Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

Chuyện Ngày Giáp Tết Của Một Hàn Sĩ Dưới Ngòi Bút Châm Biếm Của Hòa Bang Ngạch


“Dạ Đàm Tùy Lục” của Hòa bang Ngạch được khắc in lần đầu vào năm Kỷ Hợi niên hiệu Càn Long (1779), có lẽ vì thế chăng, mà dù đã được dịch và biên tập xong từ lâu, nhưng phải đến Tết năm Kỷ Hợi 2019 được “vấn thế” một cách tòa diện (toàn bản). Một điểm trùng hợp ngẫu nhiên nữa là, truyện đầu tiên của tác phẩm – truyện “Thôi Tú Tài” cũng lại là một truyện mà trường đoạn chủ yếu nhất của nó là viết về tình cảnh của một kẻ hàn nho trong những ngày giáp Tết. Và câu chuyện có thể nói là một trong những minh chứng cho chủ trương của tác phẩm, mà như trong lời giới thiệu đầu cuốn sách đã nói, khi so sánh nó với “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh, rằng:
“Nếu đem so sánh, giữa “Liêu Trai Chí Dị” và “Dạ Đàm Tùy Lục”, thì cả hai tuy cùng là những chuyện truyền kỳ chí quái nói về ma quỷ hồ ly, nhưng xét về mặt phản ánh cuộc sống, phê phán hiện thực thì mỗi tác phẩm lại có một đặc sắc khác nhau. Trong “Dạ Đàm Tùy Lục”, việc vạch trần và phê phán những mặt xấu xa của hiện thực thường cao hơn hẳn việc miêu tả và hướng đến một thế giới lý tưởng đẹp đẽ ảo tưởng. Do vậy, nếu như nói “Liêu Trai Chí Dị” phần nhiều là thể hiện một vẻ đẹp lý tưởng của chủ nghĩa ly kỳ lãng mạn, thì “Dạ Đàm Tùy Lục” lại bộc lộ nhiều hơn một không khí hung bạo của chủ nghĩa hiện thực thô sơ.”
Mời các bạn thưởng thức một đoạn trong truyện “Thôi Tú Tài” – truyện đầu tiên của tác phẩm “Dạ Đàm Tùy Lục”, để có thể thấy phần nào ngòi bút châm biếm hiện thực sâu cay của Hòa Bang Ngạch.


"Bậc tiên hiền ở phủ Phụng Thiên là Lưu công, từ khi chưa hiển đạt, vốn vẫn là con nhà thế gia. Khi còn tuổi trẻ, tính phóng khoáng hiếu khách, tiêu pha không bao giờ bủn xỉn, xe ngựa dập dìu, trước nhà lúc nào cũng đông như chợ, người qua lại ai cũng phải ngưỡng mộ, dù là Mạnh Thường quân nước Tề, Bình Nguyên quân nước Triệu cũng không hơn được.
Một hôm có vị khách là Thôi Nguyên Tố đến đưa danh thiếp, Lưu tiếp kiến, hỏi đến gia thế, bản quán, Thôi đáp: “Tôi là tú tài ở Lâm Cù, Sơn Đông, lên kinh đô đã hai mươi năm rồi. Nghe nói ngài vốn hiếu khách, nên đến làm thực khách vậy.” Lưu mừng lắm, hai bên cùng qua lại với nhau, thỉnh thoảng lại chu cấp cho tiền gạo. Thôi cứ độ mươi ngày lại đến, đến lần nào cũng vay mượn, người nhà đều ghét là kẻ nghèo hèn, riêng Lưu không lấy làm phiền, lần nào cũng cho được như ý, chưa từng trái bao giờ. Cứ như vậy đã hơn hai năm.
Bỗng nhà Lưu gặp liền mấy biến cố lớn, của cải mất gần hết. Lại ba năm nữa, thì nghèo đến không còn gì. Lại đi thi mấy bận không đỗ, thân cố ai nấy đều coi thường, đem chuyện được mất lỗi lầm của Lưu làm kể truyền miệng lẫn nhau, dần dần đến độ không gặp gỡ hỏi thăm nữa. Nô bộc trong nhà Lưu cũng bỏ đi, luôn luôn có kẻ cố ý phạm lỗi để mong bị đuổi, cuối cùng chỉ còn lại một người lão bộc. Trong nhà Lưu cũng chỉ có một vợ, một con trai, một con gái mà thôi.
Gặp dịp tháng Chạp sắp hết, mà nhà Lưu chỉ có áo trâu, vại rỗng, không có gì để đón năm mới.  Người con gái giỏi làm thơ, đùa ngâm rằng:
Chết buồn mưa tuyết mấy hôm liền;
Bông vón xui ai khắp chốn tìm.
Tết đến mà như Hàn Thực tiết;          
Trong bếp vì chưng cũng cấm yên.
Lưu thấy thế cười bảo: “Bây giờ hai vai lạnh sởn da gà, nếu có thể đem nấu mà ăn, thì cũng được bữa no. Giờ nghe thơ con, thật khiến ta thấy hổ thẹn.” Nhân lại họa rằng:
Năm nay năm trước khoảng trời liền;
Trước áo cừu nay bông rách tìm.
Nhắn bảo đông quân đừng báo tết;
Xuân sang sức cạn bếp đành yên!

Vợ giận lừơm bảo: “Bạn bè quý hóa ngày xưa, cần gì là đáp ứng ngay, những kẻ đến ăn không đâu phải chỉ có một người. Nay năm hết tết đến, đến cái ăn cũng không có, còn không nghĩ tính toán cách nào, lại còn dở dói họa thơ với con, chắc là ngồi đợi chết đói, mà làm sẵn bài phúng điếu đấy hẳn?” Lưu nói: “Vậy muốn ta đi ăn trộm hay sao?” Vợ nói: “Ăn trộm cũng được! Chỉ sợ ông cũng chẳng có cái tài ấy đâu! Nhà Chu tri huyện ở ngoài cửa Thuận Thành, khi còn hoạn nạn, ông ta vốn cũng là chỗ tri giao với ông, một ngày không gặp là không chịu nổi. Nghe nói hiện nay ông ấy vì có tang mà đang ở nhà, bổng lộc sung túc, sao ông không viết thư cho ông ấy, nhờ ông ấy giúp cho trong lúc cấp bách này?”  Lưu nói: “Nếu bà không nói, thì tôi cũng quên mất.” Liền viết thư, sai lão bộc đưa đi.
Sẩm tối, ngưỡi lão bộc trở về tay không, vừa vào cửa liền chửi ngay: “Đúng là đồ táng tận lương tâm, không nên quen biết với hắn ta nữa! Mới đầu, người giữ cửa chối rằng hắn đi ra ngoài không ở nhà, tôi đã không tin. Đến khi hắn ra cửa tiễn khách, tôi gặp được rồi. Hắn trâng trâng hai mắt, cầm thư trở vào. Tôi giục giã mấy lần, mới truyền lời ra rằng bận việc, không rảnh rỗi để viết thư phúc đáp được. Chỉ có thể nhờ nói lại giùm với ông rằng ông ta hiện giờ trăm việc cần chi dùng, trong túi không có một đồng, đang còn lo không biết mượn đâu ra, thực sự không giúp được như lời ông … Kẻ táng tâm như vậy, nếu còn quen biết, chẳng phải hỏng hết danh tiết ư!” Lưu đã mong mỏi một ngày trời, tưởng rằng được như ý, nay nghe như thế, không ngăn được buồn rầu.
Vợ đay nghiến bảo: “Bạn tri giao chẳng nhờ cậy được rồi. Còn bạn thân từ thuở ấu thơ, đâu phải là quen biết sơ sài. Ông Dương ở phía bắc thành, chẳng phải là bạn thân từ thơ ấu của ông ư?” Lưu lấy làm phải, lại viết thư gửi tới. Dương từ chối rằng buôn bán thất bát, thua lỗ cả tiền vốn, không có tiền giúp. Lưu vỗ đùi than rằng: “Loại bạn bè đầu môi chót lưỡi ấy, vốn chẳng lạ gì. Muốn có người hiểu mà giúp tiền bạc, chẳng thể không nhờ những bạn đạo nghĩa.” Bèn khêu đèn viết thư, nói hết tâm can, hôm sau giao cho lão bộc đưa đến Cận công tử ở phía nam thành.
Cận công tử là hậu duệ nhà sĩ hoạn quý tộc, ruộng vườn khắp quanh kinh thành. Công tử với Lưu vốn là thế giao, vô cùng thân thiết, mỗi khi hội ngộ cùng nhau, đều tối ngày sáng đêm, bàn toàn những khí tiết trung nghĩa, đạo lớn ở đời, cùng khích lệ chỉ bảo lẫn nhau, tình nghĩa không khác huynh đệ một nhà, có thể nói là đã đứng vững chân, không theo thói tục, một lòng học theo hiền nhân đời xưa. Cận công tử xem thư xong, lập tức phúc đáp, nói: “Thẹn rằng tri kỷ thì đáng phải lập tức tuân mệnh. Nhưng tiếc rằng tâm có thừa mà lực không đủ, đành thúc thủ vô sách. Ngài chỉ cần gắng sức noi theo chí hướng, chớ nên trễ nải bỏ bê, thì có lo gì nghèo khó! Vả chăng trời sinh ra Lưu quân, tất chẳng để cho khó nhọc, ngài hãy cứ đợi chờ, nhất định sẽ có ngày đại phú quý vậy. Chỉ có điều, một kẻ hiếu nghĩa như đệ, gặp khi nguy cấp thế này, mà lại ngồi nhìn bạn tốt gặp khốn, không thể đưa tay ra cứu giúp, thực đáng hổ thẹn, riêng mong người tri kỷ lượng thứ cho vậy!” Lưu phẫn uất, ném thư xuống đất nói: “Hơ hơ! Thường ngày móc gan ruột, nói đạo đức, nào là Dương, Tả, Nhậm, Lê! Mỗi khi ông ta sinh con trai con gái, ta từng đem trăm lạng vàng đến mừng. Nay khi ta cấp bách cần tiền, lại không chịu bỏ ra một đồng, còn đem những lời viển vông ra khuyên bảo. Gọi là bạn đạo nghĩa, là như thế này sao?”
Lão bộc khuyên bảo: “Bạn bè của chủ nhân, đại để chẳng có một ai thực sự là kẻ tri tâm đâu. Trong số họ hàng thân thích của ông cũng chẳng thiếu nhà phú quý. Sao không chịu khó mất mặt một chút, liên hệ với họ xem có cách nào không?” Lưu công buồn bã than bảo: “Bằng hữu là một trong năm đạo luân thường, mà còn gọi ba bận chẳng thưa, họ hàng thân thích sơ sơ, thì có hy vọng gì?”
Trong lúc chuyện trò, chợt nghe có tiếng gõ cửa, báo rằng Thôi tú tài đến. Vợ bảo: “Hừ! Người ta đã khốn khó cùng khổ đến bước này rồi, ông ta còn đến đẽo thịt kẻ trơ xương ư? Bây giờ đến khúc xương khô cũng chả còn nữa, vẫn còn đến vạc, e là chả có chỗ mà hạ dao đâu.” …”

Trong "Dạ Đàm Tùy Lục" có thể nói ngòi bút châm biếm phê phán hiện thực của Hòa Bang Ngạch trải rộng qua rất nhiều tầng lớp, từ quan lại, tăng lữ, cường hào địa chủ cho tới học trò, nho sinh ... Mà ở mỗi một tầng lớp, mỗi một hạng người, cho đến nay dường vẫn thấy thấp thoáng đâu đây trong xã hội của chúng ta. 

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2019

THƠ HỌA VẦN & DỊCH THƠ HỌA VẦN


Khác với văn xuôi hiện đại, văn xuôi cổ trung đại Việt Nam cũng như Trung Quốc (tiểu thuyết chữ Hán) đều có không ít thơ từ, và quả thực ít nhiều là một khó khăn và thách thức cho người dịch. Dẫu rằng, như nhiều bạn chia sẻ, dù sao dịch thơ từ trong tiểu thuyết, văn xuôi có thể liến phiến, dễ dãi hơn dịch thơ ca chính thống. Nhưng có thế nào thì dịch thơ vẫn đòi hỏi phải lựa chữ tìm vần, đảm bảo niêm luật, cho nên, nhiều khi dịch thơ chẳng đáng mấy chữ, nhưng lại mất khá nhiều thời gian công sức. Riêng với tôi, tôi thường tự đặt ra một nguyên tắc với mình là:

1.      Nếu là thơ, thì có thể dịch thành thơ theo nguyên thể, hoặc lục bát hay song thất lục bát (hai loại hình sau thường dùng khi dịch thơ trường thiên). Và nếu dịch thơ tứ tuyệt, hay bát cú Đường Luật thì bắt buộc phải đảm bảo chuẩn niêm luật, đối ngẫu.

2.      Nếu là từ: bắt buộc phải dịch nguyên điệu.

Riêng bấy nhiêu đó, thực ra đã khiến nhiều người ớn ngại khi dịch thơ ca trong các tác phẩm văn học chữ Hán cổ. Chính vì vậy mà nhiều thơ ca thường bị lược bỏ bớt đi, dẫu rằng quả tình nhiều bài cũng hơi “nhiêu khê”, dài dòng. Ấy thế mà, dịch thơ trong văn chương cổ lại còn bị “nâng tầm” thêm một mức độ nữa, là Họa Vần.
Họa vần, tức là các bài thơ khác nhau dùng chung một chữ làm vần. Dịch thơ họa vần, ngay cả khi chỉ là thơ ca chuyên nghiệp, đôi khi bản dịch cũng không thể đảm bảo được cũng là bài thơ họa vần, huống chi lại là thơ từ điểm xuyết trong tiểu thuyết? Thế nhưng nếu bản dịch lại cũng đảm bảo đúng là thơ họa vần thì còn gì hơn nữa!
Tôi đã dịch một số tác phẩm văn chương cổ, mà trong đó số lượng thơ ca không hề nhỏ, đến nỗi dù là người thích thơ, nhưng nhiều khi cũng ngán hãi. Trong cuốn “Dạ Đàm Tùy Lục” mới được Nhã Nam xuất bản, có thể nói là cuốn có ít thơ, từ nhất, nhưng trong số ấy lại có mấy bài thơ, từ là thơ họa vần, và tôi cũng đã gắng dịch nó thành những bài thơ dịch cũng cùng vần với nhau.

Trong chuyện đầu tiên trong tập sách – truyện “Thôi Tú Tài” (truyện này đầu tiên mà chơi luôn ba bài thơ, trong đó hai bài họa vần, một bài trường thiên, nhưng may thay phần lớn các truyện sau không có thơ mấy. Thật hú vía!), có đoạn viết về Lưu công nhân ngày giáp tết nghèo túng không  tiền, họa thơ với con gái như sau: Gặp dịp tháng Chạp sắp hết, mà nhà Lưu không có gì để đón năm mới.  Người con gái giỏi làm thơ, đùa ngâm rằng:

Nguyên văn:

悶殺連朝雨雪天,
教人何處覓黃棉。
歲除不比逢寒食,
底事廚中也禁煙。

Phiên âm:

Muộn sát liên triêu vũ tuyết thiên;
Giao nhân hà xứ mịch hoàng miên.
Tuế trừ bất tỉ phùng Hàn Thực;
Để sự trù trung dã cấm yên.

Bản dịch thơ (trong sách chỉ in bản dịch):

Chết buồn mưa tuyết mấy hôm liền;
Bông vón xui ai khắp chốn tìm.
Tết đến mà như Hàn Thực tiết;                         
Trong bếp vì chưng cũng cấm yên.

Lưu công nhân họa lại rằng:

Nguyên văn:

今年猶戴昔年天,
昔日輕裘今破棉。
寄語東風休報信,
春來無力出廚煙。

Phiên âm:

Kim niên do đới tích niên thiên;
Tích nhật khinh cừu kim phá miên.
Ký ngữ đông phong hưu báo tín;
Xuân lai vô lực xuất trù yên.

Trong bản dịch thơ, tôi cũng cố gắng dịch theo nguyên vận bài dịch trước là:

Năm nay năm trước khoảng trời liền;
Trước áo cừu nay bông rách tìm.
Nhắn bảo đông quân đừng báo tết;
Xuân sang sức cạn bếp đành yên!


Lại trong truyện “Tú Cô” có tới hai đoạn các nhân vật họa thơ với nhau. Đoạn đầu gồm ba bài:
Bài 1 – thơ của Tú Cô

Nguyên văn:

春雲一朵趁風來,
有意無心罨碧苔。
既有閒情能作雨,
如何舒卷上陽台。

Phiên âm:

Xuân vân nhất đóa sấn phong lai;
Hữu ý vô tâm yểm bích đài.
Ký hữu nhàn tình năng tác vũ;
Như hà thư quyển thướng dương đài.

Bản dịch thơ:

Mây xuân một đóa gió đưa về;
Rêu biếc chăng hay có dạ che.
Nếu có nhàn tình mưa móc xuống;
Làm sao cuộn tỏa đến hiên xa?”


Bài họa của Điền Lân:

Nguyên văn:

春雲一朵趁風來,
故意氤氳罨碧苔。
白日有情先作雨,
夜間打點上陽台。

Phiên âm:

Xuân vân nhất đóa sấn phong lai;
Cố ý nhân uân yểm bích đài.
Bạch nhật hữu tình tiên tác vũ;
Dạ gian đả điểm thướng dương đài.

Bản dịch thơ:

Mây xuân một đóa gió đưa về;
Rêu biếc êm hòa ý muốn che.
Ban sáng có tình mưa xuống trước;
Buổi đêm sẽ tính đến hiên xa.”

Bài họa thứ 2 của Tú Cô:
Nguyên văn:  

坐待秋風出岫來,
東牆月已上莓苔。
娘家兄妹休迴避,
例有媼嶠玉鏡台。

Phiên âm:
Tọa đãi thu phong xuất tụ lai;
Đông tường nguyệt dĩ thướng môi đài.
Nương gia huynh muội hưu hồi tị;
Lệ hữu Ôn Kiều ngọc kính đài.

Bản dịch thơ:

Ngồi đợi thu phong vượt núi về;
Tường đông trăng giọi lớp rêu che.
Anh em cô cậu xin đừng tránh;
Ngọc kính Ôn Kiều lệ chẳng xa.”

Cũng trong truyện “Tú Cô” còn có hai bài thơ họa vần của hai nhân vật này trong buổi chia ly, như sau:

Thơ của Tú Cô:

Nguyên văn:  

愁對空庭月影斜,
涔涔別淚恨無涯。
他時相訪應如夢,
認取棠梨一樹花。

Phiên âm:

Sầu đối không đình nguyệt ảnh tà;
Sầm sầm biệt lệ hận vô nha.
Tha thời tương phỏng ưng như mộng;
Nhận thủ đường lê nhất thụ hoa.

Bản dịch thơ:

Buồn trông sân vắng ánh trăng tà;
Oán hận đầm đầm giọt lệ sa;
Ngày khác thăm nhau xem tựa mộng;
Đường lê nhận lấy một cây hoa.”

Bài họa của Điền Lân:

Nguyên văn:  

話別匆匆月已斜,
無端分手向天涯。
癡情不比浮梁客,
珍重東風撼落花。

Phiên âm:

Thoại biệt thông thông nguyệt dĩ tà;
Vô đoan phân thủ hướng thiên nha.
Si tình bất tỷ phù lương khách;
Trân trọng đông phong hám lạc hoa.

Bản dịch thơ:

Lời biệt chưa nguôi trăng đã tà;
Bỗng đâu rẽ lối góc trời xa.
Tình si chưa được ôm cầu chết;
Lưu luyến đông phong nhặt cánh hoa.”

Bài họa này, chữ Hám đành dịch thoát nghĩa một chút, nhưng cũng diễn đạt được ý.

Trong chuyện “Đổng Như Bưu” lại có hai bài từ “Như Mộng Lệnh” làm theo cùng vần như sau:

Bài “Như Mộng Lệnh” của A Duẩn:

Nguyên văn:

擲果潘郎風味,
傅粉何郎風致。
底事不同車,
忍作執鞭之士?
留意,
留意,
留意詢伊名字

Phiên âm:

Trịch quả Phan lang phong vị;
Phó phấn Hà lang phong trí.
Để sự bất đồng xa,
Nhẫn tác chấp tiên chi sĩ?
Lưu ý,
Lưu ý,
Lưu ý tuần y danh tự.

Bản dịch từ:

Ném quả chàng Phan phong vị;
Dồi phấn chàng Hà ra vẻ.
Hà cớ chẳng cùng xe;
Chịu phận đánh roi riêng kẻ.
Để ý,
Để ý,
Để ý người tên chi thế?”

Bài “Như Mộng Lệch” họa nguyên vận của A Nộn:

Nguyên văn:

漸識石榴滋味,
驀見蓮花標致。
有女正懷春,
誰是誘之之士?
留意,
留意,
留意印兒名字。

Phiên âm:

Tiệm thức thạch lưu tư vị;
Mạch kiến liên hoa tiêu trí.
Hữu nữ chính hoài xuân;
Thùy thị dụ chi chi sĩ?
Lưu ý,
Lưu ý,
Lưu ý Ấn Nhi danh tự.

Bản dịch từ:

Thạch lựu dần hay hương vị;
Bỗng thấy hoa sen tươi vẻ.
Thiếu nữ rộn tình xuân;
Mê hoặc hỏi rằng ai kẻ?
Để ý,
Để ý,
Để ý Ấn Nhi tên thế!”           

Trên đây là mấy trường hợp Thơ và Từ họa vần mà tôi đã cố gắng dịch cũng theo đúng thể thức họa vần trong tác phẩm “Dạ Đàm Tùy Lục”. Dẫu rằng bản thân thơ từ này không phải xuất sắc (vì chỉ là thơ từ điểm xuyết trong tiểu thuyết) và cũng có chỗ dịch chưa được như ý, nhưng qua chuyện này hi vọng các bạn có thể thấy được sự dụng công trong công việc của một người dịch thuật văn chương.

Ngày giáp Tết Kỷ Hợi - 2019
C.H.Đ


Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2018

10 vị thần Tình ái tiêu biểu nhất trong truyền thuyết Trung Quốc


Đất nước Trung Hoa có rất nhiều những truyền thuyết về các vị thần tiên, mà hàng ngàn năm qua vẫn được phụng thờ trong tín ngưỡng dân gian. Những vị thần tiên này có thể nói là muôn màu muôn vẻ, có thần tình yêu, có thần hôn nhân, có thần về sinh sản, có thần bảo hộ cho gia đình, có thần chưởng quản về thi cử, đỗ đạt, phúc lộc, tiền tài …Trong đó có không ít thần tiên có liên quan đến chuyện tình ái. 


1. Nữ Oa - Thần mai mối:
Nữ Oa là một vị nữ thần được sùng bái từ rất lâu đời trong rộng rãi nhân dân Trung Quốc. Bà được coi là vị thần thuỷ tổ của người Hoa, đã sáng tạo ra thế giới. Trong truyền thuyết, Nữ Oa có thể hoá sinh ra vạn vật, và kỳ tích nổi tiếng nhất của bà mà không ai không biết, đó là luyện đá vá trời, và nặn đất tạo ra con người.
Trước khi tạo ra con người, thì bà đã tạo ra các con vật: Ngày 1 tháng Giêng tạo ra gà, mùng 2 tháng Giêng tạo ra chó, mùng 3 tạo ra dê, mùng 4 tạo ra lợn, mùng 5 tạo ra trâu, mùng 6 tạo ra ngựa, đến mùng 7 tháng Giêng mới nhào đất và nước tạo ra con người (chính vì vậy người Trung Hoa vẫn gọi ngày 7 tháng Giêng âm lịch là nhân nhật). Nghĩ đến con người phải được truyền nối đời đời, bà bèn tạo lập ra các chế độ hôn phối, kết hợp con trai và con gái để sinh con đẻ cái, vì vậy Nữ Oa trở thành bà mối đầu tiên trên thế gian, được người đời tôn thờ là vị tổ thần mai mối, gọi là "Cao Môi". Người ta dựng miếu thờ Nữ Oa, hay còn gọi miếu Cao Môi và tế lễ vị thần hôn nhân này rất linh đình bằng lễ thái lao (giết ba con vật lợn, trâu, dê để cúng tế), đây là lễ tế cao nhất trong các hoạt động tế tự xưa. Những miếu Cao Môi hiện vẫn còn ở nhiều nơi như Lạc Ninh - Sơn Đông, Hà Tân - Sơn Tây, Vu Đô - Giang Tây … Sự xuất hiện của thần Nữ Oa cho thấy dưới thời kỳ thị tộc mẫu hệ, phụ nữ là trung tâm trong việc hôn nhân và nữ tộc trưởng nắm việc hôn nhân của toàn bộ tộc.

2. Ngưu Lang - Chức Nữ:
Câu chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ là một trong bốn truyền thuyết ca tụng tình yêu nam nữ nổi tiếng nhất của Trung Quốc (Ba truyền thuyết còn lại là Hằng Nga Hậu Nghệ, Mạnh Khương nữ, và Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài). Ngưu Lang và Chức Nữ là bắt nguồn từ tín ngưỡng tôn thờ các vì sao thời cổ xưa ở Trung Quốc, và người ta đã nhân cách hoá các vì sao thành những con người, rồi lại thần hoá thành các vị thần tiên. Trung Quốc có rất nhiều những vị thần kiểu này như: Nhị thập bát tú, Nam Tào, Bắc Đẩu, các vị thần Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ …
Ngưu Lang tức sao Ngưu, hay Khiên Ngưu là ngôi sao thứ hai trong chòm sao Huyền Vũ phương bắc, một trong Nhị thập bát tú. Chức Nữ tức sao Thiên Tôn nằm ở phía tây Ngân Hà, đối diện với sao Ngưu Lang. Từ rất sớm, trong "Kinh Thi" đã có ghi chép về hai ngôi sao Ngưu Lang, Chức Nữ, nhưng vẫn chưa có cốt truyện. Cho đến thời Hán mới có câu chuyện này. Sau thời Đông Hán thì câu chuyện tình yêu của Ngưu Lang - Chức Nữ được lưu truyền ra dân gian, đại ý cốt truyện là Chức Nữ là cháu của Ngọc Hoàng Thượng đế, đã đem lòng yêu chàng trai chăn trâu (Ngưu Lang) ở dưới trần gian, hai bên bèn kết duyên chồng vợ, sống với nhau rất hạnh phúc. Sau đó, Ngọc Hoàng biết chuyện, sai Vương Mẫu nương nương xuống trần gian bắt Chức Nữ về trời chịu tội. Ngưu Lang vô cùng đau khổ, nhờ con trâu giúp sức, đuổi theo lên trời, gần đuổi kịp thì bị Vương Mẫu dùng cây trâm trên đầu vạch một đường thành sông Ngân Hà ngăn cách. Ngưu Lang, Chức Nữ bị Ngân Hà cách trở chỉ biết đứng nhìn nhau qua sông mà khóc. Ngọc Hoàng biết chuyện thương tình, mới cho phép họ mỗi năm vào ngày mùng 7 tháng 7 nhờ chim ô thước bắc cầu để được gặp nhau. 
Sau này ngày 7 tháng 7 hàng năm trở thành một ngày lễ trong dân gian, gọi là "Thất xảo tiết" hay "Khất xảo tiết". Những người phụ nữ thường đem kim chỉ ra để "khất xảo" - cầu xin Chức Nữ ban cho sự khéo léo giỏi giang. Không những vậy, sau này người ta còn cầu xin cả thông minh, giàu sang, phúc thọ, … và đặc biệt là cầu tình duyên. 
Xưa kia, nơi nào ở Trung Quốc cũng có Chức Nữ miếu, thờ cúng Ngưu Lang và Chức Nữ như những vị thần của tự do yêu đương, trong đó miếu Chức Nữ ở Thái Thương tỉnh Giang Tô là nổi tiếng nhất.
(Ngưu Lang - Chức Nữ trên nghệ thuật cắt giấy)

3. Nguyệt thần (Thần mặt trăng):
Nguyệt thần là một trong những thần tiên được lưu truyền rộng rãi nhất ở Trung Quốc, còn được gọi với những tên khác như: Nguyệt Quang nương nương, Thái âm tinh chủ, Nguyệt Cô, Nguyệt Quang Bồ Tát… Việc sùng bái thần mặt trăng đã có từ rất xa xưa, ở nhiều nước khác trên thế giới cũng có những hiện tượng như vậy. Mặt trăng đem đến cho người ta ánh sáng trong đêm tối, ánh trăng lung linh huyền ảo thường khơi gợi nhiều tưởng tượng, "Hằng Nga lên trời" là một trong những câu chuyện của trí tưởng tượng đó. Theo truyền thuyết Hằng Nga (hay Thường Nga) là vợ của Hậu Nghệ, vì Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời nên phải tội với Thượng Đế, bị đày xuống nhân gian. Sau Hậu Nghệ được thuốc trường sinh bất lão của Tây Vương Mẫu, Hằng Nga uống trộm của Hậu Nghệ rồi bay lên trời, ở trong cung trăng, trở thành Nguyệt thần. Các sách cổ như "Sơn hải kinh", "Sưu thần ký" … đều có chép chuyện này.
Sau đó, Nguyệt thần được rộng rãi nhân dân sùng bái, trai gái yêu đương thường cùng thề nguyền dưới trăng, bái cầu Nguyệt thần. Những người yêu nhau mà phải chia ly cũng thường cầu Nguyệt thần phù hộ để được đoàn viên. Nguyệt thần thường được coi là vị thần phù hộ và minh chứng cho tình yêu trai gái.

4. Nguyệt hạ lão nhân:
Nguyệt hạ lão nhân (còn gọi là Nguyệt lão) là vị thần chuyên quản việc hôn nhân theo truyền thuyết Trung Quốc. Theo Thẩm Tam Bạch ghi trong sách "Phù sinh lục ký" thì vị thần này "một tay cầm dây tơ đỏ, một tay chống cây gậy trên đầu có treo sổ hôn nhân, sắc mặt như trẻ thơ mà tóc bạc trắng, đi lại giữa mịt mù không ra khói, không ra sương". 
Người ta cho rằng Nguyệt lão là thần nhân duyên, chuyên se duyên cho các đôi trai gái. Ông lấy sợi dây đỏ buộc chân họ lại với nhau, đã buộc ai vào ai thì dù xa cách núi sông cũng đến được với nhau, còn nếu như hai người không có dây đỏ buộc chân vào nhau thì có ở kề bên cũng không nên duyên chồng vợ được. 
Rất nhiều nơi ở Trung Quốc có đền Nguyệt lão. Trong Bạch Vân am dưới núi Cô Sơn ở bên Tây Hồ - Hàng Châu có Nguyệt lão điện, thờ thần Nguyệt lão, với đôi câu đối: 
   願天下有情人,都成了眷屬;
   是前生注定事,莫錯過姻緣。
"Nguyện thiên hạ hữu tình nhân, đô thành liễu quyến thuộc; 
 Thị tiền sinh chú định sự, mạc thố quá nhân duyên" 
(Mong người yêu nhau trong thiên hạ đều được thành gia quyến; Là việc đã định sẵn từ kiếp trước, chuyện nhân duyên chẳng sai bao giờ)
Đó chính là nguyên nhân mà từ xưa đến nay người ta vẫn tôn thờ Nguyệt lão. Câu chuyện về Nguyệt lão nổi tiếng nhất là câu chuyện Vi Cố lấy vợ được ghi trong "Tục u quái lục" của Lý Phục Ngôn đời Đường. Câu chuyện này lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, về sau Lưu Đoái đời Minh còn viết vở hý kịch "Nguyệt hạ lão nhân định thế gian phối ngẫu" diễn về tích này. 
Trong hôn lễ ở Trung Quốc còn có phong tục buộc dây tơ hồng, hoặc đôi trai gái cùng cầm một dải lụa đỏ đi vào phòng cưới…Tế thần Nguyệt lão (hay Tế tơ hồng) cũng trở thành một nghi thức trong hôn lễ xưa. (Tục lệ này cũng phổ biến ở Việt Nam).
(Một tượng thờ Nguyệt Hạ Lão Nhân)

5. Tứ châu Đại thánh - Thần tình yêu:
Tứ châu Đại thánh được lưu truyền ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến. Về vị thần này có câu chuyện như sau: Giữa hai huyện Huệ An và Tấn Giang của Phúc Kiến có con sông Lạc Dương chảy qua, nước sông chảy siết, không thể bắc cầu qua được, người dân ở đó đã nhiều đời cố gắng mà không thành. Một hôm có ông lão chở một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp đi trên thuyền ở giữa sông, ông lão bảo, ai có thể dùng tiền ném vào trúng người cô gái thì sẽ gả cô cho người ấy. Vì vậy mà người ta kéo nhau đến ném tiền đông như trảy hội, nhưng không có ai ném trúng được cô gái, tiền chỉ rơi xuống sông mà thôi. Như vậy đến vài tháng, lòng sông đầy những tiền, thành một cái móng vững chắc để dựng cầu. Hoá ra ông lão ấy là thần thổ địa, còn cô gái chính là Quan âm Bồ tát hoá thành để giúp dân xây cầu.
Nhưng khi sắp xong công việc thì có một người ở đất Tứ châu đã nghĩ ra một kế thông minh và ném trúng được cô gái. Ông lão bèn bảo anh ta ra lương đình bên sông ngồi chờ để bàn chuyện hôn nhân. Người ấy đến lương đình ngồi đợi nhưng đã không bao giờ đứng dậy nữa, nguyên là linh hồn anh ta đã được Quan âm Bồ tát đưa đến tây thiên thành phật rồi, chỉ còn nhục thân lưu lại ở lương đình và được nhân dân tôn sùng thờ phụng là Tứ châu Đại thánh.
Dân gian lưu truyền Tứ châu Đại thánh rất thương cảm cho những người tình si. Ai đang yêu mà muốn người yêu không bao giờ rời bỏ mình chỉ cần lấy một chút đất bụi ở phía sau gáy tượng Tứ châu Đại thánh rồi lặng lẽ rắc lên người đối phương thì người ấy trọn đời sẽ không thay lòng, tình yêu, hôn nhân đều hạnh phúc. Không biết đã bao nhiêu người làm theo điều đó, chỉ biết phía sau gáy tượng Tứ châu Đại thánh cứ phải thường xuyên sửa đi sửa lại mãi.

6. Hỷ thần:
Hỷ thần là thần may mắn và tốt lành. Con người ai cũng có mong muốn vươn tới cái tốt, tránh cái xấu, có được may mắn và sung sướng, do vậy mà người ta đã xây dựng ra hình ảnh Hỷ thần. Chuyện hôn nhân là một chuyện vui lớn trong đời mỗi con người, vì thế hôn nhân được coi là hỷ sự. Đã là hỷ sự thì đương nhiên không thể tách rời hỷ thần được. Theo tục lệ xưa ở Trung Quốc, trong ngày cưới, cô dâu phải ngồi ở vị trí đối diện với phương vị của hỷ thần trong ngày hôm đó, vậy vị trí của hỷ thần ở hướng nào? Thông thường trước lễ cưới người ta phải tìm hiểu về vấn đề đó qua các thầy bói, các nhà âm dương. Theo sách “Quân kỷ biện phương thư hỷ thần” viết thời Càn Long thì phương vị của hỷ thần vào các ngày theo lịch can chi Trung Quốc như sau:
   Ngày Giáp, Kỷ     - Hỷ thần ở hướng Cấn (Đông Bắc), giờ Dần
   Ngày Ất, Canh    - Hỷ thần ở hướng Càn (Tây Bắc), giờ Tuất
   Ngày Bính, Tân    - Hỷ thần ở hướng Khôn (Tây Nam), giờ Thân
   Ngày Đinh, Nhâm    - Hỷ thần ở hướng Ly (Chính Nam), giờ Ngọ
   Ngày Mậu, Quý   - Hỷ thần ở hướng Tốn (Đông Nam), giờ Thìn
Theo hướng hỷ thần mà thầy bói tính ra, kiệu của cô dâu phải để quay về đúng hướng đó, sau khi cô dâu lên kiệu, người ta không đi ngay mà phải dừng một lúc gọi là “Đón Hỷ thần”, sau đó mới xuất phát.
Thời xưa, vào ngày mùng 1 tết, kỹ nữ trong các kỹ viện ở Bắc Kinh cũng thường có tục lệ mặc trang phục đẹp để đi đón Hỷ thần cầu mong sự may mắn trong chuyện “làm ăn” của mình.

7. Sàng thần (thần Giường):
Phong tục lễ Sàng thần đã có từ rất lâu, từ thời Tống đã lưu hành tục lệ này. Tục truyền Sàng thần có thần nam (Sàng công), thần nữ (Sàng bà). Sàng bà thì thích uống rượu, Sàng công thì thích uống trà, gọi là “nam trà nữ tửu”, nên người ta truyền nhau “dùng rượu cúng Sàng bà, dùng trà cúng Sàng công”. Khi cúng tế, người ta đặt trà, rượu, bánh trái trong phòng ngủ, để cầu được ngủ yên giấc và cuộc sống hôn nhân như ý. Nhưng thời gian cúng tế Sàng thần thì mỗi nơi một khác, có nơi vào đêm trừ tịch, sau khi lễ đón thần linh, Táo quân, thì lễ đón Sàng thần, có nơi lại làm vào ngày 16 tháng Giêng (ÂL)…
Một số vùng ở Trung Quốc xưa còn có tục lệ “an sàng”, tức là trước ngày hôn lễ vài hôm, người ta đặt giường mới cho đôi vợ chồng trong phòng tân hôn. Vị trí đặt giường phải tính theo ngày, giờ, tháng, năm sinh của cô dâu và chú rể, ngoài ra còn phải chú ý hướng cửa, hướng của Sàng thần, kỵ đối diện với bàn, tủ… Khi “an sàng” cũng phải chọn ngày giờ tốt, an sàng xong thì tối hôm đó sẽ lễ Sàng thần. Tập tục này thời Minh, Thanh rất thịnh hành. Lễ Sàng thần trong ngày cưới để cầu mong cho đôi vợ chồng mới có được cuộc sống lứa đôi hạnh phúc keo sơn.

8. Thần Hòa Hợp:
Thuở xưa, thần Hòa Hợp có nhiều hàm ý khác nhau. Từ “hòa hợp”, có nghĩa là hòa thuận, đồng lòng, hài hòa, hợp ý… Rất sớm, trong sách “Chu lễ - Địa quan” phần “Môi thị” đã viết: “Sử môi cầu phụ, hòa hợp nhị tính” tức là: sai bà mối đi tìm vợ, làm cho hai họ được hòa hợp với nhau, đó là câu giải thích chính xác nhất về hai từ “hòa hợp”. Nhưng người ta lại có thể hiểu là: “sai bà mối đi tìm vợ, là hai người họ Hòa, họ Hợp”. Vì vậy mà người ta đã suy diễn ra hai thần Hòa Hợp. Ban đầu thần Hòa Hợp là vị thần chủ về việc giúp mọi người trong gia đình êm ấm, hòa thuận với nhau, nhưng rồi theo thời gian dần dần diễn biến ra vị thần phù hộ cho hôn nhân hòa hợp. Đồng thời, từ hình tượng một vị thần có gương mặt tươi cười, xõa tóc, đánh trống, hình ảnh thần Hòa Hợp cũng diễn biến thành hai vị thần một người cầm cành hoa sen, một người bưng chiếc tráp (do hoa sen tức “hà” đồng âm với từ “hòa”, còn tráp tức “hạp” đồng âm với từ “hợp”) gọi là Hòa Hợp nhị tiên.
Trong sách “Sự vật nguyên hội” lại nói: “Hòa Hợp thần nãi Thiên Thai sơn tăng Hàn San dữ Thập Đắc dã.” (Thần Hòa Hợp là hai vị sư Hàn San và Thập Đắc ở núi Thiên Thai). Trên vách sau tòa Đại Hùng bảo điện ở chùa Hàn San - Tô Châu, có bức tranh khắc đá về hai vị sư Hàn Sơn và Thập Đắc của La Sính – nhà danh họa đời Thanh. Trong đại điện cũng có tượng của Hàn Sơn và Thập Đắc, mà nghệ nhân xưa cũng cho hai ông một người cầm hoa sen, một người cầm chiếc tráp. Thực ra, vào năm Ung Chính thứ 11 đời Thanh (1733) triều đình có chỉ dụ phong Hàn San đại sĩ ở Thiên Thai làm “Hòa thánh”, Thập Đắc đại sĩ làm “Hợp thánh”, vì vậy mà hai ông được tôn xưng là “Hòa Hợp nhị tiên” hay “Hòa Hợp nhị thánh”. Qua đó có thể thấy thuyết này chỉ mới xuất hiện từ đời Thanh mà thôi.
Xưa kia người ta thường treo tranh “Hòa Hợp nhị tiên” ở phòng khách giữa nhà để mong cho gia đình cát tường hòa hợp, lại thường treo trong hôn lễ để tượng trưng cho vợ chồng hòa thuận yêu thương.
(Hòa Hợp Nhị Tiên Đồ)

9. Tử Tôn nương nương (Các bà mụ):
Người Trung Hoa quan niệm đông con cháu là có phúc, vì vậy ai hiếm muộn thường lễ bái thần phật để cầu tự. Do đó mà hàng loạt các vị thần tống tử (ban cho con cái) được xây dựng nên mà hầu như đều được gọi là Tử Tôn nương nương. Ở Quảng Châu có ngôi miếu cầu tự rất nổi tiếng, đó là Kim Hoa miếu, trong đó thờ Kim Hoa phu nhân, phối thờ thêm: Trương Tiên, Hoa Đà, Nguyệt Lão, Hoa Vương, Đào Hoa nữ, Đẩu Mẫu … đều là những thần thánh có liên quan đến sinh sản, ngoài ra là thờ 20 bà mụ, đều có đủ danh hiệu như: Bảo đậu phu nhân – Hồ thị (Bà mụ bảo vệ khỏi bệnh đậu mùa họ Hồ); Sơ tẩy phu nhân – Trương thị (Bà mụ lo chải đầu, tắm gội họ Trương); Giáo thực phu nhân – Lưu thị (Bà mụ dạy trẻ ăn uống họ Lưu) …. Các bà mụ rất nhiều, phân công “nhiệm vụ” rất chi tiết, từ đầu thai cho đến ăn uống, đi lại, tắm gội, bệnh tật …do vậy rất được người đời, đặc biệt là các phụ nữ sùng bái. Những người cầu tự thường dùng một sợi dây đỏ buộc vào đứa trẻ các bà mụ bế trên tay để xin con.
Người Đài Loan gọi Tử Tôn nương nương là “Chú Sinh nương nương” (cộng đồng người Hoa ở Việt Nam cũng gọi tên này) với nguyên mẫu là Trần phu nhân ở Lâm Thủy – tỉnh Phúc Kiến, là vị thần chuyên phù trợ cho những người phụ nữ khó sinh. Miếu Chú Sinh nương nương ở Phúc Châu (Phúc Kiến) ngoài thờ thần chính còn thờ 36 bà mụ, nhưng ở Đài Loan và các nơi khác của tỉnh này thường chỉ có 12 bà mụ.

10. Bạch Mi thần – thần của kỹ nữ:
Thời xưa trong các kỹ viện ở Trung Quốc, các kỹ nữ ngoài tôn thờ các vị thần nói chung còn có một vị thần riêng của mình, đó là thần Bạch Mi. Thẩm Đức Phù đời Minh trong sách “Vạn Lịch dã hoạch biên” có nói rất rõ về vị thần này: thần Bạch Mi có râu dài hai bên má, diện mạo kỳ vĩ, cầm đao cưỡi ngựa trông gần giống Quan Công, chỉ khác là lông mày trắng mà mắt đỏ (bạch mi xích nhãn). Còn Từ Kha trong sách “Thanh bại loại sao” nói: ma thuật của nhà thổ, thường thờ vị thần này, sớm chiều lễ bái, gọi là thần Bạch Mi, lại gọi là yêu thần. Xưa nay các kỹ nữ đều rất tôn thờ thần Bạch Mi, cho rằng thờ thần Bạch Mi có thể giúp được nhiều khách đến chơi, chuyện gối chăn thuận buồm xuôi gió./.


(Bài dịch đã đăng trên TC "Thế Giới Trong Ta")