Thứ Năm, 29 tháng 8, 2024

CON CỪU MERINO - Hồng Kha (TQ)


Rất huênh hoang, chẳng thèm nhìn một ai, đại đội trưởng mời thuốc gã, gã cũng chỉ quay sang đại đội trưởng gật gật đầu, rồi hút thuốc. Động tác hút thuốc của gã khiến người ta nghĩ đến những con cừu ấy. Có mười lăm con tất cả. Đám phụ nữ lùa lũ cừu xuống sông Khuê Đồn, tắm rửa thật sạch, y như giặt những con thú bông của họ. Tất cả lũ cừu đều béo tốt, trắng muốt và sạch sẽ, đứng im lìm trong vạt rừng cây. Gã đồ tể hút điếu thuốc “Hồng Tuyết Liên”, con mắt chăm chăm nhìn những con cừu trong vạt rừng. Những con cừu mới trắng làm sao, bông làm sao, chúng không chạy, cũng không náo động, im lìm đứng lặng trong vạt rừng, giống như một đám mây trắng được neo chặt lại trên đầu ngọn cây. Đồ tể hút hết điếu này đến điếu khác, toàn thuốc “Hồng Tuyết Liên” hảo hạng. Có người đã nhìn xem những đầu mẩu thuốc vứt trên mặt đất, chỉ còn lại những đầu lọc vàng vàng. Ai cũng biết, đây là một tay dữ dằn.

Đồ tể đập đập tay đứng dậy, nheo mắt nhìn về phía mọi người. Tất cả mọi người cùng a lên trong lòng, cuối cùng gã cũng đã nhìn người ta một cách đàng hoàng rồi. Đồ tể cứ chăm chăm nhìn vào lũ cừu mà gã phải giết thịt như thế, bây giờ đã đến lúc gã phải động thủ làm thịt cừu rồi, thì gã lại nhìn mọi người như thế. Trông cái miệng gã xem, bị bộ râu đen xì trùm lên, giống như một cục đá trong bụi cỏ. Những kẻ sinh ra có kiểu miệng như vậy ắt sẽ làm đồ tể.

Đồ tể đi đến trước mặt những con cừu, lũ cừu nhất loạt ngẩng đầu lên, đồng thanh “mê mê” kêu toáng. Đồ tể tựa như tổng thống một nước lớn đến thăm, từ lâu đã quen với bản nhạc được tạo nên từ những âm thanh bi ai ấy. Chỉ cần liếc mắt gã đã nhận ra ngay con cừu đầu đàn, không chút khách sáo tóm ngay lấy nó xách lên, giống như một người xách cái túi của mình khi ra khỏi nhà. Đồ tể xách con cừu đến cái bàn thấp trên bãi, vung một dao, cái đầu cừu vẫn xách trên tay, còn mình con cừu đã nằm ngay đơ dưới bàn mổ thịt. Gã ta vứt cái đầu cừu xuống, tóm lấy chân sau con cừu, lấy mũi dao rạch nhẹ, da cừu bèn mở ra một đường, cùng một tiếng roạt trầm đục. Mũi dao đi từ gót chân lên đến trên đùi. Rồi lại dùng lực, đi một đường từ bụng lên đến cổ, vậy là toàn thân con cừu đã được mở ra. Đồ tể quay đầu lại, lại bắt đầu từ cái đùi . Đây là một việc cần sự tỉ mỉ, đồ tể toàn thân rạp xuống, phủ lên toàn bộ mặt bàn mổ thịt. Mũi dao vừa nhẹ vừa nhanh, da cừu phát ra những tiếng soàn soạt, giống như tiếng xé vải. Mũi dao như một cái còi, vang lên trong tay đồ tể. Có người kêu lên: Ôi, cừu xong hẳn rồi! Người ấy chỉ kêu một tiếng như thế liền im bặt. Tiếng vang trên lưỡi dao đã hút hồn anh ta cũng như tất cả mọi người. Lưỡi dao kêu càng hân hoan, gấp gáp hơn, nó tiến vào chỗ hông con cừu, phát ra những tiếng ào ào như cá nhảy xuống nước sâu. Cuối cùng, lưỡi dao chạy qua bẹn, tiến vào vùng bụng cừu rộng rãi. Đồ tể đưa mấy động tác soạt soạt mạnh mẽ, tay kia kéo mạnh, roạt một cái, toàn bộ thân thể con cừu đã bị lột ra. Đồ tể hơi di chuyển bước chân, kéo ra hai bên tả hữu, lưỡi dao loang loáng bên trái, bên phải, càng bay càng nhanh, toàn bộ thân cừu phát ra những kêu lớn rào rào như mưa, tựa như có hai cây đàn piano đang diễn tấu trong đó.

Cánh phụ nữ không dám xem đồ tể thịt cừu, họ lấp vào chỗ vạt rừng bên kia làm việc, nghe thấy tiếng da cừu soàn soạt rào rào lột ra, họ đều hơi lặng người đi, chẳng ai đừng được không quay lại nhìn gã bặm trợn ấy lột da cừu. Họ không ngờ rằng con cừu đã mất đầu rồi, lại phát ra một bản nhạc kỳ diệu như thế. Họ chạy vào trong vạt rừng, đứng ngây ra một chỗ cùng với lũ cừu còn sống, không ngừng vuốt ve đầu chúng, ôm lấy cổ chúng. Những con cừu biết kêu “mê mê”, còn họ không biết. Họ biết nói chuyện, nhưng nói gì đây? Nói gì thì lũ cừu nghe cũng không hiểu.

Đồ tể lại bước đến phía ấy, gương mặt như được tạc bằng đá không biểu lộ chút biểu cảm gì, cánh đàn bà và lũ cừu đều im thin thít, khuôn mặt bằng đá không chút biểu cảm ấy của gã khiến họ chết lặng. Không biết đôi mắt đồ tể đang nhìn vào chỗ nào, song đôi chân của gã đang bước đến phía này. Gã không cầm dao, chỉ hai tay không, cứ như đến làm bạn với lũ cừu, nhưng đám phụ nữ thì biết đây là một nhân vật ghê gớm. Kẻ ghê gớm làm việc bao giờ cũng không vội, không chậm, không để lộ vẻ gì, nhưng đã làm xong việc rồi. Đại đội trưởng kêu bảo: “Anh có cần giúp một tay không?” Đồ tể xua tay, ngăn đại đội trưởng lại. Trung đoàn trưởng cũng ngăn đại đội trưởng lại như thế. Tay của trung đoàn trưởng giống như điều khiển từ xa, chỉ đại đội trưởng một cái là đại đội trưởng lập tức dừng lại ở một chương trình nào đó.

Đồ tể thuận tay kéo một cái, lập tức một con cừu bay bay lướt theo gã đi. Đồ tể vứt nó lên trên bàn, nó cũng chỉ như một khối bông trắng, mềm nhũn một đống trên bàn, không hề động đậy chút nào. Trên mình con cừu cứ y như có một cái khóa kéo, mà đồ tể chỉ cần kéo một cái là mở bung ra. Đồ tể chỉ có một mình, còn cừu thì cả một đàn, đồ tể muốn khiến mỗi con cừu đều phải phát ra tiếng kêu của chính mình. Cừu ăn nhiều cỏ như vậy, nhưng chỉ biết kêu mê mê, song đồ tể cho chúng một lưỡi dao, thì lại có thể khai quật được ra tiếng nhạc từ trong tận da thịt của chúng. 

Đó là tay đồ tể không hề tầm thường, gã không cần người giúp sức, ngay cả việc lôi lũ cừu ra cũng không cần người khác phải nhúng tay vào. Gã đi lại chỗ đàn cừu là tiếng nhạc trên thân thể lũ cừu liền vang lên. Con mắt ti hí của gã còn nhanh hơn cả dao, chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn, ánh mắt của gã đã lướt nhìn thấu khắp trong ngoài lũ cừu rồi. Đến khi gã đưa mũi dao xẻ tới, thì chẳng khác gì bước vào nhà mình, đường quen lối tỏ, đến một cái xoay người cũng không cần, ngay cả cừu cũng không ngờ rằng đồ tể lại hiểu rõ về nó như thế, còn hiểu rõ về cái thân thể đẹp đẽ của nó hơn cả chính nó.

Lũ cừu đã hoàn toàn tan rã rồi, hoàn toàn sụp đổ rồi, khi gã đồ tể bước lại, miệng chúng không còn phát ra âm thanh gì nữa, nước mắt đầm đìa nhìn vào gã đồ tể. Cánh phụ nữ mỗi người ôm một con cừu, nhưng đồ tể chẳng thèm nhìn vào họ, gã gỡ tay họ ra khỏi con cừu giống như người ta gỡ những sợi thừng khỏi thân cây.

Có một con cừu, khi gã đồ tể ấn nó xuống bàn mổ thịt, nó đã nhảy ngay xuống, quỳ mọp trước mặt gã. Mọi người đều há mồm trợn mắt. Những tay đồ tể khác, khi gặp phải tình huống như thế, ắt hẳn đã vứt dao xuống, lặng lẽ rời đi, đổi sang làm nghề khác. Thế nhưng con cừu thông minh tuyệt đỉnh ấy nhìn đến lồi cả mắt ra, mà gã đồ tể này cũng chỉ ngây ra giây lát, là lấy lại tinh thần ngay. Đồ tể tuyệt không lay động, gã phải làm bằng xong việc, rồi đến cả bàn mổ thịt gã cũng không cần nữa, lưỡi dao đưa một vòng tròn, con cừu đã đầu lăn sang một bên, thân đổ sang một phía, đùi trái gã ta đỏ loe một đám. Gã đồ tể đặc biệt tỉ mỉ với con cừu ấy, động tác chậm lại hẳn, tiếng dao vang lên vừa nhỏ vừa dài, giống như tiếng vĩ cầm, đậm đà phong vị trữ tình. Đồ tể và con dao của gã hạ xuống hết nhát này đến nhát khác, mỗi nhát dao hạ xuống đều là một tuyệt kỹ trong việc sát sinh của gã, đều là một tiếng nhạc trời, lưỡi dao ấy tựa hồ như dạo chơi giữa bầu trời và lòng đất, khi tấm da cừu được lột ra hoàn toàn, tiếng nhạc du dương giữa khoảng đất trời, trong khoảnh khắc đã tuôn tràn ra từ thân thể trần trụi của con cừu.

(Minh họa của HS Công Quốc Hà)


Đồ tể châm một điếu thuốc, rít mạnh mấy hơi, gã đã hoàn toàn được giải thoát khỏi thân thể bi tráng của con cừu. Mấy ông bộ đội phục viên lớn tuổi cũng không thể không thừa nhận, đó là một tay táo tợn. Đồ tể phì một cái nhổ đầu mẩu thuốc lá xuống đất, di tắt, rồi tiếp tục xử lý nốt mấy con cừu cuối cùng. Công việc thu dọn nốt, lại càng nhanh càng mạnh, lưỡi dao loang loáng như chớp, những luồng sáng trắng lóa qua lại trên thân con cừu một chốc, thì nó đã biến thành một khối thịt tươi hồng sạch sẽ.

Đồ tể ý chừng vẫn chưa xong, gã vẫn còn tiếp tục đi lại phía vạt rừng. Trong vạt rừng là đám con gái đang hơ hớ. Mọi người cười rộ: “Gã say máu rồi, gã muốn lôi mấy cô ả ra khai đao đây.”

Trong vạt rừng vẫn còn một con cừu, đứng nấp giữa đám con gái. Đồ tể nét mặt hơi cười đi lại, gã không muốn gây chuyện với đàn bà.

Con cừu ấy đã tự đi ra. Sở dĩ nó bị tụt lại sau cùng, là vì nó bé nhất. Một nguyên nhân nữa là, nó không hợp đàn. Mười bốn con cừu vừa nãy là loại cừu lông mịn của Tân Cương, còn con cừu này là cừu Merino. Con cừu Merino không kêu lên ai oán, cũng không quỳ xuống, ngay cả nước mắt cũng không có. Trong mắt nó chỉ có ánh sáng, một thứ ánh sáng mịn như nhung rất nhu hòa, rất mềm mại, chợt lóe lên mấy lần với gã đồ tể, rồi nó quay người chạy đi, chạy thẳng ra khỏi vạt rừng, về phía đồng cỏ xanh.          

Mọi người vây lại định chặn bắt con cừu Merino. Đồ tể nói: “Nó đói rồi, để nó ăn no đi đã.”

Con cừu Merino xuyên qua vạt rừng và đồng lúa mạch, chạy về phía đồng cỏ phía nam. Ở cuối đồng lúa mạch, đồng cỏ chăn gia súc trải dài từ con dốc dài thoai thoải đến tận bên sông Khuê Đồn. Cừu Merino đi vào sâu trong đồng cỏ rồi thì dừng lại không di động nữa, mọi người chỉ nhìn thấy một chấm trắng nhỏ, gió thổi cỏ bạt, mới lộ ra chừng nửa thân hình của nó, cỏ vươn thẳng trở lại, sẽ chẳng nhìn thấy con cừu đâu nữa. Có người nói nhỏ: “Con cừu này bị dọa sợ chết lặng đi rồi, không còn động đậy gì nữa, chứ làm gì có con cừu nào ăn cỏ mà như thế?” Tiếng đáp lời lại lớn hơn: “Sắp chết đến nơi rồi, còn ăn được bao nhiêu nữa, nếu là anh, anh ăn được nhiều không?”

Đồ tể hút hết hai điếu thuốc “Hồng Tuyết Liên”, lúc đi gã mang cả con dao theo. Mọi người biết, gã sẽ không giết cừu trên đồng cỏ. Những người du mục trước nay không bao giờ làm thế, người Hán ở đây cũng vậy, anh tuyệt đối không thể giết gia súc trên mảnh đất nuôi sống nó. Đồ tể phải đến bên sông để giết cừu, bãi sông chỉ toàn những khối đá trắng, lột da cừu rồi, rửa sạch sẽ dưới sông, không cần mang về rửa cho lãng phí nước nữa. Nhất định là gã đồ tể đã tính toán như thế. Cứ nhìn con dao trong tay gã, giữa vạt rừng tối tăm mà còn sáng loáng như thế, cứ y như cầm cái đèn pin trong đêm tối vậy. Ra khỏi vạt rừng, ánh sáng ấy bèn trở thành một màu trắng lóa, lấp loáng dưới ánh mặt trời, giống hệt một luồng điện với điện áp cực cao, đang được một kẻ dũng mãnh cầm trên tay. Gã bước qua ruộng mạch, những hạt mạch vẫn còn chưa nảy mầm, mặt đất vừa mềm vừa mịn. Dấu chân của con cừu Merino để lại rất nhỏ, chỉ bằng cái chén uống rượu, nhưng rất sâu, có những dấu chân còn làm lộ ra những hạt mạch. Hạt mạch đã nứt nanh rồi, mặt đất vẫn còn mềm như thế, y như làn da gái trinh. Nhưng nó không phải là đất trinh nữ nữa, nó đã được khai khẩn nhiều năm rồi, đã gieo hạt hết vụ này đến vụ khác, thai nghén hết lần này đến lần khác, sinh trưởng già chín, thu hoạch cấy cày, nhưng mỗi khi lưỡi cày lật lên, nó vẫn luôn là một gương mặt trinh nữ mịn màng, mướt nhuận, tươi non. Những dấu chân cừu chẳng những không làm tổn hại ruộng mạch, mà ngược lại còn khiến cho mặt đất tỏ rõ vẻ mềm mại êm đềm mà cao quý.

Cỏ phía bên kia ruộng mạch đã được cắt sạch, lớp vỏ ngoài thân những sợi cỏ đã khô vàng, nhưng trong ruột chúng vẫn hơi xanh sậm, và còn có thể nhìn thấy những giọt nhựa sền sệt. Phân gia súc thì khô cứng đen kịt, dẫm lên rất giòn, tựa những miếng củi gỗ. Những cây cỏ cao đều mọc ở những chỗ gần bên bãi sông, nơi ấy toàn những tảng đá lớn, cỏ vươn ra từ những kẽ đá, che kín cả đá, nên những người cắt cỏ sẽ không bao giờ đi cắt ở những chỗ như vậy. Bây giờ đang là những ngày cuối cùng của mùa thu. Chỉ ở đây, gia súc mới có thể ăn được những ngọn cỏ tươi ngon. Trong màu xanh của những ngọn cỏ đã mang theo sắc vàng, lá cỏ lặng trĩu phát ra những tiếng lay động loạt soạt, giống như đang lắc một nắm len. Phân gia súc ẩn sâu trong bụi cỏ còn rất mới, tựa hồ chúng được mọc ra từ đất. Đồ tể dẫm lên một bãi phân bò, suýt nữa thì trượt ngã, gã lập tức ngửi thấy một thứ mùi đặc hữu của phân gia súc, rất giống mùi của thứ thuốc lá kém chất lượng. Bước chân của gã đồ tể bước qua những bụi cỏ phát ra tiếng roàm roạp nặng nề, mà chỉ có những đại gia súc có mồm to, lưỡi lớn, với hàm răng tổ chảng khi ăn cỏ mới có thể phát ra những âm thanh soàn soạt mạnh mẽ và chậm rãi như thế. Đồ tể đã lội trên đồng cỏ chăn gia súc bao nhiêu năm rồi, nhưng chưa từng được nghe tiếng vang động của cỏ rõ ràng như thế, cũng chưa từng bao giờ tự hào về bước chân chắc cgã có lực của mình như thế.

Gã đã nhìn thấy con cừu Merino. Gã chỉ nhìn thấy đuôi và lưng của nó, sau đó thì gã nhìn thấy một bên người, cái đầu, cổ và thân của con cừu. Con cừu vẫn chưa hề nhận ra. Cừu là một con vật nhát gan và ngờ nghệch nhất trong đám gia súc, chỉ khi anh đi đến tận trước mặt nó, nó mới kinh hoảng giật mình, rất giống những cô nàng vừa mới vào đời chưa lâu, khi đàn ông cởi quần áo họ ra, họ mới cảm thấy không hay, giây phút bất chợt hoảng loạn lên, mà miệng không thốt ra được lời nào, tay không biết phải làm gì.

Đồ tể có đôi mắt rất tinh tường, ánh mắt gã như phóng ra một thứ ánh sáng lạnh ngắt từ giữa trán, xuyên qua lớp lông xốp dày trắng muốt, di chuyển khắp bên trong xương thịt con cừu: thịt đỏ, xương trắng, gân vàng, những mạch máu xanh sậm, và phủ tạng căng đầy. Thế giới hướng tới sự trong sáng. Thiên nhãn của gã đã được mở. Đôi chân không nghe lời của gã đã đưa gã đến trước mặt con cừu Merino. Con cừu lặng im nhìn xuống cỏ, nó có cái mõm đen bóng nhẫy, nhưng nó không ăn cỏ, miệng, mũi, mắt, tai của nó đều chìm ngập trong sự tĩnh lặng toát ra từ cỏ.

Đồ tể cảm thấy đói lả, muốn hút thuốc. Nhưng cái gã hút không phải là thuốc, mà là một cọng cỏ đang kêu vang trên miệng, soàn soạt, rất giống âm thanh của lưỡi dao đang lột da cừu, rất giống tiếng gia súc hay người đang đi qua cỏ rậm. Cừu Merino là giống cừu mới, gã đã biết về chúng từ khi mới được nhân giống rồi. Đồ tể ngồi xuống, dù là một kẻ cao hơn nữa thì khi ngồi xuống cũng chỉ cao bằng con cừu mà thôi. Gã nhìn thấy hai mí mắt đặc trưng của cừu Merino: hai mí mắt xanh đen một mảng, từ trong đó tỏa ra một ánh mắt mịn như nhung, giống như nước từ đầu nguồn suối, tuôn chảy mãi rất xa, rất xa... Cừu Merino đã dùng cái ánh mắt như nước nguồn trong vắt ấy khiến cỏ xanh và đồ tể ngưng đọng lại. Gã đồ tể cảm thấy mình đã hóa thành cỏ. Người với cỏ cũng vậy, dầu cho đang tĩnh lặng nhất, cũng vẫn có một luồng xoáy đang xoay chuyển bên trong.

Bên trong người đồ tể chợt có tiếng reo vang, âm thanh rất lớn, những người đứng phía bên kia ruộng mạch cũng có thể nghe thấy. Khi gã đổ sụp xuống, hai tay và đầu gối cùng chống xuống đất, con dao cắm sâu vào cát, ngập đến lút cán. Gã nhìn lên con cừu đang đứng cao hơn mình.

Đó là một con cừu Merino Tân Cương đích thực.

Gã tựa hồ vừa mới được biết về con cừu này.     

Đồ tể bò dậy, đi ra khỏi vùng cỏ rậm, đến vạt cỏ ngắn rộng rãi, giống như một người bị đuối nước vừa lên được bờ. Gã nói với mọi người: “Đó là con cừu thần, không giết được nó.” Gã không kể cho mọi người chuyện đầu gối gã đã quỵ xuống đất thế nào, nhưng thần thái của gã là như vậy.

Trên bãi rộng toàn là người, trai gái trẻ già vui mừng náo nức. Việc mổ bụng xẻ thịt không cần đồ tể phải nhúng tay vào, mọi người đều biết việc ấy. Cánh phụ nữ thì làm lòng cừu, lũ trẻ con thì phùng má thổi căng cái bong bóng cừu để làm bóng đá, thình thịch như đánh pháo đất. Trong không khí tràn ngập một mùi tanh hoi ẩm ướt mà tươi mới. Mọi người đều thích cái mùi vị ấy, từ mùa xuân khi cỏ xanh nảy mầm cho đến cuối thu, lúa mạch, ngô, đậu, hướng dương, táo, nho đều đã thu hoạch cả rồi, nhưng cừu vẫn lớn lên trên đồng cỏ. Trong đại đội có có tới mấy ngàn con cừu, đến lúc qua mùa đông mới giết thịt chúng. Gieo lúa mạch xong, sửa sang ruộng nương đâu đấy, mọi người đã cạn mồ hôi rồi, trên mình chảy hết không còn gì nữa rồi, trước hết phải mổ mười mấy con cừu ăn lấy sức đã. Cừu cũng giống như than củi, là thứ để đối phó với cái lạnh rất tốt.

Đến nhá nhem tối, cừu đã được lọc xương hết, chia thành từng mô, mỗi nhà một mô, đem thẻ lĩnh phần. Cái gì chia thì chia, cái gì để lại thì để ở nhà ăn  đại đội để liên hoan. Mọi người hân hoan xúm lại vui đùa, anh em công nông thì vui chơi ở đại sảnh, các cán bộ thì ngồi nói chuyện phiếm trong phòng họp nhỏ.

Đồ tể cùng lãnh đạo, đại đội trưởng, ngồi một mâm. Mọi người đều chăm chú ăn, không ngẩng đầu lên, ăn đến túa mồ hôi khắp người khắp mặt. Đồ tể miếng được miếng chăng, còn chỉ là thù tiếp mọi người. Đại đội trưởng châm thuốc cho gã, thuốc là món sở thích của gã. Lúc uống rượu, có người muốn đến gặp đồ tể mời rượu, nhưng đại đội trưởng đã đưa mắt ngăn lại, chỉ để gã uống ba chén. Đồ tể có vẻ không trụ nổi nữa. Không đợi đại đội trưởng phải cất lời, cô gái trẻ bưng món đã đỡ đồ tể đi ra.

Ra đến bên ngoài, gió lạnh vừa thổi, đồ tể lại càng gục xuống hơn, đè nặng khiến cô gái thở hổn hển, giây phút khiến cả gã và cô gái cùng ngã bệt xuống. Đồ tể cười hơ hơ: “Cô là một con cừu thần, tôi bò rạp xuống không sao, chứ cô không bò như thế được.” Cô gái ngồi dậy đỡ gã lên, nhưng gã không cần: “Con dao đã biến thành cỏ rồi, tôi cũng phải biến thành một sợi cỏ, để cho cừu nhìn một chốc như thế.” Cô gái bảo: “Cừu sẽ nhìn anh cả đời.”

“Cừu chỉ nhìn tôi một cái, một cái là đủ rồi.”

Cô gái đại để không vần nổi gã đồ tể. Cô cởi áo khoác ngoài đắp lên người cho gã, rồi băng qua vạt rừng về nhà. Mặt trăng dần nhô lên từng chút một, giống như một con cừu béo tròn sáng rực, ung dung quý phái, phong thái đường đường, đi lại, thẳng tới bên mình gã đàn ông đang say ngủ ấy.

(Châu Hải Đường dịch - Văn Nghệ Quân Đội số 1035+1036/2024)           

 


 Giới thiệu tác giả:


Hồng Kha (1962 – 2018), tên thật là Dương Hoành Khoa, quê quán Thiểm Tây (Trung Quốc), ông tốt nghiệp Học viện Sư phạm thành phố Bảo Kê (Thiểm Tây) năm 1985, nguyên là hội viên Hội nhà văn Trung Quốc, Phó chủ tịch Hội nhà văn Thiểm Tây. Ông từng giành được nhiều giải thưởng văn học của Trung Quốc như Giải thưởng Văn học Phùng Mục lần thứ nhất; Giải thưởng Văn học Lỗ Tấn lần thứ 2, giải thưởng cho tiểu thuyết trường thiên lần thứ nhất của Trung Quốc tiểu thuyết Học hội. Ông để lại nhiều tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết, và tản văn. Có thể kể đến như: các tập truyện ngắn như: “Núi Altai sắc vàng”; “Nhảy ngựa Thiên Sơn”; “Hoa bia dại”, “Mặt trời nảy mầm”, …; các tiểu thuyết: “Người kỵ sĩ đi về phía tây”, “Hổ! Hổ!”, “Tảng đá ho”, “Sông cái”, …; Các tập tản văn: “Dòng sông lớn giữa những ngón tay”, “Kính sợ trời xanh”, “Rực rỡ và yên lặng” …    

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2024

XUÂN ẤM - Trương Chí Minh (Trung Quốc)

 

Khu nhà họ Chân tọa lạc ở mé bắc đường lộ, qua cổng vào bên trong, là hai lớp nhà. Sân ngoài, sân trong đều theo hướng bắc nam, dài hẹp, sân ngoài có hai gian nhà đông tây, sân trong ngoài hai gian nhà đông tây còn có nhà chính. Cổng ngoài và cổng trong đều không có cửa đóng, thảy chỉ xếp chồng bằng đá xanh. Trước nhà là bậc thềm đá xanh, mặt sân cũng lát bằng đá xanh.

Ngày trước nhà họ Chân vốn là một nhà phú nông, cho nên mới có khu nhà lớn như thế.

Trong nhà khắp mọi chỗ đều làm bằng đá, hàng xóm láng giềng qua lại, lúc nào cũng cảm thấy lạnh lẽo.

Gian nhà bên đông ở sân ngoài có Triệu Hỉ ở, còn nhà chính ở sân trong có Thủy Đào và con gái cô.

Tháng Chạp trước Tết, Triệu Hỉ mới vừa đến ở đó.

Tối hôm Đông chí trước Tết, xưởng pháo trong xã phát nổ, những công nhân làm ca đêm không một ai chạy thoát được ra, chết tất cả hơn hai mươi người. Trong đó nhà họ Chân mất đến năm người: chú, thím, anh trai, chị dâu, và cả chồng của Thủy Đào.

Nhà Triệu Hỉ ở phía sau xưởng pháo, nhà cửa bị phá sập cả. Vợ Triệu Hỉ tối ấy cũng đi làm trong xưởng pháo, tất nhiên cũng chẳng sống sót.

Nhà họ Chân mất đi năm người vốn đều sinh sống ở đây chỉ trong một đêm, khu nhà họ Chân rộng lớn như thế chỉ còn lại hai mẹ con Thủy Đào.

Tháng Chạp đông hàn, năm hết tết đến tới nơi, mà Triệu Hỉ lại thành ra một thân một mình, không chốn nương thân. Triệu Hỉ vốn chơi thân với người con trai của chú thím Thủy Đào giờ đang ở trên thành phố, vì thế bèn vào ở trong gian nhà mé đông ở sân ngoài mà trước đây chú thím Thủy Đào vẫn ở.

Triệu Hỉ không có con cái, kết hôn với vợ đã bảy tám năm mà vợ vẫn chưa sinh nở gì.

Giao thừa, Tết, cho đến tận Nguyên tiêu, trong sân nhà họ Chân không có câu đối đỏ, không có đèn lồng, tất nhiên càng không có tiếng pháo nổ. Một cái tết đi qua buồn tẻ nhạt nhòa, im lìm lặng lẽ.  

Chẳng phải chỉ có một sân nhà họ Chân, mà cả cái thôn Hồ Gia Kiều này vẫn còn chìm lặng mãi vào trong tiếng nổ kinh tâm động phách tối hôm đó, chưa thể hoàn hồn nổi.

Qua tiết Thanh minh ruột gan đứt đoạn, mưa lạnh đìu hiu ấy, một hôm, bỗng có một đôi én chợt đến ngậm bùn đắp tổ ở dưới mái hiên phía trên cửa sổ của gian nhà mé đông.

Đôi én bay ra bay vào, bộ dạng bận rộn hân hoan, khiến không khí nặng nề trong sân nhà họ Chân chợt trở nên có sức sống hơn.

(Tranh của Ngô Quán Trung - T.Q)


Ban ngày, lúc Triệu Hỉ ra ngoài đi làm, Thủy Đào suốt mấy tháng nay ngày ngày chỉ buồn bã ở trong nhà lại nhẹ nhàng nhón bước, ra khỏi lớp cửa trong, nấp ở phía sau, lặng lẽ ngây ra nhìn ngắm cái tổ én dưới mái hiên suốt hồi lâu.

Thôn Hồ Gia Kiều này, trong thôn ngoài thôn chỗ nào cũng sẵn nước, sẵn bùn, sẵn cỏ, cái tổ én đẹp đẽ chả mấy đã được xây xong dưới mái hiên gian nhà mé đông của Triệu Hỉ.

Rồi một hôm, trong cái tổ én dưới mái hiên ấy đã thấy có tiếng đòi ăn lích cha lích chích của lũ én con. Én lớn én nhỏ cùng hòa nhau, con kêu con hót, khiến khoảng sân vốn đau buồn, lạnh lẽo suốt một đông một xuân của nhà họ Chân đã có lại được sinh khí, cũng khiến trái tim ngưng trệ như nước đọng ao tù của Thủy Đào hoạt bát lên một chút.

Tối hôm ấy, đêm đã rất khuya, Thủy Đào vốn mất ngủ đã mấy tháng, dường như nghe thấy có tiếng mèo kêu, liền sau đó tựa hồ loáng thoáng nghe có một tiếng kêu của con chim én lớn.

Thủy Đào nhỏm người ngồi dậy, định khoác áo xỏ giày. Lập tức nhớ ra, cái tổ én ấy ở bên ngoài cửa sổ buồng Triệu Hỉ, Thủy Đào vội đứng dừng lại ở bên giường, chậm rãi cởi giày ra.      

Tất nhiên, Thủy Đào vẫn lo sợ.

Ngồi ở bên giường đến dăm ba phút, Thủy Đào lại xỏ lại chân vào giày, đi ra trước cửa sổ. Đứng bên cửa sổ lại bảy tám phút đồng hồ nữa, rốt cùng cô không thể nào an tâm nổi, nhẹ nhàng mở cửa, nhón chân, đi ra sân ngoài.

Ra khỏi lớp cửa ngăn với sân ngoài, dưới ánh trăng nhàn nhạt, đã nhìn thấy ngay khuôn cửa sổ gian nhà Triệu Hỉ ở. Thủy Đào vẫn còn nghi ngại, lại đứng dừng lại bốn năm phút, tận đến khi loáng thoáng có tiếng lịch bịch từ chỗ tổ én vẳng lại, cuối cùng mới không cần quan tâm gì nữa, quyết định lại gần xem xét cho rõ ràng.

Ai ngờ, cô vừa mới đến gần cửa nhà phía đông, thì Triệu Hỉ bỗng nhiên mở cửa, bước một chân ra.

Khoảnh khắc hai người cùng đứng sững lại đó, tiến chẳng xong, lui chẳng được. Dưới ánh trăng lờ mờ ai nấy cùng chôn chân tại chỗ.

Nửa phút sau, Thủy Đào mới lí nhí nói: “Hình như tôi nghe thấy có tiếng mèo đến, tôi không yên tâm lũ én con, định xem xem …”

Triệu Hỉ tựa hồ cũng được cởi trói, vội bảo: “Vâng, tôi cũng nghe thấy thế, tôi cũng định …”

Hai người lại cùng im lặng, lại đứng như trời trồng ở đó.

Lại nửa phút sau, Triệu Hỉ mới nói: “Để tôi mang cái thang lại, trèo lên xem xem.”

Triệu Hỉ đi sang hiên nhà bên tây lấy cái thang cũ đã hơi mục đến, còn Thủy Đào vẫn đứng tại chỗ.

Triệu Hỉ dựng cái thang tựa vào trước cửa sổ, lại vào buồng lấy cái đèn pin ra, định trèo lên. Thủy Đào lại hơi do dự, chỉ chỉ vào dưới chân thang nhắc bảo: “Xem xem, đã chắc chưa?”

Triệu Hỉ cầm đèn pin soi soi xuống dưới, lay lay cái thang, rồi nhanh nhẹn trèo lên. Thủy Đào không đừng được lại dặn dò: “Nhẹ nhàng thôi … chớ làm chúng sợ!”

Chỉ là lo hão.

Vì thế, cô vội vã quay người đi vào sân trong. Anh cũng nhẹ nhàng đem trả cái thang về chỗ cũ.

Ai nấy về buồng của mình.

Đến lúc trời mờ sáng, Thủy Đào cảm thấy mình mẩy hơi không được khỏe, căn bệnh phong hàn đeo bám cô lâu nay tựa hồ lại quay trở lại.

Sáng sau trở dậy, trời u ám, gió nổi lên. Lúc buổi trưa, gió trở mạnh hơn, một cơn gió lốc cuộn đến chỗ tổ én dưới mái hiên nhà bên đông, cuốn một con én con vừa mọc lông nhung đang đứng trên vách tổ én nghển cổ đợi mẹ rơi xuống đất, kinh hãi chíp chíp chíp hốt hoảng kêu vang.

Thủy Đào nghe thấy tiếng kêu vội vàng chạy ra. Triệu Hỉ đi ra ngoài không có ở nhà, nên cô chỉ còn cách tự vác cái thang đến, nhẹ nhàng cầm con én con trong lòng bàn tay, đang chuẩn bị trèo lên thang thì vừa vặn Triệu Hỉ từ ngoài cửa bước vào.

“Để tôi! Để đấy tôi!” Triệu Hỉ bỏ cái cuốc chạy tới.

Lửng chiều, trong làn gió ấm áp bắt đầu lay phay vài sợi mưa mát lạnh, tí ta tí tách, vấn vít tâm can.

Trong cơn mưa xuân miên man, đã đến xẩm tối lúc lũ trẻ đã tan học về nhà. Suốt mấy ngày phải nằm trong buồng vì ho, Thủy Đào cảm thấy toàn thân không còn sức lực nữa, cô nặng nhọc bước xuống giường, cầm lấy ô, loạng choạng chuẩn bị đến trường đón con. Từ trước Tết, sau khi xảy ra việc bất hạnh với mọi người trong nhà, cô bắt đầu phải đưa đón con đi học hàng ngày.

Triệu Hỉ từ nhà phía đông đi ra, nhìn Thủy Đào như cây dương liễu lung lay trước gió, bước lại giành lấy cái ô trong tay cô, nói: “Cô vào nhà đi, để tôi đi cho!”

Triệu Hỉ cầm ô, bước vào giữa những sợi mưa trên đường. Thủy Đào trông thấy trong cái nồi của Triệu Hỉ ở dưới mái hiên, nước đang cuồn cuộn cuồn cuộn sôi. Cô đứng ở cửa, ngần ngừ một lát, rồi mới bước vào trong gian nhà của anh.

Trong buồng rất tối, trống hơ trống hoác, phảng phất một mùi vị của cánh đàn ông làm ruộng. Lượn quanh hai vòng, Thủy Đào cũng không tìm thấy bột mì của Triệu Hỉ ở đâu.

Thế là cô vội vã lui ra, đi về buồng mình, xúc lấy một ít bột ngô, rồi lại vội vã trở lại, bỏ vào nồi nấu cho Triệu Hỉ.

Mưa xuân nghiêng nghiêng gõ vang lên những tiếng tinh tinh tang tang trên nền đá xanh trong sân. Trong chiếc nồi của Triệu Hỉ cũng tỏa ra làn khói trắng thơm nức hương ngô. Thủy Đào cầm muôi quấy thật kỹ bột trong nồi, đậy vung cẩn thận, lại đứng một chốc, rồi mới yên tâm quay vào sân trong.

Một làn gió xuân, kéo một vệt mưa xuân rắc lên đầu, lên mặt, lên người Thủy Đào, cô mới cảm chợt thấy hơi lạnh trong người. Thủy Đào thầm nghĩ – Có nhẽ cơn sốt lúc ban ngày vẫn còn chưa dứt hẳn!

(Châu Hải Đường dịch - Báo Văn nghệ, số 10/2024)        

            

CHIẾC MŨ CÓI TRÔI SÔNG (Trương Chí Minh – TQ)

Mặt trăng rất lớn, ánh trăng như sương như lụa loang đầy, nhuộm khắp cánh đồng mênh mông cùng cây cối làng mạc xa gần thành một bức tranh thủy mặc trong đêm.

Bao vây trong tiếng ếch râm ran khắp nơi, Xuân Sinh hút hết một túi thuốc, đổ hết tàn đi, rồi đứng lên, men theo bờ ruộng đi sang mé đằng tây. Thấy nước đã đầy rồi, anh ta quay trở lại đổi bơm sang ruộng khác, rồi lại ngồi xuống dưới gốc cây dương bên sông Hương Mễ.

Chắc đã hơn 12 giờ rồi. Xuân Sinh lại hút hết hai túi thuốc, thì đã díu mắt lại, vừa nghe tiếng nước chảy tiếng ếch kêu vừa chìm vào giấc ngủ.

Xuân Sinh nằm mơ, thấy mình đang đứng bên một con đường, ông nội bà nội đã mất từ lâu cùng với mấy người họ hàng làng xóm, còn có cả một số người không rõ là ai đang ngồi trên một chiếc xe rất đẹp, hình thù kỳ dị đi qua trên đường. Xuân Sinh muốn gọi họ, nhưng không thốt được thành lời. Họ nhìn thấy Xuân Sinh, thì đều tựa như không hề quen biết, cứ ào ào đi qua. Tiếp theo đó, Xuân Sinh lại thấy buồn đi tiểu đã gấp lắm rồi, nhưng lại không tìm thấy nhà xí, cuối cùng không nhịn nổi nữa, anh ta chạy ra sau chỗ góc tường đổ vách xiêu, vừa cởi được quần ra thì bỗng nhiên tỉnh dậy.

Xuân Sinh mở bừng mắt, lơ mơ một lúc, mới hiểu ra là vừa chiêm bao. Dụi mắt đứng dậy, đi ra bên bờ sông, Xuân Sinh trông thấy có một chiếc mũ cói nổi trên mặt nước, đang quay vòng vòng ở đó, chậm chạp trôi xuôi. Anh ta bèn đứng trên bờ, đái vào cái mũ. Vừa mới đái, liền nghe thấy từ dưới nước có tiếng nói vọng lên: “Sao anh tệ thế, đái vào đầu tôi rồi!” Tiếng nói ấy vừa ngưng thì nước dưới sông Hương Mễ dường như lập tức chảy nhanh hẳn lên, cái mũ cói đột nhiên tăng tốc trôi xuống phía nam.

Đang đái dở, Xuân Sinh cũng phải cố nín lại, anh ta xách quần, lên cầu, líu ríu chạy một mạch về thôn. Tận đến khi vào hẳn trong thôn rồi, Xuân Sinh vẫn không dám ngoái đầu lại nhìn.

Xuân Sinh hốt hoảng chạy vào trong sân, thấy trong buồng đèn vẫn còn sáng. Anh ta đang định vào nhà, bỗng nhiên cảm thấy chỗ bức tường phía nam có tiếng động, quay đầu lại nhìn, một bóng đen đã vụt qua đầu tường, lăn xuống dưới. Trong cơn kinh hoảng, Xuân Sinh đá đổ một cái ghế đẩu trong sân, thì thấy cửa sổ buồng ngủ chợt tối đen.

“Nghe thấy tôi về, lại còn vội vàng thổi tắt đèn đi?” – Xuân Sinh vào nhà, nói với Thủy Đình vợ mình, vẻ oán trách.

“Ai biết là anh? Tôi tưởng con mèo.” Thủy Đình ở trên giường trả lời trong bóng tối.

Đợi đèn được thắp trở lại, Xuân Sinh trông thấy trên giường chăn chiếu bừa bộn, giữa đêm cuối thu mà khuôn mặt Thủy Đình mướt mát mồ hôi.

“Vừa nãy, chỗ góc tường phía nam đúng là có một bóng đen, loáng cái đã không trông thấy đâu nữa.” Xuân Sinh nói, vẫn chưa hết hoảng hồn.

“Chắc chắn là con mèo.” Thủy Đình vội quay mặt đi vuốt lại tóc, sắp lại chăn.

“Có vẻ to hơn con mèo.” Xuân Sinh nhấn giọng.

Trong ánh sáng ngọn đèn hạt đỗ, Thủy Đình nguýt anh ta, bảo: “Thế thì chắc là ma.”

Xuân Sinh vừa nghe thấy đã giật nảy mình, vội vàng xua tay: “Đừng nhắc đến ma nữa, tôi vừa mới gặp ma ở cánh ruộng bên tây đây.”



Rồi Xuân Sinh đem câu chuyện ở ngoài đồng khi nãy kể cho Thủy Đình nghe, trong lòng vẫn còn nguyên vẻ sợ hãi, lại bảo, vẫn còn chưa bơm xong nước vào ruộng, nhưng anh ta không dám đi nữa.

Thủy Đình vừa nghe, liền mắng bảo: “Lũ đàn ông các anh thật không ra làm sao, chỗ nào đái chả được, lại đi đái xuống sông! Không biết là cánh phụ nữ chúng tôi tối nào cũng phải ra sông giặt quần áo à?”

Xuân Sinh ngồi trên giường, xin Thủy Đình đi cùng mình ra bơm nước ruộng. Thủy Đình lừ mắt, bĩu môi, đạp cho Xuân Sinh một cái vào hông, mắng bảo: “Trông anh có ra cái giống gì không, rõ là gan thỏ đế, việc gì cũng phải bấu lấy vợ!”

Xuân Sinh ngả người nằm ngửa trên giường, nói: “Chả cần biết, nhưng tôi không đi nữa.”

Hai người im lặng lúc lâu, Thủy Đình bỗng ngồi dậy, bảo: “Nếu không thì anh đi gọi Quý Lai, bảo anh ấy đi với anh, anh ấy còn chưa ngủ đâu.”

“Làm sao em biết anh ấy chưa ngủ” – Xuân Sinh vẫn nằm trên giường, hỏi.

Câu hỏi lại của Xuân Sinh khiến Thủy Đình sững lại hồi lâu, cô tránh ánh mắt của anh ta, lại nằm xuống, nói: “Vừa nãy tôi nghe thấy, anh ta ở trong nhà kêu cái gì rất lớn tiếng, nhất định là chưa ngủ đâu.”

Xuân Sinh ở trên giường ngẫm nghĩ rất lâu, chỉ còn cách trở dậy tìm lấy nửa chai rượu còn lại từ hôm Tết, lại kiếm cái túi ni-lông lấy một ít đồ muối, đi ra sân gọi Quý Lai ở cách bên kia tường vây.

Nhà Quý Lai ở phía nam nhà Xuân Sinh, hai nhà chỉ cách nhau một bức tường cao bằng đầu người.

Nghe thấy Xuân Sinh gọi uống rượu, rất lâu sau Quý Lai mới đáp lời, rồi mặc quần áo mở cửa đi ra.

Đêm càng thêm tĩnh lặng, Xuân Sinh và Quý Lai thập thõm theo nhau đi ra cánh đồng phía tây, ngồi bên sông Hương Mễ uống rượu với đồ muối. Trong ruộng lúa, tiếng ếch kêu càng râm ran, bóng trăng đã tới ngọn hàng dương liễu phía tây, hai người cùng quay mặt sang phía đông, đối diện với những bông lúa, nói chuyện, uống rượu, trong bụng sợ hãi, nhưng không ngăn được ý muốn nhìn xuống dòng sông phía sau lưng mình.

Đến tờ mờ sáng, cuối cùng ruộng cũng đã bơm đủ nước rồi. Xuân Sinh và Quý Lai đều không xuống sông rửa chân, cứ xách giày đi chân không về thôn.

Xuân Sinh vừa mới rửa chân tay nằm xuống giường, thì chợt người bên nhà đẻ của Thủy Đình đã đến sân, đứng ngoài cửa sổ gọi gấp, nói rằng: em trai Thủy Đình đi lấy nước vào ruộng suốt đêm qua, nhẽ ra đã phải xong từ lâu rồi, mà tận bây giờ vẫn chưa thấy về nhà, cha Thủy Đình đi ra đồng tìm, chỉ thấy chỗ cửa cống có một đôi dép, mà người thì chẳng thấy đâu. Em trai Thủy Đình bị chứng động kinh. Cả nhà đều hoảng lên, gọi người nhà, hàng xóm, men theo bờ sông đi tìm. Người vừa đến bảo Xuân Sinh cũng mau mau ra đi tìm giúp.

Nhà đẻ Thủy Đình ở phía tây thôn, cách cầu Hồ Gia một khoảng đất, cũng đều lấy nước sông Hương Mễ bơm ruộng.

Tận tới lúc mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, mọi người cuối cùng cũng tìm thấy em trai của Thủy Đình ở chỗ hõm cong của sông Hương Mễ, trên quãng đồng phía nam cầu Hồ Gia. Nó bập bềnh giữa đám cỏ nước um tùm, chiếc mũ cói vẫn đội trên đầu.

(Châu Hải Đường dịch - Báo Văn nghệ số 9/2024)

Trương Chí Minh là một tác giả đương đại Trung Quốc chuyên viết thể loại truyện ngắn mini (tiếng Trung gọi là Tiểu Tiểu thuyết, hay Vi hình Tiểu thuyết), ông liên tục có tác phẩm đăng trên "Tiểu tiểu thuyết Nguyệt báo" - Một tập san ra hàng tháng chuyên đăng các truyện ngắn mini, và nhiều lần có tác phẩm được tuyển chọn vào các tập "Trung Quốc Vi hình tiểu thuyết Tinh tuyển" hàng năm.

 

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2023

Hoàng Tiểu Phối và “Thái Bình Thiên Quốc Diễn Nghĩa”

 Hoàng Tiểu Phối (1872 – 1912), còn có tên Hoàng Thế Trọng, người hương Đại Kiều, Phiên Ngung (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông), là một nhà tuyên truyền, một nhà cách mạng tư sản, đồng thời là một nhà báo cần mẫn, một tiểu thuyết gia xuất sắc.

Trong vòng ba năm kể từ mùa xuân năm 1903, Hoàng Tiểu Phối đã tham gia công tác soạn thuật, biên tập cho nhiều tờ báo nổi tiếng của cách mạng tư sản như “Trung Quốc nhật báo”, “Thế giới Công ích báo”, “Quảng Đông nhật báo”, “Hữu sở vị báo”, nhiệt tình tuyên truyền cho tư tưởng cách mạng dân chủ, chống lại những luận điểm bảo hoàng. Ông là người phản bác quan điểm chính trị của Khang Hữu Vi với tác phẩm “Biện Khang Hữu Vi chính kiến thư” dài ba vạn chữ, trước cả “Bác Khang Hữu Vi luận Cách mạng thư” của Chương Thái Viêm.

Tháng 10 năm 1905, ông gia nhập Trung Quốc Đồng minh Hội. Năm 1906 ông sáng lập “Hương Cảng thiếu niên báo”, và đảm nhiệm vai trò Tổng biên tập tờ báo này. Năm 1907, ông cùng anh trai là Hoàng Bá Diệu chủ biên tuần san “Quảng Đông bạch thoại báo” và “Trung ngoại Tiểu thuyết lâm” ở Quảng Châu, đồng thời tham gia viết, biên tập cho “Xã hội công báo” và “Nam Việt báo”. Năm 1911, ông lại đảm nhiệm việc soạn thuật và tổng trị sự cho “Tân Hán nhật báo” ở Hương Cảng. Ngày 10 tháng 10 cùng năm, Vũ Xương khởi nghĩa thành công. Hoàng Tiểu Phối đã thực hiện xuất sắc công việc của mình trên phương diện báo chí tuyên truyền, với chuyên mục: “Chờ xem Kinh hãm, đế băng, Vũ Xương khởi nghĩa thành công” với hàng loạt bài báo đưa tin cổ vũ lòng người. Năm 1912, do những bất đồng và mâu thuẫn trên chính trường, ông đã bị vu cáo một số tội danh không có thực và bị Trần Quýnh Minh, Hồ Hán Dân sát hại khi mới 40 tuổi.

(Hoàng Tiểu Phối (Thế Trọng)
- Chân dung khắc gỗ) 

Bên cạnh việc làm báo, Hoàng Tiểu Phối còn là một tiểu thuyết gia xuất sắc, trong thời gian trên dưới mười năm, ông đã có hơn mười tác phẩm truyện vừa và tiểu thuyết như: “Thái Bình Thiên Quốc diễn nghĩa” (nguyên tác: Hồng Tú Toàn diễn nghĩa); “Đại mã biển”; “Trấp tải phồn hoa mộng” (còn có tên là: Việt Đông phồn hoa mộng); “Đảng nhân bi”; “Hoạn hải thăng trầm lục” … Trong số đó, phải đặc biệt kể đến tiểu thuyết “Thái Bình Thiên Quốc diễn nghĩa” – viết về 14 năm từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc của cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc nổ ra chỉ già nửa thế kỷ trước thời điểm tác phẩm được sáng tác.

Năm 1851, trước sự bóc lột nặng nề cũng như nền chính trị suy đồi của nhà Thanh, đặc biệt là sự bất lực của triều đình trước sức ép quân sự cũng như kinh tế của các nước phương tây, khiến cuộc sống của nhân dân Trung Quốc trở nên vô cùng cực khổ và bế tắc, mâu thuẫn giai cấp ngày một thêm sâu đậm, dưới vỏ bọc tôn giáo, Hồng Tú Toàn đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc nổi dậy tại thôn Kim Điền, huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây. Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân cực khổ, chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng quân khởi nghĩa đã tăng lên nhanh chóng và liên tục giành thắng lợi: chiếm lĩnh châu Vĩnh An, tiến đánh Quế Lâm, Toàn Châu, rồi tiến lên phía bắc vào Hồ Nam, hạ Đạo Châu, Sâm Châu … Tháng 1 năm 1853, quân Thái Bình hạ Vũ Xương, tuần phủ Hồ Bắc Thường Đại Thuần tự tận. Tháng 3 năm 1853, quân Thái Bình hạ Giang Ninh (nay là Nam Kinh), tổng đốc Lưỡng Giang Lục Kiến Doanh trận vong. Hồng Tú Toàn dưới sự ủng hộ của văn võ bá quan và dân chúng đã tiến vào Kim Lăng, sửa sang lại thành trì, nha phủ, đổi làm Thiên Vương phủ, tuyên bố định đô ở Kim Lăng, đổi tên thành Thiên Kinh, chính thức kiến lập chính quyền Thái Bình Thiên Quốc, đối chọi lại với vương triều nhà Thanh. Hàng loạt tỉnh thành khi ấy như Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy, … đã hoàn toàn nằm trong tay của Thái Bình Thiên Quốc. Sau khi chính thức định đô, lập quốc, Thái Bình Thiên Quốc đã có hàng loạt thay đổi trong việc cai trị, quản lý đất nước theo hướng văn minh hơn, tiến gần hơn đến văn minh phương tây, ví dụ như: thực hiện theo mô hình chính trị nghị viện (sơ khai), tăng cường bình đẳng nam nữ, tổ chức khoa thi cử cho cả nam và nữ, tăng cường đầu tư phát triển kinh tế: khai khoáng, xây dựng đường sắt … Và đặc biệt là tăng cường ngoại giao với các nước phương Tây, đại diện là Mỹ. Mà, như trong sách này, Hoàng Tiểu Phối đã viết, đại diện của các nước phương Tây khi tới diện kiến với triều đình Thái Bình Thiên Quốc đã nhận xét: “Chính trị ở Kim Lăng cũng tương tự như chính thể lập hiến của nước ngoài chúng ta.” Vì vậy công nhận Thiên Quốc là một nước văn minh ở phương Đông.

Tuy vậy, Thái Bình Thiên Quốc cũng đã vấp phải nhiều khó khăn và mâu thuẫn ngay chính từ nội tại nội bộ của mình: đó là việc tranh giành quyền lực lợi ích trong nội bộ các thành viên lãnh đạo chủ chốt của phong trào như Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh, Vi Xương Huy; Sự nhu nhược thiếu quyết đoán của Hồng Tú Toàn trong xử lý các quan hệ gia đình và công việc khi để những người thân của mình gây hiềm nghi với các tướng lĩnh; Và nhiều bất cập khác trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và nhân dân do căn nguyên tôn giáo của cuộc khởi nghĩa gây nên … Chính vì vậy mà dẫu cuộc khởi nghĩa đã thu hút được hàng loạt anh tài văn võ cùng tham gia, liên tục giành thắng lợi, thậm chí lão tướng Lâm Phượng Tường đã tiến quân lên phía bắc đánh đến tận Thiên Tân, ngay cạnh Bắc Kinh, ngoài ra là các cuộc Tây chinh của Thạch Đạt Khai, Đông chinh Tô Triết của Lý Tú Thành, tiến đánh Phúc Kiến của Dương Phụ Thanh … nhưng cuối cùng Thái Bình Thiên Quốc cũng đã bị triều đình nhà Thanh dẹp tan vào năm 1864, sau 14 năm tồn tại.

Với quan điểm chính thống của sử gia nhà Thanh, trước sau cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc đều bị coi là phản nghịch, là “giặc để tóc”, “phỉ họ Hồng”. Cho đến tận đầu thế kỷ 20, khi tư tưởng phương Tây ngày càng được các tầng lớp trí thức Trung Quốc tiếp thu rộng rãi hơn, cuộc cách mạng Tư sản ở Trung Hoa ngày càng lớn mạnh hơn, cùng với đó là tinh thần dân tộc, chủ nghĩa dân tộc ngày càng lên cao, đặc biệt trong bối cảnh chống lại chủ nghĩa thực dân phương tây, thì các nhà trí thức tiến bộ mới ngày càng quan tâm, đánh giá lại, nhìn nhận lại đối với cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. Và một trong số họ chính là Hoàng Tiểu Phối với tác phẩm “Thái Bình Thiên Quốc diễn nghĩa”.


Được viết theo lối chương hồi cổ điển, qua 54 hồi của tiểu thuyết “Thái Bình Thiên Quốc diễn nghĩa” Hoàng Tiểu Phối đã dẫn dắt người đọc lần lượt đi theo từng bước phát triển của phong trào Thái Bình Thiên Quốc, qua từng trận đánh oanh liệt đẫm máu, với những con số thương vong ở mỗi trận chiến khiến độc giả phải kinh tâm động phách. Cùng với đó, mỗi nhân vật với tính cách, số phận, khác nhau cũng được ông mô tả và kể lại một cách sống động và đầy màu sắc: một Hồng Tú Toàn với tinh thần dân tộc và ý chí lớn lao, một Tiền Giang, Phùng Vân Sơn đầy mưu lược trí tuệ, một Thạch Đạt Khai, Lý Tú Thành anh hùng, hào sảng, một Lâm Phượng Tường, Trần Ngọc Thành dung mãnh, thiện chiến … Vi Xương Huy thẳng thắn, nóng nảy, mà trung trinh son sắt khiến ta phải nhớ đến Trương Phi thủa trước. Dương Tú Thanh tham lam, ngạo mạn, vị kỷ thì lại lạ lạ quen quen, ngỡ đã thấy trong lịch sử mà chẳng giống một nhân vật cụ thể nào.

Là một người sống cách chưa xa thời gian mà cuộc khởi nghĩa nổ ra, lại được gặp gỡ hỏi han những người từng trực tiếp tham gia phong trào ấy, rõ ràng Hoàng Tiểu Phối cho chúng ta thấy được độ tin cậy và chính xác nhất định của câu chuyện Thái Bình Thiên Quốc. Song, là một người theo chủ nghĩa dân tộc, với mục đích khích lệ tinh thần dân tộc ở thời điểm sáng tác tác phẩm, chúng ta có thể thấy rõ sự ủng hộ khen ngợi của ông đối với Thái Bình Thiên Quốc và những lãnh đạo của phong trào, cũng như sự phê bình đôi khi thái quá, đối với những nhân vật, những quan viên triều đình đã đàn áp, dẹp yên cuộc khởi nghĩa, như: Tăng Quốc Phiên, Hồ Lâm Dực, Bành Ngọc Lân, Tả Tông Đường … Đó chính là điểm hạn chế của tác giả cũng như tác phẩm này. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, ta vẫn có thể thấy Hoàng Tiểu Phối cũng rất công tâm khi dành nhiều khen ngợi cho những quan viên trung nghĩa của nhà Thanh, những người đã gan dạ giữ thành, bảo vệ dân chúng, thà chết không hàng. Đó cũng chính là tấm lòng quang minh lỗi lạc mà một người viết tiểu thuyết lịch sử cần phải có, là điều mà những người cầm bút ngày nay học tập được từ Hoàng Tiểu Phối.     

Và trên tất cả, có thể nói, vào thời điểm hơn mười năm trước khi phong trào “Ngũ Tứ” nổ ra dẫn đến sự thay đổi trong sáng tác tiểu thuyết, thì “Thái Bình Thiên Quốc diễn nghĩa” của Hoàng Tiểu Phối đã đạt đến một mặt bằng cao nhất của loại hình tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi lúc bấy giờ.

Hà Nội, những ngày tháng Tám, 2021

Châu Hải Đường

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2023

Ngẫu Hoa (trích "Dạ Đàm Tùy Lục" của Hòa Bang Ngạch)

     Tống Văn Học, người Thương Khâu, ngụ cư ở Dư Hàng (tức Hàng Châu), mượn một chỗ ở bên bờ Tây Hồ làm chỗ ở. Chỗ ấy,  ngoài tường dây tiết lệ bò đầy, trên đất rêu xanh mịn như nhung, thực là một chỗ vô cùng u tĩnh, thanh vắng. Cửa tre đối diện mặt hồ, khoảng cuối hạ đầu thu, trên hồ nhiều hoa sen nhất. Tống sinh bản tính thích hoa sen, viết đến một trăm bài thơ ngâm vịnh hoa sen.

    Đương buổi mùa hè, chàng đứng tựa cửa dõi mắt nhìn tít đằng xa, trông thấy có hai thiếu nữ, bơi một chiếc thuyền nhỏ đi hái hoa sen. Một nàng mặc áo hồng, một nàng mặc áo tía, dáng vẻ dung nhan đều rất xinh đẹp, nàng áo hồng lại càng đẹp hơn hẳn. Đến hôm sau, hai người lại đến, đại khái chiều thì đến, gần tối mới đi, mấy ngày liền đều như vậy. Tống ban đầu không dám hỏi, về sau vì họ thường xuyên đến, bèn dần dà quen biết với nhau. Tống hỏi họ rằng: “Bơi thuyền cũng có khi nguy hiểm, hơn nữa hái sen lại chẳng phải việc gấp, làm sao hai người lại không ngại phiền hà, mà ngày nào cũng đi thế?” Thiếu nữ cười không đáp. Tống lại đem lời nói mà trêu bỡn rằng: “Tệ xá của tôi cũng ở gần đây, mời hai nàng đến uống chén trà có được chăng?” Nàng áo hồng không đáp, chỉ chăm chú giục đẩy sào xoay mũi thuyền đi. Nhưng nàng áo tía lại dừng thuyền cho ghé vào bờ, nói: “Chàng ta đã cố muốn làm chủ mời, thì cứ đến xem, xem chàng ta đem cái gì ra mời khách đây.” Tống vô cùng vui mừng, tưởng muốn nhảy lên, mà dẫn đường cho hai người về chỗ mình.

    Tống vốn sống một mình ở đó, cùng với một người đầy tớ. Trông thấy hai thiếu nữ, đầy tớ vừa hoài nghi, vừa ngạc nhiên, nói: “Cậu tìm đâu ra hai mỹ nhân đẹp đến dường này?” Tống dối bảo: “Đây là chị em trong nhà, đến đây thăm ta, muôn vàn chớ tiết lộ cho người ngoài biết, lại phải thù tiếp phiền hà.” Người đầy tớ vâng lời, chỉ lo xuống bếp làm cơm, không còn hơi đâu lo chuyện khác nữa. Hai thiếu nữ nhìn nhau cả cười, nàng áo tía nói: “Ai bảo chàng mọt sách này thật thà. Thuận miệng cũng có thể bày chuyện dối trá được ngay, đến nghĩ cũng chẳng cần nghĩ nhiều nữa.” Tống cũng cười. Từ đó trở đi cùng đối đãi với nhau rất thân mật. Tống hỏi tên họ và nơi ở của hai người, nàng áo hồng nói: “Thiếp tên là Ngẫu Hoa, tỳ nữ tên là Lăng Hoa, nhà ở trên hồ cách đây không xa, là người vùng này.” Tối ấy, Tống liền giữ họ cùng ngủ lại.

    Sáng sớm hôm sau, khi gà vừa mới gáy, Ngẫu Hoa đã đòi từ biệt. Tống muốn giữ lại, Ngẫu Hoa buồn rầu hồi lâu, rồi mới nói với Tống: “Đội ơn chàng nhã ái, sao có thể nhẫn tâm chốc lát rồi chia tay, chỉ là tình thế bức bách, không thể không chia tay. Thiếp biết chàng vốn là người thông đạt, nhất định sẽ không trách cứ, vậy xin để thiếp nói thật cho chàng biết, thiếp vốn chẳng phải là người, mà là hoa yêu. Nếu như chàng không chê, xin đến trên hồ, trông thấy trong đám hoa sen có một bông đặc biệt tươi hồng đẹp đẽ, ở phía dưới nó lại có một đám hoa ấu, thì có thể cùng dời hết về đây, chớ có làm tổn thương một chút rễ lá nào, đem chúng trồng vào trong bồn, lấy nước hồ mà nuôi dưỡng, không được cho chó mèo quấy nhiễu, không được cho khách xấu tiếp xúc, như vậy thì thiếp với Lăng Hoa sẽ có thể sớm tối được ở bên chàng vậy.” Tống vừa kinh ngạc vừa vui mừng, thầm ghi nhớ thật kỹ, rồi mới cho nàng đi.

    Mặt trời vừa mọc, Tống bơi một chiếc thuyền nhỏ, đi ra hồ sen tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng quả nhiên phát hiện có một gốc sen bông đỏ như ráng sớm, hương ngát hơn xạ hương, cũng lớn gấp đôi những bông hoa thông thường. Lại xem xét dưới đóa hoa, thấy có một bụi hoa ấu cũng lớn hơn hẳn so với loại thông thường. Tống bèn đem số tiền hậu hĩnh nhờ ngư phủ đánh cả sen lẫn ấu cùng bùn rễ mang về nhà, trồng vào trong cái vại lớn. Từ đó Tống bèn đóng cửa, không tiếp khách, cả ngày nằm ngồi bên cạnh hoa. Qua ba ngày, vẫn không thấy hai thiếu nữ đến, Tống thấy vô cùng hoài nghi, lo lắng nghĩ ngợi, suy tư rối bời. Đến ngày thứ tư, Tống buồn bực trong người, đang nằm ngủ trưa, bỗng nhiên cảm thấy như có tiếng váy chùng quết đất, mở mắt ra nhìn, thì hai người thiếu nữ đã đến bên giường của chàng rồi. Ba người gặp nhau ngạc nhiên mừng rỡ. Ngẫu Hoa nói: “Đội ơn chàng tận tình chăm sóc, trong lòng thiếp cảm động vô cùng. Chỉ có điều bọn thiếp tư chất yếu ớt, không chịu nổi lao khổ, cho nên mới nghỉ ngơi mấy ngày, không thể động đậy được, khiến cho chàng phải buồn lo, thực không an lòng.” Tống nói: “Chỉ cần có thể thường xuyên gặp gỡ, thì ngại chi tạm không được gặp nhau. Học trò nghèo mấy năm nay bần hàn vô cùng, cũng ít có khi vui. Đến nay có thể cùng hai nàng làm bạn, thì dù có chết cũng vừa lòng thỏa ý rồi.” Ngẫu Hoa nói: “Thành tâm của chàng, thiếp thật không thể phụ được. Chỉ cần có thể giữ được trọn đời không thay lòng, thì thiếp an tâm rồi. Chúng thiếp đến đây tuy rằng đã làm bại hoại thanh danh, nhưng thực cũng không uổng phụ đời này. Huống chi danh chỉ là khách so với thực. Đời người chỉ như bong bóng nổi trên mặt nước, khoảnh khắc rồi tan biến, nếu không kịp thời sống cho vui vẻ, thì dù cho có sống một trăm năm, cũng có khác chi con phù du, cây nấm sớm. Như chị em thiếp, rời khỏi muôn khoảnh sóng biếc, mà đến nơi chỉ có một muôi nước này, rời khỏi nước hồ sâu thẳm, mà đến chỗ cái ang nông choèn này, chẳng phải thiếp không biết giờ đây chẳng khác gì cá bơi lội trong chậu, yến làm tổ trong màn, hai đằng an nguy thọ yểu khác nhau một trời một vực. Chỉ vì một điều sống đơn độc một mình chẳng bằng chết có đôi có lứa vậy.” Bèn viết một bài thơ tặng Tống rằng:

“Thiều quang búng tay dễ cạn;

Nắng mai chớp mắt lại hun,

Từ nay chiều chiều sớm sớm;

Nhớ chàng nào ngại nước non.”

Từ đó, ba người như hình với bóng. Hai người con gái rất thương yêu nhau, quần áo giày tất đều đổi nhau mà mặc, không phân của ai với ai.

(Hoa Sen - Tranh của Phan Thiên Thọ)

Một hôm, Tống ra ngoài chơi, có hai người bạn đến thăm không gặp, trông thấy hoa ấu trong ang đẹp đẽ lạ lùng, bèn hái cầm đi. Đến tối, Tống về nhà, Ngẫu Hoa khóc lóc kể lại chuyện Lăng Hoa đã bị thương như thế nào, lại nói: “Nếu chàng không thương cô ấy, cứu cô ấy, thì thiếp sao có thể nhẫn tâm tiếp tục sống một mình được?” Tống đau buồn vô hạn, hỏi: “Có cách gì để cứu cô ấy?” Ngẫu Hoa nói: “Chỉ cần bồi đắp chăm sóc lại gốc rễ của cô ấy, rồi sáng sớm hàng ngày giúp cô ấy niệm Quan Âm chú chín mươi chín lần, thì ngày này năm sau, cô ấy sẽ có thể tái sinh được.” Tống bèn theo đúng lời chỉ bảo của Ngẫu Hoa, thành tâm niệm chú, thi thoảng lại lấy bùn dưới hồ về bồi đắp cho, ngày đêm không nghỉ. Đến năm sau hoa quả nhiên lại sống lại, Lăng Hoa cũng bỗng nhiên xuất hiện, tuy thấy có gầy đi đôi chút, nhưng dáng vẻ lại càng thêm xinh đẹp. Ba người gặp nhau mừng mừng tủi tủi, ai nấy đều kể lể tình ly biệt, nói mãi không thôi. Tống từ sau khi được hai Hoa, càng ngày càng thấy thần khí trong sáng, sách vở chỉ cần đọc một lần, liền có thể thuộc làu làu.

Lại quá một năm nữa, giữa đông tuyết lạnh, trong ang nước đóng thành băng, chỉ trong một đêm đều đã đông cứng, hai thiếu nữ liền không thấy đến nữa. Tống một mình lạnh lẽo, tối tối đều không thể ngủ được, nước mắt ướt đầm cả chăn chiếu. Vì thế ngày nào chàng cũng ngồi trước ang hoa, lặng lẽ cầu khấn. Không lâu sau, xuân hết hè sang, Ngẫu Hoa bỗng nhiên một mình đến nơi, nhưng dung nhan rất tiều tụy, vẻ vô cùng đau khổ. Tống ôm lấy nàng cho ngồi lên đùi mình, lau nước mắt vuốt tóc cho nàng, rồi hỏi: “Làm sao nàng gầy yếu đến thế này? Lăng Hoa ở đâu, sao không cùng đến đây với nàng?” Ngẫu Hoa rơi nước mắt nói: “Chàng vẫn còn nhớ đến Lăng Hoa muội muội ư? Lăng Hoa đã thành ma chết rét từ mùa đông năm ngoái rồi. Thiếp cũng không chịu nổi lạnh lẽo, tuy không chết, nhưng cũng chỉ thoi thóp, không lâu nữa cũng sẽ phải từ biệt nhân gian, vĩnh biệt với chàng rồi.” Tống đau đớn đến tưởng ngất đi, không thôi thương nhớ Lăng Hoa, may mà còn có Ngẫu Hoa ở bên, nên không đến nỗi đau buồn mà chết. Nhưng Ngẫu Hoa càng ngày càng gầy yếu, khiến Tống vô cùng lo lắng. Lại cho mời cả thày lang đến thuốc thang chữa trị. Thày lang vừa thấy Ngẫu Hoa xinh đẹp như vậy đã như kẻ mất hồn, đến lúc bắt mạch lại thấy không giống như mọi người, bèn kê bừa một toa thuốc cho. Tên thày lang ghi nhớ kỹ lấy địa chỉ, rồi ngày nào cũng đến trước cửa chờ đợi, hy vọng có thể được gặp lại nàng.

Vừa hay gặp buổi Tống đi vắng, chiều hôm ấy, thày lang rình trộm, thấy Ngẫu Hoa ra bờ hồ dạo chơi, phong tư yểu điệu như đua khoe vẻ đẹp với hoa sen trên hồ. Gã thày lang không nhịn nổi thêm được nữa, xông tới ôm chặt lấy Ngẫu Hoa. Ngẫu Hoa giật mình vùng chạy trốn, tung người nhảy xuống dưới hồ. Thày lang hoảng hồn vội túm lấy chân nàng giữ lại, thì bỗng nhiên rắc một tiếng cái chân đứt gãy ra, nhìn lại thì hóa ra một đoạn ngó sen. Khi ấy thày lang mới biết đó là yêu vật biến hóa, bèn vội vàng chạy đến nói cho Tống biết. Tống vô cùng oán hận, chạy đến bên hồ khóc ròng, hận thày lang đa sự, muốn kiện lên quan. Nhưng người đầy tớ khuyên rằng: “Rõ ràng là yêu vật, dù cho có lên đến quan phủ thì chúng ta cũng làm sao có lý được?” Tống nghe vậy mới không báo quan nữa. Ngày hôm sau, chàng lại ra giữa hồ than khóc, trông thấy có một đóa hoa sen trôi trên mặt nước, vẫn còn dính theo đoạn ngó gãy. Tống đau đớn khóc váng rồi đem đoạn ngó gãy về nhà, trồng lại vào ang nước, cách một đêm thì nó héo chết. Tống chỉ còn cách sắp sửa áo quan cùng các vật khâm liệm, an táng Ngẫu Hoa ở trên bờ hồ, lại viết một bài “Phù Dung từ” để tế nàng. Không lâu sau thì Tống gọt tóc làm tăng, vân du bốn phương không biết kết cục ra sao.

(Trích "Dạ Đàm Tùy Lục" của Hòa Bang Ngạch, CHĐ dịch, Nhã Nam và NXB Văn học 2018)

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2023

CHUYỆN ẾCH - Tản văn của Giả Bình Ao

Muôn vật trên đời này đều chia ra âm dương, loài ếch thuộc về dương, nó từ dưới nước đi lên. Đầu tiên là ở dưới ao chuôm hay kênh rạch có một đám dính nhơm nhớp nổi lên, bên trong có những cái đốm đen. Những đốm đen ấy lớn dần lên, mọc ra một cái đuôi, bèn bơi theo lũ cá. Nó nghĩ rằng nó cũng là cá, cứ bơi, cứ bơi, rồi một ngày nó bơi rụng cả đuôi, từ dưới nước trèo lên trên bờ.

Có loài vật luôn nghi hoặc về xuất thân của mình: một loài là bươm bướm, nó vốn chỉ bò trên mặt đất, làm sao lại bay vút được lên không trung? Một loài là ếch, vì sao nó vừa có thể ở dưới nước, lại có thể ở trên cạn? Bươm bướm không thốt một lời, cả đời đi tìm kiếm xem bông hoa nào là kiếp trước của nó. Còn ếch thì chỉ biết kinh ngạc kêu lên: Ộp! Ộp! Ộp! Tiếng kêu ấy đã thành cái tên "ếch ộp" của nó. 

Ếch là con vật mà người ta trước nay chưa từng thuần dưỡng, nhưng lại chưa từng rời xa khỏi con người. Nó và chim én cùng xưa cũ như nhau, nhưng chim én là loài vật báo tin xuân, được ở thoải mái trên mi cửa hay trên xà nhà của người ta. Còn ếch thì vĩnh viễn ở bên bờ nước hay ngoài đồng nội, chăm chú vào việc ăn, ăn cho lớn căng tròn cái bụng lên, thì lại sinh sản.

Khoảng cách giữa hai con mắt của ếch rất rộng, tựa hồ có con mắt mọc ngay trước trán, có con mắt lại mọc ở hai bên trán, vừa to vừa tròn, không khép mi. Tiếng kêu kinh ngạc lúc nó vừa sinh ra, về sau có thể vì trông thấy quá nhiều những chuyện xấu xa và những điều chẳng lành ở dưới ao ngòi hay trên mặt đất, tiếng kêu kinh ngạc ấy bèn trở thành chất vấn, rồi tiến triển thành thổ lộ, rồi suốt ngày đêm ộp oạp không nghỉ. Càng chất vấn lại càng thổ lộ, nảy sinh ra tức giận và chí khí, dưới cổ nó liền có một cái túi khí lớn. Thời Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn bị nước Ngô đánh bại, khi được tha cho về, trên đường đi trông thấy một con ếch, bèn xuống xe kính cẩn vái chào, nói: “Nó cũng là kẻ có chí khí chăng?” Rồi lập chí rửa nhục, sửa đức rèn quân, cuối cùng trở thành một trong ngũ bá đời Xuân Thu.

(Ếch - Tranh của Tề Bạch Thạch)

Dùng từ đồng âm là một kiểu tư duy độc đáo riêng có của dân gian Trung Quốc: từ con dơi có thể liên tưởng đến Phúc; từ “có cá” có thể liên tưởng đến “có dư”, thậm chí trong rất nhiều đồ án của các loại hình nghệ thuật như thêu thùa, cắt giấy, khắc đá, hình tượng của Nữ Oa được thể hiện bằng một con ếch[1]. Trong tên tôi có một chữ Ao, tôi cũng là đồng âm với chữ Oa là ếch, nên rất thích ếch, vì thế trong nhà tôi sưu tầm đủ các kiểu, các loại ếch: ếch đá, ếch nước, ếch gốm, ếch ngọc, ếch sứ … Đến khi sưu tầm được càng ngày càng nhiều rồi, thì tôi phát hiện bắp chân mình cũng nhỏ đi, còn bụng thì ngày một dần to tròn lên. Tôi đùa rằng mình cũng đã biến thành một con ếch rồi, một con ếch biết viết lách.

Có lẽ tiếng ếch kêu hơi nhiều một chút, nên tiếng kêu ấy giúp một số người nghe xong thì thấy thư thái, nhưng cũng khiến một số người nghe xong lại thấy ớn lạnh. Mao Trạch Đông từng viết một bài thơ về ếch rằng: “Bên ao độc tọa tựa hùm ngồi; Di dưỡng tinh thần dưới bóng cây. Xuân đến tớ còn chưa cất tiếng; Côn trùng nào dám thốt lên lời?” Nhưng cũng có lúc ếch không kêu, nếu nó không kêu, thì thế giới này mới trống vắng và đáng sợ. Tôi từng thấy ở làng quê tỉnh Quảng Tây người ta dùng ếch để chống trộm: họ bỏ ếch vào những cái hũ sành có đục lỗ thủng, để ở bốn góc sân. Đến tối, chủ nhân cứ việc yên giấc trong tiếng ếch kêu. Nếu đột nhiên không thấy tiếng ếch kêu nữa, chủ nhân liền vội vã chạy ra kiểm tra, ắt quả nhiên có trộm lẻn vào sân rồi.

Tuy có câu chuyện đồng thoại về Hoàng tử ếch, nhưng cũng có câu chuyện cười “cóc ghẻ đòi ăn thịt thiên nga”. Ếch thực sự là có bộ dạng xấu xí, mắt lồi, miệng rộng, hơn nữa lại còn chân ngắn tay ngắn, di chuyển bằng cách nhảy, nhảy một cái lại xa một chút, nhảy một cái lại xa một chút. Nhưng tôi cuối cùng cũng đã đọc được trong một cuốn sách cổ, trong đó có viết rằng: thiềm thừ, cóc ghẻ đều là một cách gọi khác của ếch, lại còn viết tên của Hằng Nga vốn là “Hằng Ngã”[2], rằng: “Xưa, Hằng Ngã lấy trộm thuốc bất tử của Tây Vương mẫu uống rồi chạy lên mặt trăng. Trước khi chạy đi, đến chỗ họ Hữu Hoàng để bói. Hữu Hoàng xem xong, bảo: Quẻ tốt. Cô em hối hả, một mình sang tây. Gặp trời tối tăm, chớ kinh chớ sợ, sau sẽ đại cát!” Hằng Ngã bèn thác thân lên mặt trăng, làm con Thiềm thừ.

A ha! Ếch là do mỹ nhân hóa thành, nó mãi trường sinh, nó là mặt trăng trong đêm tối. 

     Châu Hải Đường dịch

(Theo “Tinh tuyển Tản văn Trung Quốc 2020”)

                       



[1] Con dơi, tiếng Trung Quốc gọi là “biển bức”, chữ “bức” đồng âm với “phúc”. “Có cá” tức “hữu ngư” đồng âm với “hữu dư”. Ếch tiếng Trung Quốc đọc là Oa, đồng âm với tên Nữ Oa.

[2] Hằng Ngã: nghĩa là ta còn mãi mãi. Vì uống thuốc trường sinh nên nói như vậy.