Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

MẠN ĐÀM VỀ CHIẾN THUYỀN CÁC NƯỚC XƯA

Nước - khởi nguyên của sự sống và cũng là nguồn sống của con người. Con người không thể sống thiếu nước, vì vậy các con sông, các vùng nước luôn là nơi tụ cư của con người từ xưa đến nay. Và có lẽ chính vì vậy, mà cùng với đó, thuyền bè đã xuất hiện từ rất sớm cùng với đời sống của con người. Về nguồn gốc của thuyền bè, khắp các nước từ đông sang tây, như Trung Quốc, Ai Cập, Anh, Hy Lạp … đều có không ít truyền thuyết. Có thể nói, truyền thuyết về Đại Vũ trị thủy làm thuyền ở Trung Quốc, và câu chuyện về con thuyền Noah trong Kinh Thánh là hai truyền thuyết nổi tiếng nhất, được lưu truyền rộng rãi nhất. Theo phân tích của những nhà nghiên cứu, thì tổ tiên của tàu thuyền hiện nay chính là những con thuyền độc mộc. Thuyền độc mộc rất có thể đã được hình thành khi người nguyên thủy gặp những trận lũ lụt, hồng thủy, và những người không biết bơi đã nhờ bám víu trên những cành cây, thân cây trôi nổi mà thoát chết. Vì vậy mà người ta đã nghĩ ra cách khoét những thân cây gỗ để tạo thành những con thuyền để có thể cân bằng ổn định trên mặt nước, và chứa được nhiều người, nhiều đồ vật hơn. Theo những chứng cứ khảo cổ học, thì từ bảy ngàn năm trước đã có những con thuyền độc mộc ở Trung Quốc.
Sau khi thuyền độc mộc ra đời, do nhu cầu trong sản xuất và đời sống của nhân loại, người ta dần học được cách ghép nhiều cây gỗ lại thành bè, rồi đóng nhiều tấm gỗ lại thành những con thuyền lớn hơn. Sau khi nhân loại bước vào xã hội có giai cấp, thì cùng với đó đã xuất hiện những cuộc chiến tranh được lan rộng dần từ trên cạn xuống đến trên sông, hồ, hay biển. Những cuộc chiến tranh nổ ra trên mặt nước không thể vắng mặt thuyền bè, những con thuyền dùng trong chiến tranh ấy ban đầu chỉ là những con thuyền bình thường, nhưng nó đã nhanh chóng được phân hóa, không ngừng phát triển và hình thành nên những chiến thuyền trong thời cổ đại.
Trung Quốc và các nước khu vực Địa Trung Hải là những nơi phát nguyên của chiến thuyền cổ đại. Thế kỷ 16 – 11 trước Công nguyên, dưới thời nhà Thương ở Trung Quốc thuyền bè đã được sử dụng vào việc vận tải cho quân đội. Năm 1027 TCN, Chu Vũ Vương - Cơ Phát đã đem ba trăm cỗ binh xa, ba ngàn quân cận vệ, bốn vạn rưỡi quân giáp sĩ, cùng liên hợp với quân đội của một số bộ lạc khác, tiến binh đánh vua Trụ. Quân đội tham chiến được chở trên bốn mươi bảy chiếc thuyền lớn, vượt qua sông Hoàng Hà ở bến Mạnh Tân, tiến thẳng đến đô thành Triều Ca (nay là huyện Kỳ, Hà Nam) tiêu diệt nhà Thương. Trận chiến vượt sông Hoàng Hà này đã được tổ chức nghiêm ngặt, với quy mô rất lớn, có người chỉ huy chuyên trách trên các tàu thuyền. Tuy nhiên, những con thuyền ấy chỉ là được tập hợp khi có nhu cầu nhất thời, chứ chưa được chuyên dùng vào việc thủy chiến, vì vậy chưa được coi là chiến thuyền và thủy quân thực sự.
Những chiến thuyền dùng buồm và mái chèo sớm nhất là loại thuyền một tầng chèo, xuất hiện ở Ai Cập, Phoenicia và Hy Lạp khoảng hơn 1.200 năm trước Công nguyên. Đến năm 800 TCN, thì những chiến thuyền một tầng chèo bắt đầu được lắp thêm vào đầu thuyền các mũi nhọn được đúc bằng đồng để tăng cường uy lực khi đâm va trong các cuộc chiến trên biển. Đến năm 700 TCN thì ở các nước Phoenicia và Hy Lạp đã đóng được những chiến thuyền hai tầng chèo. Năm 550 TCN, Hy Lạp lần đầu tiên đóng  được những chiến thuyền ba tầng chèo: thuyền dài 40 đến 50 mét, lượng rẽ nước khoảng 200 tấn, có 170 mái chèo, vận tốc khi chèo bằng mái chèo có thể được 6 hải lý một giờ, khi thuận gió có thể dùng buồm. Vũ khí trên thuyền chủ yếu có mũi nhọn đầu thuyền để đâm va, và khoảng từ mười tám tới năm mươi chiến binh chiến đấu khi thuyền tiếp mạn. Các chiến binh được trang bị giáo, gươm, cung tên, thương và lá chắn. Số tay chèo không vũ trang là 170 người. Từ sau đó, chiến thuyền ba tầng chèo trở thành lực lượng chủ lực của các hạm đội hải quân ở các nước ven Địa Trung Hải, kéo dài liên tục suốt mười mấy thế kỷ.

(Chiến thuyền Hy Lạp cổ đại) 

Đến giữa thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, vào thời Xuân Thu ở Trung Quốc, để thích ứng với địa hình sông ngòi chằng chịt, các nước Ngô, Việt, Sở ở phương nam và nước Tề là nước ven biển ở phương bắc đều trước sau xây dựng chiến thuyền và cho quân đội luyện tập thủy chiến. Đến khi ấy, có thể nói là lực lượng thủy quân cổ đại Trung Quốc chính thức ra đời. Khi ấy thủy quân nước Ngô còn được gọi là “chu sư” đã có các loại thuyền như: Đại dực, Trung dực, Tiểu dực, Đột mạo, Lâu thuyền, Kiều thuyền … đồng thời xuất hiện một loại vũ khí chuyên dùng cho thủy quân gọi là “Câu cự” (Câu liêm). Năm 206 – 25 TCN, tức thời Tây Hán, thuyền chiến của Trung Quốc lại tiến thêm một bước, mà tính năng của nó đã dần từng bước đuổi kịp và vượt qua các nước Địa Trung Hải khi ấy, và duy trì cho tới tận giữa thế kỷ 15. Chiến thuyền của Trung Quốc khi ấy có thể nói là những chiếc thuyền lớn nhất, kiên cố nhất và thích ứng với việc đi biển nhất. Năm 220 – 265 sau CN, tức là thời kỳ Tam quốc ở Trung Quốc, đội thủy quân nước Ngô từng có tới 5.000 chiến thuyền, trong đó những lâu thuyền lớn, có tới năm tầng lầu, có thể chở được 3.000 quân sĩ. Đầu thế kỷ 3 sau công nguyên, dưới thời Tây Tấn, khi chuẩn bị cho việc đánh nước Ngô, Vương Tuấn đã cho đóng những chiến hạm liên thuyền, dài tới 120 bộ, trên có lầu, buồm, mở bốn cửa, có thể đi ngựa dong xe trên đó được. Năm 588 – 589 SCN, nhà Tùy diệt nước Trần, Dương Tố đã dùng đến chiến hạm lớn nhất khi ấy, có tên là “Ngũ Nha”, trên có lầu năm tầng, có thể chở được 800 quân, trước sau và hai bên có lắp đặt 6 “Phách can”. “Phách can” là một cây gỗ dài đầu có buộc đá nặng, lợi dụng lực đòn bẩy để có thể đập vỡ tàu địch khi tiếp cận, là một thứ vũ khí rất có uy lực bấy giờ. 

(Mô hình tàu Ngũ Nha)

Đến đời Đường, năm 618 đến 907 SCN, kỹ thuật đóng tàu đã phát triển thêm một bước, người ta đã đóng được những tàu “Hải Cốt” có thể vận hành và chiến đấu được trong điều kiện sóng gió khá lớn. Lý Cao phát minh ra “xa thuyền” (cũng gọi là “xa luân thuyền” hay “luân tương thuyền”) di chuyển nhanh hơn, thuận tiện hơn, có thể coi là một bước đi trước của tàu bánh xe cơ giới sau này. Năm 960 - 1279 SCN, dưới thời Tống, chiến thuyền Trung Quốc đã sử dụng phổ biến kỹ thuật vách ngăn không để nước thấm ở khoang đáy, để tàu giảm bớt khả năng bị đắm. Năm 1000, đội trưởng đội thủy sư Thần Vệ là Đường Phúc từng dâng lên triều đình các loại vũ khí để phóng hỏa như: hỏa tiễn (tên lửa), hỏa cầu (quả cầu lửa), hỏa tật lê (một loại trái pháo, có vỏ gai sắt) … Năm 1130, quân khởi nghĩa của Dương Yêu đã sử dụng một lượng lớn xa thuyền, trong đó cái lớn nhất dài gần 110 mét, trang bị 24 bánh xe, và sáu cỗ “phách can”, chở được hơn một ngàn quân. Năm 1203, Tần Thế Phụ đã đóng chiến thuyền Hải Cốt mặt phẳng, vỏ sắt, tải trọng ước 60 tấn, vách khoang được lắp bằng thép tấm, có thể nói là tổ tiên của thuyền bọc thép. Đầu mũi thuyền có lắp mũi nhọn bằng sắt như lưỡi cày, để đâm chìm tàu đối phương.
Chiến thuyền cổ đại được phát triển qua hai giai đoạn: thuyền chiến dùng chèo (Galley) và thuyền chiến dùng buồm . Tàu chiến dùng chèo được làm chỉ yếu bằng gỗ, dáng thuyền nhỏ dài, chiếm nước nông, mạn thuyền thấp, chủ yếu do sức người chèo thuyền là chính, khi thuận gió cũng có thể căng thêm buồm, nhưng chỉ là hỗ trợ. Thuyền chiến dùng chèo chủ yếu được trang bị các vũ khí lạnh, khi tác chiến chủ yếu dùng cách đâm va hoặc áp mạn giao chiến, dùng chủ yếu ở trên sông, hồ nội địa hoặc sát ven biển. Chiến thuyền cổ đại cho đến tận giai đoạn hậu kỳ mới bắt đầu lắp đặt các hỏa khí có thể thiêu đốt khác.
Thế kỷ 14, loại hỏa khí hình ống bằng kim loại sớm nhất trên thế giới được ra đời ở Trung Quốc – đó là hỏa súng. Mà cha đẻ của nó, chính là Hồ Nguyên Trừng – người Việt Nam, được nhà Minh bắt đưa từ Việt Nam sang, sau khi đánh được nhà Hồ và xâm chiếm nước ta. Sau này Hồ Nguyên Trừng được coi là ông tổ súng thần công Trung Quốc, các đời vua sau đó mỗi khi tế súng Thần công đều kiêm tế Hồ Nguyên Trừng. Theo khảo chứng của các nhà sử học, năm thứ 10 niên hiệu Hồng Vũ nhà Minh (1377), chiến thuyền nhà Minh đã được trang bị rộng rãi hỏa súng, từ đó bắt đầu đưa những vũ khí trên chiến thuyền từ vũ khí lạnh, hỏa khí đốt lửa, gây nổ, quá độ sang hỏa pháo.

(Lâu thuyền đời Hán)

Chiến thuyền trên thế giới từ thuyền chiến dùng chèo quá độ sang thuyền chiến dùng buồm, đã phải kéo dài liên tục suốt mấy thế kỷ. Chiến thuyền dùng buồm, thân thuyền cũng làm bằng gỗ, nhưng độ dãn nước sâu hơn, mạn thuyền cao, đầu đuôi thuyền vươn lên, trên có dựng nhiều cột buồm, lấy sức gió làm động lực chủ yếu, đồng thời vẫn bố trí hệ thống mái chèo. So với chiến thuyền dùng chèo, chiến thuyền dùng buồm có độ dãn nước, tính năng hàng hải, khả năng tác chiến ngoài khơi xa đều vượt xa rất nhiều. Vũ khí chủ yếu là súng thần công, phương pháp tác chiến là chiến thuyền hai bên đứng cách nhau từ vài chục tới hơn một ngàn mét rồi tiến hành pháo chiến, đồng thời vẫn có áp mạn giao chiến ở mức độ nhất định. Trịnh Hòa – nhà hàng hải đời Minh ở Trung Quốc từng dẫn đội thuyền lớn, bảy lần đến Đại Tây dương. Trịnh Hòa đi trên con thuyền lớn nhất có tên là “Bảo thuyền”, dài ước 137 mét, rộng ước 56 mét, có 9 cột, mười hai buồm, lắp đặt nhiều cửa châu mai hỏa súng, là con thuyền đi biển lớn nhất trên thế giới khi ấy.

Một số mô hình thuyền chiến trong sách Võ Kinh:
Đấu Hạm

Mông Xung

Tẩu Kha

Các nước Bắc Âu, đến đầu thế kỷ 15 bắt đầu xuất hiện những chiến thuyền dùng buồm có trang bị hỏa pháo. Năm 1485, nước Anh đóng được một chiến thuyền bốn cột buồm có tên là “Thống Đốc” (Governor), lắp đặt 225 cửa hỏa pháo loại nhỏ. Năm 1520, Anh lại đóng một chiến thuyền dùng buồm lớn, có tên là Great Harry, với lượng dãn nước đạt 1.000 tấn, lắp đặt 21 cửa châu mai với pháo từ 60 đến 203 ly. Năm 1561 tướng nhà Minh – Trung Quốc là Thích Kế Quang để đánh nhau với người Nhật đã đóng một chiến thuyền lớn có tên là “Phúc thuyền”, trên đó có bố trí một cửa pháo đại phát cống, ba cửa súng, sáu cửa pháo nạp hậu, mười cây súng hỏa mai. Năm 1637, người Anh lại đóng chiến thuyền dùng buồm, có lượng rẽ nước 1.700 tấn, có tên là “Kẻ thống trị biển cả”, với 100 cửa hỏa pháo. Năm 1797, nước Mỹ cũng đóng được tàu chiến dùng buồm có tên “Hiến Pháp” với lượng rẽ nước 1.576 tấn với 44 cửa hỏa pháo.

(Tàu Great Harry - Anh)

Đến thế kỷ 19, cùng với việc chiến tranh trên biển của các nước ở châu Âu càng ngày càng kịch liệt, thuyền chiến dùng buồm đã được phát triển thêm một bước. Chiến thuyền dùng buồm lớn nhất đã đạt tới 6.000 tấn với hơn một trăm cửa hỏa pháo cỡ lớn và cỡ trung. Khi ấy, có nước đã căn cứ vào lượng rẽ nước lớn nhỏ và số hỏa pháo nhiều ít chia chiến thuyền ra làm sáu bậc. Từ bậc một đến bậc ba, gọi là chiến liệt hạm (Tàu chiến tuyến – Ship of the line): là chiến thuyền có lượng rẽ nước từ 1.000 tấn trở lên, với 70 tới 120 cửa hỏa pháo bố trí trên hai hay ba tầng sàn. Bậc 4, 5 gọi là Tuần dương hạm, lượng rẽ nước từ 500 tới 750 tấn, với 40 tới 64 cửa hỏa pháo trên hai tầng sàn. Bậc 6 được gọi là Tuần dương hạm nhẹ, lượng rẽ nước khoảng 300 tấn, với 6 tới 30 cửa hỏa pháo trên một tầng sàn.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của chiến thuyền dùng buồm, từ đầu thế kỷ 19, động cơ hơi nước bắt đầu được dùng làm động cơ cho các chiến thuyền. Năm 1815, nước Mỹ đã đóng được chiếc tàu bánh xe hơi nước đầu tiên, có tên gọi là Demologos (sau đổi gọi là Fulton), với lượng rẽ nước đạt 2.745 tấn, vận tốc 6 hải lý/giờ, bố trí 32 cửa pháo 14.5 cân. Những tàu hơi nước thời kỳ đầu đều phát triển từ tàu bánh xe, nhưng tàu bánh xe sử dụng trong hải chiến bị hạn chế rất nhiều: Một là, bánh xe lớn và một phần máy móc bị lộ rõ trước hỏa lực của quân địch, do vậy khi chiến đấu rất dễ bị hỏa pháo phá hủy; Hai là, bánh xe bố trí ở hai bên mạn thuyền, chiếm cứ mất phần lớn không gian quý báu đáng ra dùng để bố trí hỏa pháo.

(Tàu Demologos - Fulton, Mỹ)

Năm 1929, Joseph Lyel người Áo đã phát minh ra cánh quạt chân vịt có thể dùng cho tàu thuyền, và được kỹ sư người Thụy Sĩ là John Eriksson cải tiến, từ đó khắc phục được những khuyết điểm của bánh xe hơi nước, khiến hệ thống máy hơi nước có thể lắp đặt ở dưới khoang thuyền. Sau khi chân vịt đẩy ra đời, máy hơi nước dần dần trở thành động cơ chủ yếu trong tàu chiến, từ đó khiến tàu chiến có được hàng loạt những cải tiến thay đổi mới. Vì tàu chiến hơi nước đã cải biến được sự phụ thuộc vào hướng gió, tốc độ gió và dòng hải lưu, do vậy thời đại của chiến thuyền dùng buồm chính thức cáo chung. Cùng với đó là hỏa pháo trên tàu cũng được phát triển nhanh chóng. Một là, đường kính nòng pháo không ngừng được lớn lên; Hai là, phát minh ra đạn pháo với uy lực lớn; Ba là, xuất hiện pháo với nòng có rãnh xoắn, khiến độ chính xác của đạn pháo khi bắn ra có độ chính xác cao hơn. Tính năng ưu việt của hỏa pháo khiến mạn thuyền bằng gỗ dễ bị phá hủy, vì vậy các tàu chiến lớn bắt đầu phải có biện pháp bảo vệ cho mạn tàu và sàn tàu để chống lại sự công phá của tàu địch. Tàu chiến bọc thép ra đời từ yêu cầu đó.
Năm 1859, nước Pháp đã đóng được tàu bọc thép “Quang Vinh”. Tàu có lượng rẽ nước 5.617 tấn, với 36 cửa hạm pháo, bọc thép bảo vệ dày 11cm, phía trong là gỗ cứng. Năm 1860, tàu bọc thép mang tên “Dũng Sĩ” của Anh cũng được hạ thủy, tàu này có lượng rẽ nước khi chở đầy là 9.210 tấn, vận tốc 14 hải lý/giờ, khi dùng cả máy và buồm có thể đặt được tốc độ 17 hải lý/giờ. Trên tàu trang bị 40 cửa pháo, trong đó có 10 cửa pháo bắn đạn 50 kg, nòng có rãnh xoắn; 26 cửa pháo bắn đạn 31 kg, nòng trơn; 4 cửa pháo bắn đạn 18kg, nòng có rãnh xoắn. Trên tàu có 4 máy hơi nước 920 kW. Tàu “Dũng Sĩ” hạ thủy đã kết thúc thời kì dài của tàu chiến tuyến vỏ gỗ.
Sau khi tàu chiến bọc thép được sử dụng rộng rãi trong hải chiến, đã rất nhanh chóng cho thấy uy lực và đặc tính vượt trội so với các tàu chiến trước đây. Trong chiến tranh Nam – Bắc ở Mỹ năm 1862, quân miền nam đã chuyên tâm cải tạo tàu chiến mang tên “Merrimack”. Tàu chiến này vốn bỏ hết các bộ phận phía trên mớn nước, với các bệ pháo thấp phẳng ở giữa tàu, bốn bên có vách gỗ dày hơn nửa mét, phía ngoài cùng là vỏ thép dày. Trong một lần hải chiến, tàu Merrimack đã bị hai tàu chiến của quân miền bắc và các pháo đài ven bờ biển điên cuồng bắn phá, nhưng điều khiến người ta kinh ngạc là đại bộ phận đạn pháo đã bị bật ngược lại, còn tàu Merrimack không hề bị tổn hại gì đáng kể, vẫn tiến về phía trước với tốc độ nhanh. Đến lượt tàu Merrimack đáp trả, nó mới bắn vài phát đạn thì các thuyền vỏ gỗ của quân miền bắc đã bốc cháy rừng rực. Trong khi quân miền bắc đang không thể chống đỡ nổi, thì một con tàu khác được quân miền bắc chú tâm thiết kế, mang tên là tàu Monitor đã kịp thời tới ứng cứu. Con tàu chiến bọc thép kiểu mới ấy chỉ để lộ thân tàu lên trên mặt nước có nửa mét, mạn thuyền từ vạch mớn nước trở lên được bọc 5 lớp thép dày 2,5 mm, trên sàn tàu cũng có lớp vỏ thép. Mặc dù tàu Monitor nhỏ hơn tàu Merrimack nhiều, nhưng nhờ có vỏ thép dày và tính linh hoạt của mình, có thể tiến đánh bốn phía, chiến đấu ngoan cường, nên đã thay đổi nhanh chóng cục diện bị động của quân miền bắc. Trận đánh điển hình của các tàu bọc thép này, đã cho thấy tàu chiến bọc thép có khả năng phòng đạn tốt, và khả năng tác chiến khá mạnh.

(Tàu Monitor - Mỹ)

Cùng với sự xuất hiện của tàu bọc thép, thì pháo nòng rãnh xoắn với đạn nổ cũng được dùng trên các tàu chiến của các cường quốc trên biển. Để chống lại với sức công phá mạnh mẽ của đạn pháo nổ, vỏ bọc théo của các tàu chiến càng ngày càng dày. Cuối cùng, sắt thép đã dần dần trở thành vật liệu chủ yếu để đóng tàu, khiến cho tàu chiến trở nên kiên cố chắc chắn hơn, lượng rẽ nước cũng tăng lên đến hơn vạn tấn.
Cùng với đó, các loại vũ khí chuyên dùng trong hải chiến như thủy lôi, ngư lôi cũng nối nhau được phát minh và sử dụng trên các tàu chiến. Năm 1877, nước Anh đã nghiên cứu chế tạo ra tàu ngư lôi đầu tiên. Năm 1892, Nga chế tạo ra tàu thả mìn. Rất nhanh chóng, hải quân các nước đều học làm theo, cũng làm ra tàu ngư lôi và tàu thả mìn của nước mình. Thủy lôi và ngư lôi đã tăng cường sức chiến đấu cho hải quân. Hải quân các nước, để đối phó với ngư lôi, thủy lôi, bắt đầu lắp đặt các hệ thống phòng lôi dưới nước cho các tàu chiến lớn. Năm 1893, Anh đã đóng ra ngư lôi pháo hạm chuyên để đối phó với các tàu ngư lôi. Ngư lôi pháo hạm ấy sau này đã dần dần diễn biến thành khu trục hạm hiện nay.
Thời gian này, ở Trung Quốc, chính quyền nhà Thanh vào những năm 60 của thế kỷ 19 cũng bắt đầu đặt mua và mở xưởng đóng những tàu chiến của mình. Năm 1889 nhà Thanh đóng được tuần dương hạm “Bình Viễn” với lượng rẽ nước 2.100 tấn, tốc độ 14 hải lý/giờ, với 12 cửa hạm pháo. Năm 1902, đóng ngư lôi khoái thuyền (tức khu trục hạm) “Kiến Uy”, lượng rẽ nước 850 tấn, tốc độ 23 hải lý/giờ, với 9 cửa hạm pháo và một số súng bắn ngư lôi.
Nước ta, là một nước ven biển với nhiều sông ngòi, lại liên tục có nạn ngoại xâm, việc sử dụng thuyền bè trong chiến tranh đã có lịch sử từ lâu đời. Trên các họa tiết trống đồng đã có xuất hiện hình thuyền bè với chiến binh. Nhiều trận thủy chiến nổi tiếng đến nay còn được ghi chép trong sử sách. Trong tác phẩm “Binh Thư Yếu Lược” của Trần Hưng Đạo, chương “Thủy chiến” đã biên chép về nhiều loại tàu chiến lớn nhỏ, từ xưa đã được dùng ở nước ta như: Thuyền máy thần phi; Thuyền mẹ con; Thuyền liên hoàn … đồng thời tham cứu các loại thuyền trong “Võ bị chế thắng chí” của Trung Quốc. Trong đó thuyền máy thần phi đã có dùng bánh xe bên mạn thuyền như các tàu bánh xe sau này ở phương tây.
Trong sánh “Hiểu biết về Việt Nam” của hai Ủy viên trường Viễn đông Bác cổ: Pierre Huard và Maurice Durand, có những ghi chép về chiến thuyền của Việt Nam như sau: “Việt Nam có đội chiến thuyền rất quan trọng từ thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Nhà Nguyễn vào năm 1674 có 133 thuyền chiến. Năm 1675, người Anh là Thomas Browyear đã rất ca ngợi những thuyền chiến Nam kỳ. Một thế kỷ sau, đội hải quân của Gia Long gồm: 200 tàu mang 16,18,20,22 đại bác; 500 tàu chiến nhỏ có 40 đến 44 tay chèo, vũ trang bằng súng bắn đá và một đại bác; 200 thuyền chiến lớn với 50 đến 70 tay chèo, vũ trang bằng các đại bác và súng bắn đá; 3 tàu thủy châu Âu đặt tên là: Phượng Hoàng (Phượng), Rồng Bay (Long Phi), Chim Ưng (Ưng).”
Hiện nay, trong tình hình mới của kỹ thuật quân sự cũng như kỹ thuật đóng tàu các loại hình tàu chiến hiện đại đã ngày càng phong phú, đa dạng với những chiến hạm lớn, có sức chiến đấu vô cùng mạnh mẽ. Là một quốc gia biển, để khai thác nguồn lợi hải dương cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của dân tộc, đang đặt ra một yêu cầu và cũng là niềm hy vọng lớn với nền công nghiệp đóng tàu nước ta.
                                                                                                               
Đường Lang (T.H) 
- Bài trên T.C Công nghiệp Tàu thủy - số 1+2, Xuân Đinh Dậu, 2017


Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

Nhặt Lại Mấy Bài Dịch Thơ Lẻ Tẻ

Hôm nay rà soát lại các file tài liệu để xóa bớt cho gọn máy tính, chợt thấy có mấy vần thơ lẻ tẻ dịch từ chữ Hán ra, hình như khi trước có ngẫu hứng dịch cho một bạn nào đó khi được đề nghị. Thực tình, khi đọc lại chữ Hán, cũng không biết là thơ ở đâu, của ai. Lẩn thẩn tra tìm, thì hóa ra là mấy bài: “Tống Thôi Hướng nhập triều”, “Tạ đình tống biệt” của Hứa Hồn, cùng mấy câu (chưa tròn bài) trong bài “Tống tòng huynh biệt giá quy Thục”, “Lưu biệt Triệu Đoan công” cũng của Hứa Hồn và “Tặng biệt” của Đỗ Mục, mà có lẽ khi ấy chưa biết là một đoạn nên dịch như một bài riêng lẻ. Cụ thể thế này:


1.     Bài: “Tống Thôi Hướng nhập triều” (送崔珦入朝) của Hứa Hồn許渾:
Nguyên văn:
書劍功遲白髮新,
強登蕭寺送歸秦。
月斜松桂倚高閣,
明夜江南江北人。

Phiên âm:
Thư kiếm công trì, bạch phát tân;
Cưỡng đăng Tiêu tự tống quy Tần.
Nguyệt tà tùng quế ỷ cao các;
Minh dạ giang nam giang bắc nhân.

Dịch thơ:
Bạc đầu thư kiếm chửa thành;
Chùa Tiêu gắng đến tiễn anh về Tần.
Gác cao tùng quế trăng tàn,
Ngày mai kẻ bắc người nam đôi đường.

2.     Bài: “Tạ đình tống biệt” (謝亭送別) của Hứa Hồn許渾:
Nguyên văn:
勞歌一曲解行舟,
紅葉青山水急流。
日暮酒醒人已遠,
滿天風雨下西樓。

Phiên âm:
Lao ca nhất khúc giải hành chu;
Hồng diệp thanh sơn thủy cấp lưu.
Nhật mộ tửu tinh nhân dĩ viễn;
Mãn thiên phong vũ há tây lâu.

Dịch thơ:
Hò khoan một nhịp thuyền chèo;
Núi xanh cây đỏ ào ào nước trôi.
Chiều hôm rượu tỉnh, đâu người;
Lầu tây mù mịt một trời gió mưa.

 3.     Bốn câu đầu trong bài: “Tặng biệt” (贈別) của Đỗ Mục杜牧:
Nguyên văn:
眼前迎送不曾休,
相續輪蹄似水流。
門外若無南北路,
人間應免別離愁。

Phiên âm:
Nhãn tiền nghênh tống bất tằng hưu;
Tương tục luân đề tự thủy lưu.
Môn ngoại nhược vô nam bắc lộ;
Nhân gian ưng miễn biệt ly sầu …

Dịch thơ:
Đón tiễn không thôi, mắt đã nhàm;
Nối nhau xe ngựa nước miên man.
Cửa ngoài giá chẳng đường nam bắc,
Ly biệt chi buồn đến thế gian…

4.     Bốn câu cuối trong bài: “Tống tòng huynh biệt giá quy thục” (送從兄別駕歸蜀) của Hứa Hồn許渾:
Nguyên văn:
遠道書難達,
長亭酒莫持。
當憑蜀江水,
萬里寄相思。

Phiên âm:
Viễn đạo thư nan đạt;
Trường đình tửu mạc trì.
Đương bằng Thục giang thủy;
Vạn lý ký tương ti (tư).

Dịch thơ:
Đường thẳm thư khôn tới;
Trường đình rượu chớ ngừng.
Thục giang muôn dặm nước;
Gửi giúp mối tơ lòng.

5.     Lại thêm hai câu thực trong bài: “Lưu biệt Triệu Đoan công” (留別趙端公) cũng của Hứa Hồn許渾:
Nguyên văn:
簫鼓散時逢夜雨,
綺羅分處下秋江。

Phiên âm:
Tiêu cổ tán thời phùng dạ vũ;
Ỷ la phân xứ há thu giang.
Dịch thơ:

Vừa ngơi đàn sáo mưa đêm trút;
Khăn điều xé nửa bến sông thu.

(Khi ấy không biết là hai câu thực, nên bỏ qua đối ngẫu khi dịch.)

Lại dịch thành lục bắt rằng:

Vừa ngơi đàn sáo, đêm mưa;
Chia đôi khăn gấm bên bờ sông thu.

Tất cả đều là những câu thơ, bài thơ ly biệt. Nay tạm lưu lại cả đây trước khi dọn file, chưa kịp dịch lại toàn bài mấy bài còn thiếu nửa ở trên, vì biết rằng hẳn phải sửa lại cho phù hợp.

C.H.Đ



Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Người gảy đàn đất Long Thành có phải được gọi là Cầm?

“Long Thành cầm giả ca”  - Bài ca người gảy đàn đất Long Thành - là một trong những bài thơ hay của Nguyễn Du. Với lời tiểu dẫn như một câu truyện ngắn kể về người con gái đánh đàn ấy cùng những kỷ niệm của Nguyễn Du với nàng, bài thơ đã trở thành cảm hứng cho nhiều tác giả sáng tác các tác phẩm văn học, kịch nghệ, phim ảnh viết về Nguyễn Du nói chung, cũng như về mối nhân duyên giữa Nguyễn Du với người con gái đánh đàn đất Long Thành ấy nói riêng. Có thể lấy ví dụ như: Kịch “Dòng lệ Tố Như” của tác giả Trần Đình Ngôn – sáng tác năm 1992, vừa được Nhà hát chèo Việt Nam dựng lại, hay như bộ phim “Long Thành cầm giả ca” cách đây không lâu … Và tất nhiên trong các tác phẩm ấy, không thể thiếu được nhân vật Người gảy đàn đất Long Thành. Vậy nhân vật người con gái ấy được gọi tên thế nào? Hầu hết các tác phẩm đó có lẽ đều căn cứ vào bài thơ (đúng hơn là, bản dịch bài thơ) “Long Thành cầm giả ca” của Nguyễn Du và gọi người gảy đàn ấy là cô/nàng Cầm.

Ta hãy đọc lại đoạn đầu bài thơ “Long Thành cầm giả ca” của Nguyễn Du:

龍城佳人
姓氏不記清
獨善阮琴
舉城之人以琴名。
 “Long Thành giai nhân,
Tính thị bất ký thanh,
Độc thiện Nguyễn cầm,
Cử thành chi nhân dĩ cầm danh.”

Trong cuốn “Thơ chữ Hán Nguyễn Du” của NXB Văn Học in năm 1988(*), mấy câu thơ trên được dịch nghĩa như sau:
“Người đẹp ở Long Thành,
Họ gì không nhớ rõ,
Chuyên giỏi đàn nguyệt cầm,
Người cả thành lấy “Cầm” mà đặt tên cho.”

Mấy câu trên tưởng chừng đã quá rõ ràng và không có gì để phải nói nữa, nhưng khi đọc kỹ lại, ta lại thấy có điểm bất ổn.

Trước hết ta hãy xem chú thích về chữ “Nguyễn cầm” trong sách đã dẫn: “Nguyễn cầm: Đàn Nguyễn, còn gọi đàn Nguyệt. Đàn này do Nguyễn Hàm người đời Tấn ở Trung Quốc (một trong Trúc Lâm thất hiền) sáng chế.”  Thực sự là cây đàn Nguyễn do Nguyễn Hàm đời Tấn chế ra, nên được gọi là đàn Nguyễn. Nhưng nó không phải là đàn nguyệt như chú thích trong sách. Đàn Nguyễn tuy cũng có hộp đàn hình tròn, nhưng cần đàn ngắn và có bốn dây, chứ không phải hai dây như đàn Nguyệt. Nếu có thể, thì nó chính là cây đàn hiện được gọi là đàn Tứ. Và khi so sánh nó với đàn Nguyệt, thậm chí người ta còn gọi nó là Nhật, để đối tỷ với nhau. Vì vậy đàn Nguyễn hoàn toàn không phải đàn Nguyệt. (Việc đàn Nguyệt có phải biến tấu từ đàn Nguyễn không, tạm chưa bàn tới.)
(Thiếu nữ chơi đàn Nguyễn)


Tiếp theo ta hãy xem tiếp về chữ “Cầm” 琴. Có thể thấy mấy trường nghĩa cơ bản của chữ Cầm như sau:
  1. Cầm còn gọi Cổ Cầm là một nhạc cụ cổ Trung Quốc, do Thần Nông thị sáng tạo ra, dài ba thước sáu tấc sáu, trên có năm dây, gọi là: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Sau Văn Vương thêm vào hai dây nữa gọi là: Thiếu Cung, Thiếu Thương, thành cây đàn bảy dây.
  2. Cầm: Là phiếm chỉ chung các loại đàn.
  3. Cầm: Dùng theo nghĩa động từ là “gảy đàn” ví dụ như chữ Cầm trong tiêu đề bài thơ: “cầm giả” – tức người chơi đàn.
Bây giờ trở lại với câu thơ: “Độc thiện Nguyễn cầm, cử thành chi nhân dĩ cầm danh.” Theo như câu dịch nghĩa trong sách đã dẫn, thì câu này là: “Chuyên giỏi đàn nguyệt (Nguyễn) cầm, người cả thành lấy “Cầm” mà đặt tên cho”.  Chữ “Cầm” mà người ta “đặt tên cho” nàng ở đây, rõ ràng không thể là ở nghĩa thứ nhất của chữ Cầm – là đàn Cầm, Cổ Cầm ta nói trên, vì nàng đâu có chơi đàn Cầm. Mà nó chỉ có thể ở vào hai nghĩa phiếm chỉ ở dưới.  Nhưng nếu vậy, thì rõ ràng câu của Nguyễn Du lại rất phi lý, và việc ông nói rõ chữ “Nguyễn cầm” (đàn Nguyễn) dường như  là thừa:
“Riêng giỏi đàn Nguyễn, nên người cả thành gọi tên là Cầm (tức Đàn/chơi đàn)”
Chẳng ai nói một câu kiểu như: “Anh ấy rất giỏi đàn XYZ, nên tôi gọi anh ấy là “Đàn”/”Chơi đàn”. Như vậy thì còn phải nói đến cái tên đàn là XYZ làm gì? (Cũng nên lưu ý rằng, cây đàn Nguyễn được tác giả nhắc tới nhiều lần từ trong lời tiểu dẫn đầu bài thơ cũng như trong bài thơ)
Câu nguyên văn chữ Hán: 以琴名 “dĩ cầm danh” của Nguyễn Du ta phải hiểu là 以琴名而名之 “dĩ cầm danh nhi danh chi” mới đúng. Và như vậy câu này phải dịch nghĩa là: “Riêng giỏi đàn Nguyễn, nên người cả thành lấy tên đàn mà gọi tên.” Như vậy, người gảy đàn đất Long Thành, không phải được dân trong thành gọi là cô/nàng Cầm, mà chính là cô/nàng Nguyễn.
Tuy nhiên đó không phải là họ thật của nàng, mà chỉ là vì nàng giỏi đàn Nguyễn, nên gọi theo tên đàn mà thôi. Xét lại câu “tính thị bất ký thanh” cũng như cách gọi theo họ phổ biến trong xã hội xưa chúng ta sẽ thấy nó hợp logic.
Như vậy câu “cử thành chi nhân dĩ cầm danh”, chúng ta nếu không muốn nói rõ tên (họ) nàng là Nguyễn, thì cũng phải dịch là: “người cả thành lấy tên đàn mà gọi tên”. Chứ không thể dịch là: Người cả thành gọi tên nàng là Cầm được.
Thiết tưởng đối với một tác phẩm văn chương hay phim kịch dã sử thì tên gọi một nhân vật hư cấu sáng tạo cũng không có gì là quan trọng cả. Nhưng đối với câu thơ, cũng như bài thơ hay của một tác giả nổi tiếng, một danh nhân văn hóa thế giới thì chúng ta cũng cần phải hiểu cho chính xác, thấu đáo nhất tinh thần, ý tứ của tác giả, tác phẩm. Đôi khi một sai sót nhỏ cũng ảnh hưởng rất lâu dài vậy.

Huyền Phương Các
19.9.2015

(*)“Thơ chữ Hán Nguyễn Du” - NXB Văn Học in năm 1988 – Đào Duy Anh sắp xếp, dịch nghĩa, chú thích.

Trà nhàn ngẫu nhiên thấy mấy lỗi dịch sai khi đọc U Mộng Ảnh

Tôi vốn thích cuốn “U Mộng Ảnh” của Trương Triều, nên cách đây ít năm có người bạn tâm giao in tặng một cuốn là bản dịch của Huỳnh Ngọc Chiến, thi thoảng rảnh rỗi lại lấy ra đọc một vài mẩu giải khuây. Trước giờ vẫn biết trong bản dịch ấy còn khá nhiều chỗ dịch chưa thấu đáo vì không nhận ra tên riêng hay điển cố trong đó (Nhớ không lầm thì đã có lần tôi giải thích điển cố trong một mẩu nào đó cho một bạn trên FB thì phải), nhưng bản dịch có cả nguyên văn chữ Hán, nên tôi chỉ đọc nguyên văn cũng không để tâm nhiều lắm đến những lỗi ấy.


Sáng nay nhân ngồi uống trà lại cầm sách lật ngẫu nhiên đọc chơi một mẩu, thì đúng ba “tắc” được đánh theo số thứ tự là 199, 200, 201, đều là những tắc viết về chuyện thơ ca, khá thú vị. Tuy nhiên lại nhận ra một điều là cả ba “tắc” ấy đều có những sai sót trong dịch thuật. Xin dẫn lại dưới đây:

“199. Tô Đông Pha hãy còn để lại độ mấy chục bài”Họa Đào thi”. Tôi vẫn hằng muốn gộp những câu khác để thêm vào, nhưng khổ về nỗi vần chưa được hoàn bị. Như trong bài thơ”Trách tử thư” (thơ trách con) có câu”Bất thức lục dữ thất", "Đãn mịch lê dữ lật”(Không biết chữ lục cùng chữ thất, chỉ tìm cây lê với cây lật). Chữ”Thất” và chữ”Lật” không cùng một vần.

蘇 東 坡 〈 和 陶 詩 〉, 尚 遺 數 十 首, 予 嘗 欲 集 坡 句 以 補 之, 苦 于 韻 之 弗 備 而 止。 如 〈 責 子 詩 〉 中 : 「 不 識 六 與 七, 但 覓 梨 與 栗。 」 「 七 」 字 、 「 栗 」 字, 皆 無 其 韻 也。

Tô Đông Pha”Họa Đào thi”, thượng di sổ thập thủ. Dư thường dục tập pha cú dĩ bổ chi, khổ vu vận chi phất bị nhi chỉ. Như”Trách tử thư” trung :”Bất thức lục dữ thất, đán mịch lê dữ lật”.”Thất” tự,”Lật” tự giai vô kỳ vận dã.”

 Tắc 199 này có mấy điểm sai:
  1. Không nhận ra chữ Pha trong đoạn “Dư thường dục tập pha cú” là tên riêng. “Pha” hay “Pha công”, cách gọi có thể cho là gần gũi của hậu nhân với Tô Đông Pha. Ở đây bỏ qua mất chữ "Pha" đã đành, mà dường như cũng chưa hiểu hết câu "tập Pha cú". Chỗ này, đúng ra nên dịch rõ thành: "Tôi từng muốn tập những câu thơ của Đông Pha để (họa) bổ sung cho đủ".
  2. Chữ "Bị" (phất bị) không phải là "hoàn bị" mà là "đầy đủ". Chữ “Chỉ” ở cuối câu ấy bị bỏ qua. Câu: “Khổ vu vận chi phất bị nhi chỉ” có nghĩa là: “Khổ nỗi không có đủ vần mà phải dừng lại”
  3. Câu: “Thất tự, Lật tự giai vô kỳ vận dã.” Dịch như Huỳnh Ngọc Chiến thành: “Chữ Thất, chữ Lật không cùng một vần” là sai. Hai chữ này rõ ràng là cùng vần không nghi ngờ gì cả. Câu này chính là minh chứng cho câu "không đủ vần ở trên". Đoạn này chính nghĩa là: Ví như những câu "Bất thức lục dữ thất", "Đãn mịch lê dữ lật" trong bài "Trách tử" (của Đào Uyên Minh), thì thơ Tô Đông Pha không có câu nào có chữ "thất", chữ "lật" cả. 
“200. Tôi thường ngẫu nhiên làm được một câu, vui mừng khôn kể, đáng tiếc là không có câu đối hay, nên chưa thành thơ được. Một trong các câu đó là :”Thu diệp đới trùng phi (Lá khô mang côn trùng bay đi), một câu khác là : ”Hương nguyệt đại ư thành” (Trăng làng cũ mọc lớn trên thành). Đành để đó chờ đến ngày khác vậy.

予 嘗 偶 得 句, 亦 殊 可 喜, 惜 無 佳 對, 遂 未 成 詩。 其 一 為 「 枯 葉 帶 蟲 飛 」, 其 一 為 「 鄉 月 大 於 城 」, 姑 存 之, 以 俟 異 日。

Dư thường ngẫu đắc cú, diệc thù khả hỷ, tích vô giai đối, toại vị thành thi. Kỳ nhất vi ”khô diệp đới trùng phi", kỳ nhất vi ”Hương nguyệt đại ư thành”. Cô tồn chi dĩ sĩ dị nhật.”

Tắc 200 này có hai điểm sai, nhưng đáng tiếc là lại nằm ở chính hai câu giai cú của Trương Triều từng khiến  ông “vui mừng khôn kể” ấy.
  1. Câu: “Khô diệp đới trùng phi” (Chỗ bản dịch viết thành Thu – lỗi đánh máy), chữ Trùng ở đây nghĩa chỉ chung các loại sâu bọ, côn trùng. Nhưng nếu dịch như Huỳnh Ngọc Chiến là “Lá khô mang côn trùng bay đi” thì thực sự chưa hiểu chữ “Trùng” hay thế nào trong câu này. Chỗ này ý Trương Triều thì nó nghĩa là “Sâu” và phải dịch là “Lá khô mang sâu bay đi”. Vì sao? Vì côn trùng nhiều loại vốn có cánh, tự bay được. Ví như câu thơ của Tô Đông Pha “Thu trùng kiến đăng nhập” thì có thể biết ngay nó là loại biết bay, như con thiêu thân hay bướm đêm chẳng hạn. Còn con sâu thì không biết bay. Và nó ăn lá cây, bám trên lá cây. Lá khô bay đi, khiến con sâu bám trên đó tự dưng được bay. Đó là điểm lý thú của câu thơ, mà nếu dịch chung là “côn trùng” sẽ giảm giá trị rất nhiều.
  2. Câu: “Hương nguyệt đại ư thành” Huỳnh Ngọc Chiến dịch là “Trăng làng cũ mọc lớn trên thành”, rõ ràng đã không hiểu cấu trúc ngữ pháp của câu thơ. Ở câu thơ này Trương Triều đã ẩn bớt một chữ “nguyệt” không cần thiết, nếu viết đầy đủ nó phải là: “Hương nguyệt đại ư thành nguyệt” nghĩa là: “Trăng ở thôn quê lớn hơn trăng ở thành thị”. Cái này là một cảm nhận vô cùng tinh tế và cũng rất chính xác, bất kỳ người nào cũng có thể cảm nhận được điều ấy nếu từng chính bản thân mình ngắm trăng ở thôn quê và ngắm trăng nơi đô thị. Có lẽ tôi cũng không cần trình bày dài dòng.
201. Hai câu ”Không sơn vô nhân, thủy lưu hoa khai“ (Núi vắng không người, hoa nở nước trôi) , cực tả được diệu cảnh của thú chơi đàn, hai câu : “Thắng cố hân nhiên, bại diệc khả hỷ” (Thắng được thì vui, thua cũng chẳng buồn) cực tả được diệu cảnh của thú chơi bài; hai câu : ”Phàm tùy Tương chuyển, vọng hoành cửu diện“ (Buồm lướt sông Tương, ngoảnh nhìn chín phía) cực tả được diệu cảnh của thú đi thuyền, hai câu : “Hồ nhiên nhi thiên, hồ nhiên nhị đế” (hờ hững mà như Trời, hững hờ mà như Đế) tả được diệu cảnh của mỹ nhân.

「 空 山 無 人, 水 流 花 開 」 二 句, 極 琴 心 之 妙 境 ; 「 勝 固 欣 然, 敗 亦 可 喜 」 二 句, 極 手 談 之 妙 境 ; 「 帆 隨 湘 轉, 望 衡 九 面 」 二 句, 極 泛 舟 之 妙 境 ; 「 胡 然 而 天, 胡 然 而 帝 」 二 句, 極 美 人 之 妙 境。

"Không sơn vô nhân, thủy lưu hoa khai“ nhị cú, cực cầm tâm chi diệu cảnh, ”Thắng cố hân nhiên, bại diệc khả hỷ” nhị cú, cực thủ đàm chi diệu cảnh, ”Phàm tùy Tương chuyển, vọng hoành cửu diện“ nhị cú, cực phiếm chu chi diệu cảnh, “Hồ nhiên nhi thiên, hồ nhiên nhị Đế” nhị cú, cực mỹ nhân chi diệu cảnh.

Tắc 201 này có điểm sai lớn nhất nằm ở câu thơ: 帆 隨 湘 轉, 望 衡 九 面 – Phàm tùy Tương chuyển, Vọng Hành cửu diện.  Chữ Hành ở đây là tên riêng, tức núi Hành sơn. Câu này nghĩa là: Buồm di chuyển theo dòng sông Tương, ngắm được cả chín mặt của núi Hành sơn. Có lẽ Huỳnh Ngọc Chiến đã không nhận ra chữ Hành tên riêng ấy, nên phiên là “vọng hoành cửu diện”, rồi bỏ qua khi dịch nghĩa, mà chỉ dịch là: ngoảnh nhìn chín phía. Thế là núi Hành sơn tự dưng biến mất!
Ngoài ra tắc 201 này, câu “Hồ nhiên nhi thiên, Hồ nhiên nhi đế” vốn có xuất xứ từ kinh Thi – thiên Quân Tử Giai Lão phần Dung Phong. Chữ “Hồ nhiên” nghĩa là vì sao, làm sao, chứ không phải “hững hờ”. Hai câu này nghĩa là “Làm sao mà như trời vậy!  Làm sao mà như thượng đế vậy!” – Quả nhiên là “cực mỹ nhân chi diệu cảnh!”

Sáng trà nhàn 11.9

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Về một câu vỉa của nhân vật Lão Say trong chèo cổ


Nhân vật lão say là một loại hình nhân vật đặc sắc trong nghệ thuật chèo cổ. Tuy được chia ra thành hai loại: lão say bình dân, và lão say lớp trên (theo như cụ Hà Văn Cầu trong cuốn Hề Chèo – xuất bản lần đầu năm 1973), nhưng lối ra trò và những câu hát ra trò của lão say tương đối thống nhất, và vẫn được kế thừa đối với một số nhân vật được xây dựng mới hiện nay.

Trong các câu hát ra trò của nhân vật lão say trong chèo cổ, có một câu vỉa là hai câu thơ chữ Hán, mà ngày nay chúng ta vẫn thi thoảng được nghe có diễn viên còn hát, thế này:

“Quân tử chi giao đạo nhược hà;
Bắc phương nhâm quý bất tu đa.”

Trong chèo cổ, vì được viết và biểu diễn từ thời gian chữ Hán còn thịnh hành, nên số lượng thơ ca và các từ ngữ Hán còn rất nhiều, đã có hẳn những công trình viết về điển tích và từ ngữ Hán trong các vở chèo cổ(*). Hiện nay do chữ Hán không còn thông dụng, nên các khán giả trẻ hiện nay khi xem những vở chèo cổ còn nhiều điểm khó hiểu, hoặc chỉ có thể xem đại lược nôi dung chứ từng câu từng chữ đôi khi phải láo nháo cho qua. Trong khi đó, trong các bài bản chèo cổ từng chữ, từng câu hát đều vô cùng chắt lọc và có ý nghĩa sâu xa.

Trở lại hai câu vỉa chữ Hán trên, nếu như các bạn có ít nhiều vốn liếng về chữ Hán, thì có thể hiểu câu đầu nghĩa là: Cái đạo giao lưu của người quân tử ra sao? Còn câu hai thì thực sự là tối nghĩa. Vậy hai câu này ý tứ ra sao, và vì sao lại được nhân vật Lão say dùng làm câu vỉa ra trò của mình?
Thực ra hai câu thơ ấy vốn xuất phát từ một câu truyện cười dân gian, đến nay đã ít người còn biết. Tuy vậy may mắn khi đọc trong cuốn “Xuyết Thập Tạp Ký” của Lý Văn Phức – trong đó ông có ghi chép lại nhiều chuyện giai thoại về thơ văn liên quan đến danh nhân hoặc lưu truyền trong dân gian, tôi đã đọc được câu truyện ấy, xin dịch lại thế này:

“Xưa có hai vợ chồng, đều là người đọc sách hiểu lễ nghĩa. Một hôm có người bạn đến chơi, bèn bầy tiệc rượu thết đãi. Trong nhà vốn túng bấn, nên chỉ mua được một ít rượu. Người vợ sợ rằng như vậy trông không được hay, muốn pha thêm nước vào cho nhiều, nhưng lại sợ chồng không vui. Hỏi ngay tại chỗ thì lại khó mở miệng, bèn xuống dưới bếp, ngâm to một câu rằng: “Quân tử chi giao ĐẠM nhược hà?” Người chồng hiểu ý, nhưng sợ vợ cho nhiều nước quá, không phải với khách, bèn ngồi tại chỗ ngâm nối một câu rằng; “Bắc phương nhâm quý bất tu đa.” Người bạn cũng hiểu ngay ý tứ bèn ngâm: “Nguyện quân vật tác kim sinh lệ”. Người vợ vội đáp một câu kết rằng: “Vũ Đế sơ niên bản vị ba.”(**)

Cuối truyện có dòng chú thích nhỏ: “Tứ cú giai ám tàng thủy tự” (Bốn câu đều ngầm giấu một chữ Thủy). Xin được giải thích cho rõ bốn câu thơ ấy thế này:

(Trang Xuyết Thập Tạp Ký có chép câu chuyện trên)

Câu thơ đầu tiên của người vợ, vốn lấy từ câu “Quân tử chỉ giao đạm nhược thủy, Tiểu nhân chi giao cam nhược lễ” (Người quân tử tương giao với nhau chỉ thanh đạm như nước, kẻ tiểu nhân tương giao với nhau ngọt như  rượu) trong thiên Sơn Mộc – sách Trang tử. Ở đây người vợ bớt đi chữ “Thủy” mà thay bằng “Hà” nghĩa là “thế nào”, ý hỏi chồng pha nước thêm vào có được không? Người chồng đáp: “Bắc phương nhân quý bất tu đa” nghĩa là: “Phương bắc, hướng Nhâm, Quý, không nên nhiều”. Theo quan niệm ngũ hành và phương hướng cổ xưa, hướng bắc thuộc hai can nhâm quý, hành thủy. ý người chồng là, pha nước nhưng chớ pha nhiều. Người bạn nối tiếp luôn câu: “Nguyện quân vật tác kim sinh lệ.” Chữ “Kim sinh lệ” vốn xuất phát từ câu “Kim sinh Lệ thủy” trong Thiên tự văn. Nhưng người bạn ấy cũng bỏ bớt chữ thủy đi, với ý là: “Xin anh chớ có làm chuyện pha thêm nước vào!” Người vợ đáp: “Vũ đế sơ niên bản vị ba.” Câu này đúng ra phải có chữ thủy nữa, là “Vũ Đế sơ niên bản vị ba thủy” – nghĩa là: (Hán) Vũ Đế thuở ban đầu cũng chưa phải là kẻ làm sóng làm gió gì, ý là tôi chưa có pha!

Như vậy hai câu thơ vỉa của nhân vật lão say vốn xuất phát từ một câu chuyện hài hước về chuyện uống rượu. Rõ ràng câu thơ ấy rất phù hợp với vai diễn, và khi mà câu chuyện còn được lưu truyền rộng rãi trong xã hội Nho học xưa, thì một khi nó cất lên cũng đủ khiến khán giả phải cười rồi.
Ngày nay do sự hiểu biết về chữ Hán cũng như các câu chuyện chữ nghĩa văn chương xưa cũ đã mai một nhiều, thì câu hát có vẻ khó hiểu ấy, hầu như chỉ được khán giả nghe lướt qua không còn ai để tâm đến nữa, nên nhiều khi nó bị lược bớt. Và ngay cả những người nghệ sĩ cũng do không hiểu hết ý tứ câu thơ nên đã hát sai chữ Đạm thành Đạo như tôi trích dẫn ở đầu câu chuyện này. Nó không phải là “Quân tử chi giao ĐẠO nhược hà?” mà phải là “Quân tử chi giao ĐẠM nhược hà?” vậy!

Ghi chú:

(*) Như cuốn: “Điển cố văn học trong chèo cổ” của tác giả Đinh Quang Trung – NXB sân Khấu 2012.
(**) Trong cuốn “Hề Chèo” của cụ Hà Văn Cầu có ghi chính xác hai câu đầu là “Quân tử chi giao đạm nhược hà; Bắc phương nhâm quý bất tu đa.” Nhưng phần chú thích về ý nghĩa và xuất xứ hai câu vỉa này chưa chính xác.  Trong cuốn “Điển cố văn học trong chèo cổ” của tác giả Đinh Quang Trung thì chưa có chú giải về câu vỉa này.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Chơi Sa Hồ - (Tô Thức)


Ở phía đông nam Hoàng Châu(2) ba mươi dặm có Sa Hồ, cũng gọi là Loa Sư điếm. Ta tậu mảnh ruộng ở đó, nhân qua xem đất mà bị ốm. Nghe nói Bàng An Thường người Ma Kiều rất giỏi nghề thuốc nhưng bị điếc, bèn đến nhờ chữa bệnh. An Thường tuy bị điếc, nhưng đĩnh ngộ hơn đời, lấy giấy ra viết chữ, chỉ cần mấy chữ là đã hiểu rõ ý người muốn nói gì. Ta đùa bảo rằng: “Ta lấy tay làm miệng, còn ông lấy mắt làm tai, đều là dị nhân một thời vậy!” Bệnh khỏi, cùng nhau đến chơi chùa Thanh Tuyền. Chùa cách tường thành ngoài của Kỳ Thủy (3) độ hai dặm đường, có con suối rửa bút của Vương Dật Thiếu(4) khi xưa,  nước rất ngọt. Đi xuống dưới, đến bên Lan Khê, nước khe chảy ngược về phía tây. Ta làm một bài ca rằng:

山下蘭芽短浸溪,
松間沙路淨無泥,
蕭蕭暮雨子規啼。


誰道人生無再少?
君看流水尚能西,
休將白發唱黃雞。

“Sơn hạ lan nha đoản tẩm khê;
Tùng gian sa lộ tịnh vô nê,
Tiêu tiêu mộ vũ tử quy đề.

Thùy đạo nhân sinh vô tái thiếu;
Quân khan lưu thủy thượng năng tê.
Hưu tương bạch phát xướng hoàng kê(5).”

(Dưới núi nhành lan ngập nước nguồn;
Gốc tùng lối cát chẳng nhơ bùn,
Mưa chiều xao xác tiếng quyên dồn.

Ai bảo đời người không trẻ lại;
Anh xem nước chảy ngược tây luôn.
“Gà vàng” tóc trắng chớ ngâm buồn!)

Hôm ấy uống đến say khướt mới về.


Chú thích:
(1)    Sa Hồ: nay ở Miện Dương, tỉnh Hồ Bắc.
(2)    Hoàng Châu: địa danh xưa, được đặt ra dưới thời Tùy, trị sở ở Hoàng Cương. Nay thuộc Tp Hoàng Cương tỉnh Hồ Bắc.
(3)    Kỳ Thủy: địa danh, được đặt ra thời Tống, vì phía nam tiếp giáp với sông Kỳ Thủy nên có tên ấy. Nay thuộc Hy Thủy, Hồ Bắc.
(4)    Vương Dật Thiếu: tức Vương Hy Chi, tự Dật Thiếu, người Lâm Kỳ, Lang Nha (nay là Lâm Kỳ, Sơn Đông). Ông là nhà thư pháp nổi tiếng đời Tấn, tác giả Lan Đình Tự, được tôn xưng là Thư thánh.
(5) "Hoàng kê" tức "Hoàng kê thôi hiểu khúc" - Khúc Gà vàng gáy gọi trời sáng, ý nói thời gian trôi qua mau. 

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Tân Liêu Trai - Trừ Thảo Truyện (Truyện trừ cỏ)

Khoảng niên hiệu Phú Trọng, chẳng biết có phải do triều chính rối loạn, mà phát sinh ra vô số sự quái dị. Mùa xuân năm Ất Mùi, xứ Bắc phát sinh thứ cỏ độc kỳ lạ, nó mọc tới đâu là tất cả các cây khác đều chết hết, khiến mùa màng thất bát dân tình đói khổ. Giống cỏ ấy lại lan tràn rất nhanh, chẳng mấy chốc mà tới tận kinh đô, khiến triều đình vô cùng sợ hãi. Phải lập hẳn một vệ quân để đối phó với cỏ độc, nhưng càng chặt bỏ, nó lại càng mọc khỏe hơn. Vả chăng nhổ cỏ lại sợ lẫn với lúa, cũng như nói ném chuột sợ vỡ bình, nên chẳng làm được gì. Cuối cùng đến nỗi nhà vua phải xuống chiếu cầu hiền khắp tứ xứ.


Ngoại thành phía đông có tên học trò nghèo là Phương sinh, vốn thường ở nhà đọc sách không màng chuyện thế sự. Một sáng ra trở dậy ra trước thềm thấy có thứ cỏ lạ mọc tới tận thềm lấy làm kinh ngạc, bứt cho thỏ ăn, nó liền chết ngay, thì càng hãi. Tra cứu khắp các sách vở  mấy ngày liền mà không biết là giống cỏ gì. Nghe nói phía bắc thành có đền Trấn Vũ thờ đức Huyền Thiên Đế Quân vô cùng linh ứng, bèn ngắt một cây mang tới tận đền thắp hương cầu đảo xin thần minh chỉ dạy cho biết. Tối hôm ấy ăn chay nằm mộng ở đền, đến quá canh ba thiếp đi, chợt mơ thấy có vị đạo sĩ mũ vàng cùng đến trò chuyện. Sinh bèn đem cành cỏ ra hỏi là thứ cỏ gì. Đạo sĩ liền hỏi lại: “Ngươi lấy thứ cỏ này ở đâu?” Sinh đáp: “Ở bên thềm!” Đạo sĩ bèn cười nói: “Đó chính là tên cỏ đấy! Thềm chữ Hán là “Thế”, thứ cỏ này gọi là Thế Thảo – tức cỏ bên thềm vậy!” Sinh gật gù thầm ghi nhớ lấy. Chợt đạo sĩ lại vuốt râu nói: “Lại có sách chép chữ Thế nghĩa là đời, vì thứ cỏ này tập hợp tất cả độc hại của các thứ cỏ khác trên đời lại, nên sách Nhĩ Nhã có chú thích: “Thế Thảo chi độc, tập thế thượng chư thảo chi độc nhi đắc danh.” (Cái độc của Thế Thảo là tập hợp độc hại của tất cả các loại cỏ trê đời, nên có tên ấy). Ngươi khá nhớ cho kỹ!”
Sinh lại hỏi: “Vậy giống cỏ độc này trừ thế nào?”
Đạo sĩ cười nói: “Ta chỉ là người xuất thế, học đạo tu tiên ngâm phong vịnh nguyệt, nào biết chuyện trừ cỏ? Nếu ngươi thích ngâm vịnh thì cùng trò chuyện, chứ nói chuyện trừ cỏ ta không biết đâu!”
Sinh gặng hỏi mãi không được, bèn thôi. Chỉ cùng nhau trò chuyện thơ phú. Hồi lâu đạo sĩ chỉ cái rương bên góc nhà nói: “Trong rương kia là bộ “Toàn Đường Thi”. Tất cả thơ phú của thi gia đời Đường đều được tập hợp trong ấy. Ngươi lấy một cuốn ra chúng ta ngâm vịnh.”
Sinh mở rương, lấy bừa một cuốn, định mở ra. Đạo sĩ bèn ngăn lại, bảo: “Ta có lưỡi chủy thủ đây, ngươi hãy cầm mũi dao, lách vào trang sách. Mũi dao chỉ đúng bài nào thì chúng ta ngâm bài ấy.”
Sinh cho là một cách chơi thú vị, bèn làm theo. Giở ra thì là bài tứ tuyệt của Từ Ngưng, thế này:

Cổ thụ y tà lâm cổ đạo;
Chi bất sinh hoa phúc sinh thảo.
Hành nhân bất kiến thụ thiếu thời,
Thụ kiến hành nhân kỷ phiên lão

(Cổ thụ nghiêng nghiêng bên lối cũ;
Cành chẳng mọc hoa, ruột mọc cỏ.
Hành nhân nào thấy thuở cây non;
Cây thấy hành nhân già mấy độ.)

Ngâm dứt nhìn lên thì chẳng thấy đạo sĩ đâu nữa. Nhìn ra cửa đền chỉ thấy sương mờ man mác, gió động lá rơi, phía làng Thọ Xương tiếng gà sớm đã gáy.
Sinh giật mình tỉnh dậy, nhớ lại bài thơ chép vội vào vạt áo. Nhẩm đi nhẩm lại, chợt giật mình ngộ ra: “Thơ nói cây cổ thụ nghiêng bên đường cũ .. trong ruột sinh ra cỏ …” Lại đưa mũi dao vào. Vậy phải chăng là có cây cổ thụ đẻ ra cỏ ấy, muốn trừ cỏ thì phải tìm cái cây đó mà chặt đi?” Bèn lập tức trở về, chong đèn viết sớ dâng lên triều đình rằng: “Muốn trừ cỏ phải chặt hết các cây cổ thụ nghiêng cong, mối rỗng ruột bên đường cũ ở kinh đô!”
Triều đình y lời theo, bèn cho người kiểm số cây nghiêng cong mối mọt dâng lên. Đám quan lại ở kinh đô nhân dịp ấy cấu kết với bọn gian thương lái gỗ, bèn dâng lên rằng phải chặt đến 6.700 cây. Vì nạn cỏ dại hoành hành quá dữ, nên triều đình cũng phê chuẩn cả. Thế là quan quân ra sức chặt hết các cây cổ thụ trên phố ở kinh kỳ, có những phố trọi không, không còn bóng cây. Nhưng chặt mãi vẫn chưa dứt được nạn cỏ, quan quân lại chặt tiếp. Dân tình vốn coi trọng những cây đại thụ vẫn gắn bó với họ, nhưng vì đại cục, lại chẳng làm được gì đành nuốt nước mắt mà thương những cây bị chém oan. Cuối cùng đến khi nạn cỏ hơi lui thì cũng đã chặt hơn hai ngàn cây rồi. Người dân thương những cây chết oan, từ đó kiêng húy chữ “Cây”, lại gọi chuyện chặt cây là “Chém lũ đẻ ra thảo” (Trảm sinh thảo chi bối) để cây khỏi oán./.