiếm, văn học trong lòng tôi.
Cuộc sống biến đổi từng giây từng phút không ngừng. Văn học lần theo dấu vết của nó.
Tư tưởng và cuộc sống, cũng giống như Tolstoy nói, là một chiếc xe ngựa phi nhanh từ sườn núi xuống dốc, không rõ là ngựa kéo xe hay là xe đẩy ngựa. Nhà văn cần phải vươn ra tất cả những xúc tu cảm nhận và những xúc giác có thể thăm dò, luôn tìm đến những nơi sâu xa của cuộc sống, cùng với những người trong thời đại của mình đau đớn suy nghĩ tìm tòi con đường để đi tới một ngày mai hạnh phúc trong lý tưởng. Nếu như không phải như thế, văn học cao thượng sẽ không còn tồn tại.
Văn học là một sứ mệnh, cũng là một sự phục dịch suốt đời vừa ngọt ngào vừa đau khổ. Chẳng trách thường có người mắng tôi là ngu ngốc. Không sai, đúng là ngu ngốc! Quá nửa những sự việc trong cuộc đời này, chính là do những kẻ ngốc thằng đần làm ra bằng kiểu này hay kiểu khác.

II.

Tìm kiếm văn học, là sự tìm kiếm của nhà văn đối với cuộc đời.
Cuộc đời rộng lớn như sa mạc mênh mông không có đường đi, càng không có người dẫn đường, chỉ có một cái đích đẹp đẽ, xa xôi không nhìn thấy được cắm trong tim mình. Đi thế nào đây? Không biết. Trong chuyến đi dài và gian khó này, có khi sẽ hoang mang vì không biết phương hướng, có khi sẽ vì quá cô đơn mà do dự không tiến bước, có khi trong lòng tràn đầy tự tin, mạnh mẽ như cọp, có khi lại nắm tay đấm thùm thụp vào cái đầu trống rỗng của mình. Bất kể là hưng phấn, bằng lòng, kiêu ngạo, hay là chán nản, tự ti, hối hận, tất cả đều từng xâm chiếm lòng mình. Tâm tình giống như thời tiết, khi nóng khi lạnh. Cõi lòng thì tựa bầu trời, khi sáng khi tối. Đó là cuộc chiến đấu giữa niềm tin và phần yếu đuối trong ý chí. Mỗi một bước đi của cuộc đời đều cùng lúc vừa phải chống đỡ với những khó khăn từ bên ngoài, vừa phải vượt qua những chướng ngại của chính mình, mới có thể tiến bước lên phía trước. Tiền đồ của xã hội mọi người đều cùng nhau phấn đấu để giành lấy, nhưng con đường của cá nhân thì phải tự mình mở mang từng chút một. Vừa mở mang, vừa đi, đến chết cũng không biết mình đã đi được bao xa. Người chân chính đều sử dụng sự nghiệp của mình để tìm kiếm giá trị của cuộc sống. Nhà văn còn phải trực tiếp tìm hiểu hàm nghĩa của giá trị ấy.
Tìm kiếm văn học, cũng là sự tìm kiếm của nhà văn đối với nghệ thuật.
Trên cánh đồng hoang của nghệ thuật, cũng phải trải qua sự vất vả tìm kiếm đường đi. Tất cả những con đường mà người trước đã đi qua, đều là con đường ở phía sau lưng mình. Chỉ có đi ngao du tham quan thắng cảnh, mới có những con đường quen thuộc có đầy đủ xe pháo chờ đón sẵn sàng. Nhà văn nghiêm túc phải có những phát hiện cho cuộc sống của chính mình, sáng tạo phương thức biểu đạt phù hợp. Nói một cách nghiêm túc, mỗi một phương thức, chỉ thích hợp với một nội dung biểu đạt nhất định của nó, một nội dung khác lại cần phải tìm kiếm một phương thức mới khác.
Văn học không cho phép sự giống nhau, bất kể là với người khác hay là bới chính mình. Đối với nhà văn, ngay một câu cách ngôn chí lý đã dùng qua cũng không thể lại xuất hiện dưới ngòi bút của mình, nếu không sẽ mắc lỗi sao chép của chính mình.
Tuy nhiên, vượt qua người khác không dễ, vượt qua chính mình còn khó hơn. Một nhà văn dựa vào sự trải nghiệm, cảm thụ và phát hiện cuộc sống cũng như kiến giải mỹ học riêng có của mình, có thể vượt qua người khác, sự vượt trội đó trên thực tế cũng là một sự khác biệt. Nhưng một khi anh ta đã lộ ra diện mạo của mình, nếu muốn khác với chính mình, đổi một khuôn mặt khác, thì còn khó khăn hơn rất nhiều. Do vậy, đại đa số những tác phẩm tạo nên tên tuổi của nhà văn, chính là đỉnh cao trong sáng tác của họ. Nếu muốn vượt qua đỉnh cao đó, thì cũng giống  như phải tự mình đứng lên vai của mình vậy. Có người tìm cách thay đổi hình thức nghệ thuật, có người bận rộn gom thêm nội dung cuộc sống. Nhưng, nếu chỉ dựa vào sự mới mẻ về nghệ thuật, cuối cùng chỉ có thể khiến cho tác phẩm biến thành một cái vỏ chói mắt nhưng nhẹ hều. Vội thu gom những chất liệu từ trong cuộc sống, lại không phải một sớm một chiều có thể gặt hái được. Nghệ thuật là một triền dốc, giữa chừng không thể dừng lại, nếu anh không trèo lên anh sẽ bị trôi tuột xuống. Mỗi một nhà văn đều phải trải qua những thời kỳ buồn khổ với sáng tác. Có người bước được ra khỏi nỗi buồn khổ ấy, có người sụp đổ trong nỗi buồn khổ ấy. Bất kỳ sự vật gì cũng đều có hạn chế, bên ngoài hạn chế đó mới là giới hạn cuối cùng. Sức người chỉ cho phép đạt đến giới hạn cuối cùng, nếu không sớm muộn cũng có một ngày, tôi nhất định sẽ bó tay hết cách, tằm già nến cạn, chỉ còn biết chính mình bắt chước mình, bạn đọc sẽ hét vào mặt tôi: “Ông Phùng! Ông đến đây là hết rồi!”. Giống như một câu ngạn ngữ Nga: “Chó già không biết diễn trò mới”. Sự thay thế trên văn đàn cũng vô tình như sự đào thải của tự nhiên, vì thế phải đem hết toàn bộ con người mình vẽ nên một đường parabol không đẹp lắm, để ném ra văn đàn. Điều ấy cũng không hề gì, chỉ cần ta từng lưu lại một chút gì đó ở nơi ấy, thế là đủ.
Đã sống thì đừng sống hoài sống phí, đó là hạnh phúc và an ủi lớn nhất của cuộc đời. Nhưng, nếu như tôi đem nỗ lực suốt đời ra chỉ để có thể góp thêm cho văn học một cái gì mới, thì đó sẽ là việc đáng tiếc nhất suốt cuộc đời tôi.
Tôi sẽ nói mình: Đúng là một thằng ngốc!

III.

Một nhà văn cần có những tố chất gì?
Khả năng tưởng tượng, khả năng phát hiện, khả năng cảm thụ, khả năng quan sát, khả năng nắm bắt, khả năng phán đoán; Tư duy hình tượng sống động và tư duy logic nghiêm túc; Tri thức về cuộc sống tổng hợp và sự bồi dưỡng về nghệ thuật toàn diện nhiều nhất có thể. Phải khéo, phải vụng, phải linh hoạt, phải mềm dẻo, phải có sự ham muốn khám phá thế giới xung quanh, phải nuôi dưỡng mẫn cảm đối với từng chi tiết riêng có các sự vật muôn hình muôn vẻ, phải nắm bắt được chắn chắn và chuẩn xác từng cử chỉ điệu bộ, dáng vẻ lời nói, nét mặt nụ cười của đủ loại kiểu người. Và đối với tất cả những điều đó, mênh mông nhất hay chi li nhất, hữu hình hay vô hình, vận động hay tĩnh lặng, rõ ràng rành mạch hay mông lung mơ hồ, đều phải có khả năng biểu đạt ra một cách chuẩn xác. Ngòi bút phải như mũi kim của nghệ nhân thêu đất Tương, bố cục phải như Napoleon bày trận, trong tay mình gần như thật sự có phép thuật, đem tất cả những thứ không có sự sống ấy thổi vào một linh hồn cho chúng trở nên sống động linh hoạt. Ngoài ra còn cần phải có cảm giác linh mẫn, tình cảm tràn đầy, tầm mắt rộng lớn. Nội tâm của nhà văn là một vũ đài nhỏ, là mô hình thu nhỏ của vũ đài xã hội, tất cả những gì của cuộc sống, qua sự nhào nặn của nghệ thuật, đều diễn lại ở đó. Hơn nữa nó còn phải không ngừng thay đổi nhân vật, phông cảnh, không khí và cảm hứng. Biểu hiện cao nhất khả năng của nhà văn, là sáng tạo ra những nhân vật mới mẻ, có đầy đủ ý nghĩa điển hình và giá trị thẩm mỹ ở trên sân khấu đó.
Mình đã có được bao nhiêu trong số những tố chất đó? Không biết là thiếu bao nhiêu, mà biết cũng không làm được gì. Trước khi sinh ra đã thiếu hụt, sau khi sinh ra cũng không thể thêm vào. Hơn nữa trong văn học nghệ thuật, sở đoản có thể biến thành sở trường, điểm thiếu sót là điều kiện cần có để tạo nên một phong cách nào đó. Chữ của nhà thư pháp viết tay trái, bức tranh của họa sĩ bị tật về mắt, bài hát có giọng khàn làm mọi người say mê của một ca sĩ nói tiếng khàn, cũng giống như vẻ đẹp của vầng trăng khuyết mà trăng tròn không thể thay thế được. Không ít các nhà văn không đủ khả năng xây dựng những tác phẩm đồ sộ, đã trở thành những bậc thầy về truyện ngắn tinh tế lung linh. Không có một nhà văn nào là có đầy đủ các điều kiện, nhưng họ đều có những sở trường về nghệ thuật riêng của mình. Nhà văn còn phải có một tài năng, đó là biết về mình, đi vào sở trường, tránh sở đoản, phát huy ưu thế, khiến cho khí chất của mình trở thành nét đặc sắc về nghệ thuật, cùng với việc thành công về nghệ thuật, cũng là thành công về con người mình.
Nhận thức về mình không hề dễ hơn nhận thức về thế giới. Nhà văn có thể nhìn thấy rất rõ người khác, nhưng với bản thân mình thường rất mơ hồ, và không tỉnh ngộ. Tôi đã viết đủ các thể loại tác phẩm, đến nay không biết loại nào thực sự là của mình. Có cái thiên về triết lý, có cái lại chú trọng trữ tình, có cái đau buồn, có cái hài hước, tôi đều cảm thấy tất cả là của mình. - Đau buồn mới là khí chất của tôi? Vui sướng mới là hóa thân của tôi? Tôi là người suy nghĩ sâu xa hay là tùy hứng? Tôi làm sao lúc thì cổ đại lúc lại hiện đại? Bỗng nhiên thì đi vào tình điệu nước ngoài, bỗng nhiên lại đi vào phong vị quê hương? Tôi giống như thày bói xem voi, lúc này thì sờ được vào cái chân to lớn vững chãi, lúc sau lại sờ đến cái tai vừa rộng vừa mềm, lúc nữa lại sờ đến cái ngà vô cùng sắc nhọn. Cái gì cũng thấy giống mình, cái gì lại cũng chẳng phải mình. Có người hỏi phong cách của tôi là gì, tôi cười bảo: Tôi không quan tâm đến điều đó. Tất cả sức lực của tôi là để làm việc, là đem hết tất cả những gì mình có dâng hiến cho bạn đọc. Phong cách không chỉ là vẻ ngoài của tác phẩm, nó là một chỉnh thể vừa hài hòa vừa phức tạp. Nó giống như một con người, tồn tại một cách thực sự rõ ràng, nhưng lại khó nói ra cho rành mạch. Trong tác phẩm của mình, nhà văn ngoài việc miêu tả rất nhiều sinh mệnh ra, còn có một sinh mệnh nữa, đó chính là sinh mệnh của nhà văn. Phong cách là khí chất của nhà văn, là hơi thở của một sinh mệnh sống động, là một linh hồn khác biệt với vẻ đẹp riêng của nó mà ta có thể cảm nhận được.
Vì thế, nhà văn đã biến sinh mệnh của mình thành từng cuốn từng cuốn sách. Cho đến một ngày sinh mệnh của anh ta kết thúc, thì những cuốn sách mà anh ta viết, những cuốn sách làm rung động trái tim, làm dâng tràn tình cảm, làm cháy lên yêu ghét, những cuốn sách tỏa ra khí chất riêng có của anh ta, vẫn còn trên cõi đời giống như chính bản thân nhà văn vậy. Nếu như thứ nhà văn để lại không phải chính mình, không phải là cuộc sống mà anh ta cảm nhận được một cách thiết thực, không phải là sáng tạo mà là bắt chước, thì tự nhiên nó sẽ bị hậu thế thậm chí ngay hiện thế phế bỏ.
Nhà văn phải chịu đem bản thân mình trao cho độc giả. Viết ra những điều mình nghĩ, không sợ chính mình trong tương lai có thể phản đối chính mình của ngày hôm nay. Com tim khi cầm lên cây bút giống như lòng thành của một tín đồ, thánh thiện và bình thản. Phép tắc của tư tưởng là trong sạch và ngay thẳng, phép tắc của nội dung là chân thực, phép tắc của nghệ thuật là cái đẹp. Không lấy văn chương để trang điểm cho mình, chỉ có thể phủ định và thay đổi bản thân mình để hoàn thiện cho nghệ thuật. Nhà văn khi phê phán thế giới cần phải có dũng khí, khi phê phán chính mình cần phải có dũng khí lớn hơn. Độc giả mong muốn được nhìn thấy những nhân vật chân thực mà không nhất định phải hoàn mỹ trong tác phẩm, cũng mong muốn nhìn thấy một nhà văn thật sự dù có thể tự mâu thuẫn với chính mình. Sau khi vứt bỏ tất cả mọi thứ của mình, văn học sẽ tự nhiên ra đời, cũng giống như mặt trời khi đốt cháy chính mình mới tỏa ra ánh sáng.
Nếu như nhà văn biến chính mình thành tác phẩm, thì tên tuổi trên tác phẩm, cũng giống như cái rốn trên cơ thể người, có thể có, có thể không, hoàn toàn vô dụng, chẳng qua là theo tập quán, không có cái tên ấy thì dường như chưa phải là một cơ thể đầy đủ mà thôi – Xin nói vui một câu như vậy. Tôi muốn nói rằng, nhà văn không cần hưởng thụ một cái gì bên ngoài văn học. Đó chính là văn học trong lòng tôi!
                                                                                                
                                                                                       Thiên Tân -Tháng 1/1984

                                                                                     (Văn Nghệ Trẻ số 23 /2013)